Tìm kiếm Giáo án
Bài 5. Kí hiệu bản đồ. Cách biểu hiện địa hình trên bản đồ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Nguyễn Châu Giang
Người gửi: Lê Thanh Long (trang riêng)
Ngày gửi: 06h:45' 07-10-2010
Dung lượng: 32.5 KB
Số lượt tải: 11
Nguồn: Nguyễn Châu Giang
Người gửi: Lê Thanh Long (trang riêng)
Ngày gửi: 06h:45' 07-10-2010
Dung lượng: 32.5 KB
Số lượt tải: 11
Số lượt thích:
0 người
Bài 5
HỆ THỐNG KÍ HIỆU TRÊN BẢN ĐỒ
Hệ thống kí hiệu trên bản đồ là phương tiện đặc biệt biểu hiện toàn bộ hay những khía cạnh nhất định của các hiện tượng địa lí. Hệ thống kí hiệu trên bản đồ đuợc xây dựng một cách khoa học, đã tạo nên một ngôn ngữ đặc biệt – đó là ngôn ngữ bản đồ. Ngôn ngữ bản đồ giúp cho người biên vẽ thành lập được bản đồ và giúp cho người đọc sử dụng được bản đồ theo đúng mục đích và nội dung của nó.
Hệ thống kí hiệu có tính chất quy ước và được biểu hiện dưới hình thức khác nhau. Song việc xây dựng hệ thống kí hiệu này phải dựa trên thực tế khách quan và những nguyên tắc khoa học nhất định.
I Hệ thống kí hiệu trên bản đồ th-ờng chia thành ba loại : Kí hiệu điểm, kí hiệu đường (tuyến) và kí hiệu diện tích
1. Kí hiệu điểm : Dùng để biểu hiện những sự vật, hiện tượng địa lí phân bố theo những điểm riêng biệt (như cột mốc địa giới, một mỏ khoáng sản, 1 ngọn hải đăng v v…). Đó là những đối tượng có diện tích nhỏ khi biểu hiện trên bản đồ không thể biểu hiện trên đường viền của chúng. Loại kí hiệu này được dùng để xác định vị trí của sự vật, hiện tượng là chính, do các đối tượng địa lí có diện tích quá nhỏ nên không thể biểu hiện theo tỉ lệ bản đồ được. Đây là kí hiệu phi tỉ lệ, vị trí của sự vật, hiện tượng địa lí thường là tâm của kí hiệu hình học.
2. Kí hiệu đường (tuyến) : Dùng để biểu hiện các sự vật, hiện tuợng địa lí phân bố theo chiều dài là chính như : đường địa giới, đường bờ biển, đường giao thông, sông ngòi … Kí hiệu tuyến cho phép thể hiện chiều dài dúng với tỉ lệ bản đồ và thể hiện được dạng của đối tượng địa lí. Còn chiều rộng của kí hiệu, thường phải vẽ phi tỉ lệ mới thể hiện được rõ đối tượng.
Dạng đặc biệt của loại kí hiệu này là các đường đẳng trị, như các đường đồng mức, đường đẳng nhiệt, đường đẳng sâu…
3. Kí hiệu diện tích : Dùng để biểu hiện các sự vật, hiện tượng địa lí phân bố theo diện tích như : đất trồng, rừng, đầm lầy, vùng trồng lúa… Toàn bộ diện tích có các đối tượng địa lí được vẽ theo tỉ lệ bản đồ và giới hạn bởi đường biên ngoài của nó bằng những nét vẽ đứt hay những nét vẽ liền. Trong khu vực đó có thể biểu thị bằng các kí hiệu tượng hình, hay tô màu… Như vậy, kí hiệu diện tích không chỉ thể hiện vị trí, diện tích của các sự vật, hiện tượng mà còn thể hiện được chất lượng của sự vật, hiện tượng địa lí nữa.
II. Các dạng kí hiệu bản đồ
1. Kí hiệu tượng hình : Là hình vẽ gần đúng một bộ phận hay toàn bộ hình dạng bên ngoài của sự vật, hiện tượng. Loại kí hiệu này thể hiện một cách sinh động các sự vật, hiện tượng địa lí, giúp người đọc dễ nhận ra sự phân bố không gian của các đối tượng thể hiện. Hạn chế của kí hiệu tượng hình là khó so sánh và khó xác định vị trí chính xác của đối tượng.
2. Kí hiệu chữ : Dùng chữ cái hoặc các chữ viết tắt tên các sự vật, hiện tượng để biểu hiện các sự vật, hiện tượng địa lí trên bản đồ. Dạng kí hiệu này thường dùng thể hiện sự phân bố của các mỏ khoáng sản, ví dụ : Fe – mỏ sắt, Cu – mỏ đồng, Al – mỏ nhôm. Kí hiệu chữ không thể hiện đuợc chính xác vị trí các đối tượng thể hiện, hơn nữa việc so sánh độ lớn của các kí hiệu này rất khó khăn.
3. Kí hiệu hình học : Dùng các hình hình học (hình vuông, hình tròn, hình tam giác…) để thể hiện các đối tượng địa lí. Dạng kí hiệu này phản ánh chính xác vị trí các đối tượng, thể hiện các yếu tố nội dung lớn, nhỏ, sử dụng màu sắc và cấu trúc bên trong khác nhau cho các kí hiệu.
