An toàn điện

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Đinh Tiến Dũng
Ngày gửi: 21h:50' 28-05-2008
Dung lượng: 140.5 KB
Số lượt tải: 71
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Đinh Tiến Dũng
Ngày gửi: 21h:50' 28-05-2008
Dung lượng: 140.5 KB
Số lượt tải: 71
Số lượt thích:
0 người
Chương I : AN TOÀN ĐIỆN - SỬ DỤNG DỤNG ĐỒ NGHỀ - DỤNG CỤ ĐO LƯỜNG ĐIỆN.
Bài 1 : An toàn lao động
I ./ Mục đích ý nghĩa của công tác bảo hộ lao động
1. Mục đích:
Mục đích của công tác bảo hộ lao động là thông qua các biện pháp về khoa học kỹ thuật, tổ chức, kinh tế, xã hội để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất, tạo nên một điều kiện lao động thuận lợi và ngày càng được cải thiện tốt hơn, ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hạn chế ốm đau và giảm sức khỏe cũng như những thiệt hại khác đối với người lao động, nhằm bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khỏe và tính mạng người lao động, trực tiếp góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động.
2./ Ý nghĩa:
Gồm có 3 ý nghĩa sau:
a. Ảnh hưởng của điều kiện lao động:
Điều kiện lao động gồm:
- Môi trường lao động: Đặc trưng của "lao động lành mạnh" trên quan điểm về tâm lý học:
- An toàn chỗ làm việc và nghề nghiệp.
- Vùng xung quanh an toàn.
Không chịu tải đơn điệu
Ví dụ: luôn ngồi hay luôn đứng.
- Người lao động tự đánh giá được ý nghĩa và chất lượng lao động của mình.
- Giúp đỡ lẫn nhau trong lao động.
- Khắc phục được những xung đột và sốc.
- Cân bằng giữa cống hiến và hưởng thụ.
- Cân bằng giữa lao động và thời gian nghỉ.
* Theo Wallenstein sự biểu hiện của căn bệnh này là:
- Viêm mũi (tắc, sưng, tấy).
- Đau mắt (ngứa, mắt đỏ, sưng tấy).
- Đau mồm (khô, sưng tấy, khản cổ).
- Viêm da (khô, sưng tấy, ửng đỏ).
- Những chịu chứng chung (đau đầu, mệt mỏi, choáng váng, không tập trung).
b. Thể hiện của sự chịu tải và sự căng thẳng:
Tác động của sự chịu tải trong lao động dẫn đến sự căng thẳng trong lao động. Kết quả của nó có thể tích cực hay tiêu cực. Kết quả tích cực là tạo ra năng suất lao động; con người sẽ được rèn luyện, trưởng thành, có nhiều kinh nghiệm hơn; nhận thức đúng đắn về cuộc sống và lao động, có thu nhập cao hơn để cải thiện cuộc sống.
Mặt tiêu cực của nó là sự đảo ngược. Nó có thể làm giảm năng suất lao động. Khi yêu cầu vượt quá giới hạn cho phép nào đó sẽ gây ra căng thẳng trong lao động, sẽ dẫn đến mệt mỏi về tâm lý; buồn chán, bão hòa tâm lý, sốc.
Trong điều kiện lao động cụ thể, bao giờ cũng xuất hiện các yếu tố vật chất có ảnh hưởng xấu, nguy hiểm, có nguy cơ gây tai nạn hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động, gọi đó là các yếu tố nguy hiểm và có hại. Cụ thể là:
Các yếu tố vật lý như nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn, rung động, các bức xạ có hại, bụi.
Các yếu tố hóa học như các chất độc các loại hơi, khí, bụi độc, các chất phóng xạ.
Các yếu tố sinh vật, vi sinh vật như các lọai vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng, côn trùng, rắn.
Các yếu tố bất lợi về tư thế lao động, không tiện nghi do không gian chỗ làm việc, nhà xưởng chật hẹp, mất vệ sinh. Các yếu tố tâm lý không thuận lợi.
Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra trong quá trình lao động, do tác động đột ngột từ bên ngoài, làm chết người hay làm tổn thương, hoặc phá hủy chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận nào đó của cơ thể.
Khi bị nhiễm độc đột ngột thì gọi là nhiễm độc cấp tính, có thể gây chết người ngay tức khắc hoặc hủy hoại chức năng nào đó của cơ thể thì cũng được gọi là tai nạn lao động.
Bệnh nghề nghiệp là sự suy yếu dần sức khỏe của người lao động gây nên bệnh tật do tác động của các yếu tố có hại phát sinh trong quá trình lao động trên cơ thể người lao động.
Phạm vi thực tiễn của khoa học lao động là:
+ Bảo hộ lao động là những biện pháp phòng tránh hay xóa bỏ những nguy hiểm cho con người trong quá trình lao động.