Hệ thống kí hiệu bản đồ còn bao gồm màu sắc, chữ viết trên bản đồ, nên rất phong phú, đa dạng, thể hiện vị trí, số lượng, thể hiện những đặc tính chất lượng của sự vật, hiện tượng địa lí.
HỆ THỐNG KÍ HIỆU TRÊN BẢN ĐỒ
Hệ thống kí hiệu trên bản đồ là phương tiện đặc biệt biểu hiện toàn bộ hay những khía cạnh nhất định của các hiện tượng địa lí. Hệ thống kí hiệu trên bản đồ đuợc xây dựng một cách khoa học, đã tạo nên một ngôn ngữ đặc biệt – đó là ngôn ngữ bản đồ. Ngôn ngữ bản đồ giúp cho người biên vẽ thành lập được bản đồ và giúp cho người đọc sử dụng được bản đồ theo đúng mục đích và nội dung của nó.
Hệ thống kí hiệu có tính chất quy ước và được biểu hiện dưới hình thức khác nhau. Song việc xây dựng hệ thống kí hiệu này phải dựa trên thực tế khách quan và những nguyên tắc khoa học nhất định.
I Hệ thống kí hiệu trên bản đồ th-ờng chia thành ba loại : Kí hiệu điểm, kí hiệu đường (tuyến) và kí hiệu diện tích
1. Kí hiệu điểm : Dùng để biểu hiện những sự vật, hiện tượng địa lí phân bố theo những điểm riêng biệt (như cột mốc địa giới, một mỏ khoáng sản, 1 ngọn hải đăng v v…). Đó là những đối tượng có diện tích nhỏ khi biểu hiện trên bản đồ không thể biểu hiện trên đường viền của chúng. Loại kí hiệu này được dùng để xác định vị trí của sự vật, hiện tượng là chính, do các đối tượng địa lí có diện tích quá nhỏ nên không thể biểu hiện theo tỉ lệ bản đồ được. Đây là kí hiệu phi tỉ lệ, vị trí của sự vật, hiện tượng địa lí thường là tâm của kí hiệu hình học.
2. Kí hiệu đường (tuyến) : Dùng để biểu hiện các sự vật, hiện tuợng địa lí phân bố theo chiều dài là chính như : đường địa giới, đường bờ biển, đường giao thông, sông ngòi … Kí hiệu tuyến cho phép thể hiện chiều dài dúng với tỉ lệ bản đồ và thể hiện được dạng của đối tượng địa lí. Còn chiều rộng của kí hiệu, thường phải vẽ phi tỉ lệ mới thể hiện được rõ đối tượng.
Dạng đặc biệt của loại kí hiệu này là các đường đẳng trị, như các đường đồng mức, đường đẳng nhiệt, đường đẳng sâu…
3. Kí hiệu diện tích : Dùng để biểu hiện các sự vật, hiện tượng địa lí phân bố theo diện tích như : đất trồng, rừng, đầm lầy, vùng trồng lúa… Toàn bộ diện tích có các đối tượng địa lí được vẽ theo tỉ lệ bản đồ và giới hạn bởi đường biên ngoài của nó bằng những nét vẽ đứt hay những nét vẽ liền. Trong khu vực đó có thể biểu thị bằng các kí hiệu tượng hình, hay tô màu… Như vậy, kí hiệu diện tích không chỉ thể hiện vị trí, diện tích của các sự vật, hiện tượng mà còn thể hiện được chất lượng của sự vật, hiện tượng địa lí nữa.
II. Các dạng kí hiệu bản đồ
1. Kí hiệu tượng hình : Là hình vẽ gần đúng một bộ phận hay toàn bộ hình dạng bên ngoài của sự vật, hiện tượng. Loại kí hiệu này thể hiện một cách sinh động các sự vật, hiện tượng địa lí, giúp người đọc dễ nhận ra sự phân bố không gian của các đối tượng thể hiện. Hạn chế của kí hiệu tượng hình là khó so sánh và khó xác định vị trí chính xác của đối tượng.
2. Kí hiệu chữ : Dùng chữ cái hoặc các chữ viết tắt tên các sự vật, hiện tượng để biểu hiện các sự vật, hiện tượng địa lí trên bản đồ. Dạng kí hiệu này thường dùng thể hiện sự phân bố của các mỏ khoáng sản, ví dụ : Fe – mỏ sắt, Cu – mỏ đồng, Al – mỏ nhôm. Kí hiệu chữ không thể hiện đuợc chính xác vị trí các đối tượng thể hiện, hơn nữa việc so sánh độ lớn của các kí hiệu này rất khó khăn.
3. Kí hiệu hình học : Dùng các hình hình học (hình vuông, hình tròn, hình tam giác…) để thể hiện các đối tượng địa lí. Dạng kí hiệu này phản ánh chính xác vị trí các đối tượng, thể hiện các yếu tố nội dung lớn, nhỏ, sử dụng màu sắc và cấu trúc bên trong khác nhau cho các kí hiệu.
Hệ thống kí hiệu bản đồ còn bao gồm màu sắc, chữ viết trên bản đồ, nên rất phong phú, đa dạng, thể hiện vị trí, số lượng, thể hiện những đặc tính chất lượng của sự vật, hiện tượng địa lí.
 









Các ý kiến mới nhất