+ Kinh tế lao động là những biện pháp để khai thác và đánh giá năng suất về phương diện kinh tế, chuyên môn, con người và thời gian.
+ Tổ chức thực hiện lao động là những biện pháp để đảm bảo những giải pháp đúng đắn thông qua việc ứng dụng những tri thức về khoa học an toàn cũ như đảm bảo phát huy hiệu quả của hệ thống lao động.
+ Quản lí lao động là những biện pháp chung của xí nghiệp để phát triển thực hiện và đánh giá sự liên quan của hệ thống lao động.
c. Tác động của sự chịu tải và hậu quả của nó:
Sự phát triển của kỹ thuật có ý nghĩa đặc biệt do nó tác động trực tiếp đến lao động và kết quả dẫn đến là:
+ Chuyển đổi những giá trị trong xã hội.
+ Tăng trưởng tính toàn cầu của các cấu trúc hoạt động.
+ Những quy định về luật .
+ Đưa lao động đến gần thị trường người tiêu dùng.
Tính nhân đạo và sự thể hiện nó là mục đích chủ yếu của khoa học lao động. Tương quan thay đổi giữa con người và kỹ thuật không bao giờ dừng lại, chính nó là động lực cho sự phát triển, đặc biệt qua các yêu tố:
+ Sự chuyển đổi các giá trị trong xã hội.
+ Sự phát tiển dân số.
+ Công nghệ mới.
+ Cấu trúc sản xuất thay đổi.
+ Những bệnh tật mới phát sinh.
Khoa học lao động có nhiệm vụ:
Trang bị kỹ thuật, thiết bị cho phù hợp (hay tối ưu) với việc sử dụng của người lao động.
Nghiên cứu sự liên quan giữa con người trong những điều kiện lao động về tổ chức và kỹ thuật.
Hình thức lao động được tổ chức:
+ Lao động riêng rẽ, lao động theo tổ hay nhóm.
+ Lao động bên cạnh nhau, lao động lần lượt tiếp theo, lao động xen kẽ.
+ Lao động tại một chổ hay nhiều chổ làm việc.
Trong hình thức lao động còn được chia ra kiểu và laọi hoạt động. Chẳng hạn các loại lao động:
+ Lao động cơ bắp (như mang vác).
+ Lao động chuyển đổi (sửa chữa, lắp ráp).
+ Lao động tập trung (lái ôtô).
+ Lao động tổng hợp (thiết kế, quyết toán).
+ Lao động sáng tạo (phát minh).
Bảo hộ lao động trước hết là một phạm trù sản xuất, nhằm bảo vệ yếu tố năng động nhất của lực lượng sản xuất là người lao động. Mặt khác việc chăm lo sức khỏe cho người lao động, mang lại hạnh phúc cho bản thân và gia đình họ còn có ý nghĩa nhân đạo.
Nội dung khoa học lao động chiếm vị trí rất quan trọng, là phần cốt lõi để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại, cải thiện điều kiện lao động. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của khoa học BHLĐ rất rộng, nhưng cũng rất cụ thể, nó gắn liền với điều kiện lao động của con người ở những không gian và thời gian nhất định.
II./ Nguyên nhân cháy nổ, cách phòng ngừa
1 ./ Nguyên nhân
a. Sét: Nhiệt độ do sét đánh rất cao, hàng chục nghìn độ vượt quá xa nhiệt độ tự bắt cháy của các chất cháy được.
b. Hiện tượng tĩnh điện: Tĩnh điện sinh ra do ma sát giữa các vật thể. Hiện tượng này rất hay gặp khi bơm rót (tháo, nạp) các chất lỏng có chứa những hợp chất có cực như xăng, dầu.Hiện tượng tĩnh điện tạo ra một lớp điện tích kép trái dấu. Khi điện áp giữa các lớp điện tích đạt đến một giá trị nhất định sẽ phát sinh tia lửa điện.
c. Trong công nghiệp: Dùng các thiết bị nhiệt có nhiệt độ cao, đó là các mồi bắt cháy thường xuyên như lò đốt, lò nung, các thiết bị làm việc ở áp suất cao, nhiệt độ cao. Các thiết bị này sử dụng các nguyên liệu là các chất cháy như than, sản phẩm dầu mỏ, các loại khí cháy tự nhiên và nhân tạo. Do đó nếu thiết bị hở mà không phát hiện và sử lý kịp thời cũng là nguyên nhân gây cháy nổ nguy hiểm.
Các ống dẫn khí cháy, chất lỏng dễ bay hơi và dễ cháy nếu dẫn bị hở do một nguyên nhân nào đó sẽ tạo với không khí một hổn hợp cháy nổ.
Các bể chứa khí cháy trong công nghiệp do bị ăn màn và thủng, khí cháy thoát ra ngoài tạo hổn hợp nổ.
Đôi khi cháy nổ còn xảy ra do độ bền thiết bị không đảm bảo, chẳng hạn các bình khí nén để gần các thiết bị thoát nhiệt lớn hoặc các thiết bị phản ứng trong công nghiệp do tăng áp suất và nhiệt độ đột ngột ngoài ý muốn sẽ xảy ra hiện tượng cháy nổ.
Nhiều khi cháy và nổ xảy ra do người sản xuất thao tác không đúng qui trình, ví dụ dùng chất dễ cháy để nhóm lò gây cháy, sai trình tự thao tác trong một khâu sản xuất nào đó sẽ gây cháy nổ cho cả một phân xưởng, hoặc bảo quản các chất oxy hóa mạnh cùng với các chất cháy mạnh trong cùng một nơi như cloratkali (KClO3) để cùng với bột than gỗ, lưu huỳnh, acid nitric đậm đặc với các hợp chất amin.
Qua các ví dụ trên cho thấy các nguyên nhân gây cháy nổ trong thực tế rất nhiều và rất đa dạng cần phải lưu ý rằng nguyên nhân gây cháy nổ còn xuất phát từ sự không quan tâm đầy đủ trong thiết kế công nghệ, thiết bị, cũng như sự kém thanh tra, kiểm tra của người quản lý.
2. Biện pháp phòng ngừa:
Phòng cháy là khâu quan trọng nhất trong công tác phòng cháy và chữa cháy vì khi đám cháy đã xảy ra thì dù các biện pháp chống cháy có hiệu quả như thế nào, thiệt hại vẫn to lớn và kéo dài. Các biện pháp phòng, chống cháy, nổ có thể chia làm 2 loại: biện pháp kỹ thuật và biện pháp tổ chức.
a. Biện pháp kỹ thuật công nghệ:
Đây là biện pháp thể hiện chọn lựa sơ đồ công nghệ và thiết bị, chọn vật liệu kết cấu, vật liệu xây dựng các hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống báo hiệu và chữa cháy. Giải pháp công nghệ đúng luôn
Bài 1 : An toàn lao động
I ./ Mục đích ý nghĩa của công tác bảo hộ lao động
1. Mục đích:
Mục đích của công tác bảo hộ lao động là thông qua các biện pháp về khoa học kỹ thuật, tổ chức, kinh tế, xã hội để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất, tạo nên một điều kiện lao động thuận lợi và ngày càng được cải thiện tốt hơn, ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hạn chế ốm đau và giảm sức khỏe cũng như những thiệt hại khác đối với người lao động, nhằm bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khỏe và tính mạng người lao động, trực tiếp góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động.
2./ Ý nghĩa:
Gồm có 3 ý nghĩa sau:
a. Ảnh hưởng của điều kiện lao động:
Điều kiện lao động gồm:
- Môi trường lao động: Đặc trưng của "lao động lành mạnh" trên quan điểm về tâm lý học:
- An toàn chỗ làm việc và nghề nghiệp.
- Vùng xung quanh an toàn.
Không chịu tải đơn điệu
Ví dụ: luôn ngồi hay luôn đứng.
- Người lao động tự đánh giá được ý nghĩa và chất lượng lao động của mình.
- Giúp đỡ lẫn nhau trong lao động.
- Khắc phục được những xung đột và sốc.
- Cân bằng giữa cống hiến và hưởng thụ.
- Cân bằng giữa lao động và thời gian nghỉ.
* Theo Wallenstein sự biểu hiện của căn bệnh này là:
- Viêm mũi (tắc, sưng, tấy).
- Đau mắt (ngứa, mắt đỏ, sưng tấy).
- Đau mồm (khô, sưng tấy, khản cổ).
- Viêm da (khô, sưng tấy, ửng đỏ).
- Những chịu chứng chung (đau đầu, mệt mỏi, choáng váng, không tập trung).
b. Thể hiện của sự chịu tải và sự căng thẳng:
Tác động của sự chịu tải trong lao động dẫn đến sự căng thẳng trong lao động. Kết quả của nó có thể tích cực hay tiêu cực. Kết quả tích cực là tạo ra năng suất lao động; con người sẽ được rèn luyện, trưởng thành, có nhiều kinh nghiệm hơn; nhận thức đúng đắn về cuộc sống và lao động, có thu nhập cao hơn để cải thiện cuộc sống.
Mặt tiêu cực của nó là sự đảo ngược. Nó có thể làm giảm năng suất lao động. Khi yêu cầu vượt quá giới hạn cho phép nào đó sẽ gây ra căng thẳng trong lao động, sẽ dẫn đến mệt mỏi về tâm lý; buồn chán, bão hòa tâm lý, sốc.
Trong điều kiện lao động cụ thể, bao giờ cũng xuất hiện các yếu tố vật chất có ảnh hưởng xấu, nguy hiểm, có nguy cơ gây tai nạn hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động, gọi đó là các yếu tố nguy hiểm và có hại. Cụ thể là:
Các yếu tố vật lý như nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn, rung động, các bức xạ có hại, bụi.
Các yếu tố hóa học như các chất độc các loại hơi, khí, bụi độc, các chất phóng xạ.
Các yếu tố sinh vật, vi sinh vật như các lọai vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng, côn trùng, rắn.
Các yếu tố bất lợi về tư thế lao động, không tiện nghi do không gian chỗ làm việc, nhà xưởng chật hẹp, mất vệ sinh. Các yếu tố tâm lý không thuận lợi.
Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra trong quá trình lao động, do tác động đột ngột từ bên ngoài, làm chết người hay làm tổn thương, hoặc phá hủy chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận nào đó của cơ thể.
Khi bị nhiễm độc đột ngột thì gọi là nhiễm độc cấp tính, có thể gây chết người ngay tức khắc hoặc hủy hoại chức năng nào đó của cơ thể thì cũng được gọi là tai nạn lao động.
Bệnh nghề nghiệp là sự suy yếu dần sức khỏe của người lao động gây nên bệnh tật do tác động của các yếu tố có hại phát sinh trong quá trình lao động trên cơ thể người lao động.
Phạm vi thực tiễn của khoa học lao động là:
+ Bảo hộ lao động là những biện pháp phòng tránh hay xóa bỏ những nguy hiểm cho con người trong quá trình lao động.
+ Kinh tế lao động là những biện pháp để khai thác và đánh giá năng suất về phương diện kinh tế, chuyên môn, con người và thời gian.
+ Tổ chức thực hiện lao động là những biện pháp để đảm bảo những giải pháp đúng đắn thông qua việc ứng dụng những tri thức về khoa học an toàn cũ như đảm bảo phát huy hiệu quả của hệ thống lao động.
+ Quản lí lao động là những biện pháp chung của xí nghiệp để phát triển thực hiện và đánh giá sự liên quan của hệ thống lao động.
c. Tác động của sự chịu tải và hậu quả của nó:
Sự phát triển của kỹ thuật có ý nghĩa đặc biệt do nó tác động trực tiếp đến lao động và kết quả dẫn đến là:
+ Chuyển đổi những giá trị trong xã hội.
+ Tăng trưởng tính toàn cầu của các cấu trúc hoạt động.
+ Những quy định về luật .
+ Đưa lao động đến gần thị trường người tiêu dùng.
Tính nhân đạo và sự thể hiện nó là mục đích chủ yếu của khoa học lao động. Tương quan thay đổi giữa con người và kỹ thuật không bao giờ dừng lại, chính nó là động lực cho sự phát triển, đặc biệt qua các yêu tố:
+ Sự chuyển đổi các giá trị trong xã hội.
+ Sự phát tiển dân số.
+ Công nghệ mới.
+ Cấu trúc sản xuất thay đổi.
+ Những bệnh tật mới phát sinh.
Khoa học lao động có nhiệm vụ:
Trang bị kỹ thuật, thiết bị cho phù hợp (hay tối ưu) với việc sử dụng của người lao động.
Nghiên cứu sự liên quan giữa con người trong những điều kiện lao động về tổ chức và kỹ thuật.
Hình thức lao động được tổ chức:
+ Lao động riêng rẽ, lao động theo tổ hay nhóm.
+ Lao động bên cạnh nhau, lao động lần lượt tiếp theo, lao động xen kẽ.
+ Lao động tại một chổ hay nhiều chổ làm việc.
Trong hình thức lao động còn được chia ra kiểu và laọi hoạt động. Chẳng hạn các loại lao động:
+ Lao động cơ bắp (như mang vác).
+ Lao động chuyển đổi (sửa chữa, lắp ráp).
+ Lao động tập trung (lái ôtô).
+ Lao động tổng hợp (thiết kế, quyết toán).
+ Lao động sáng tạo (phát minh).
Bảo hộ lao động trước hết là một phạm trù sản xuất, nhằm bảo vệ yếu tố năng động nhất của lực lượng sản xuất là người lao động. Mặt khác việc chăm lo sức khỏe cho người lao động, mang lại hạnh phúc cho bản thân và gia đình họ còn có ý nghĩa nhân đạo.
Nội dung khoa học lao động chiếm vị trí rất quan trọng, là phần cốt lõi để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại, cải thiện điều kiện lao động. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của khoa học BHLĐ rất rộng, nhưng cũng rất cụ thể, nó gắn liền với điều kiện lao động của con người ở những không gian và thời gian nhất định.
II./ Nguyên nhân cháy nổ, cách phòng ngừa
1 ./ Nguyên nhân
a. Sét: Nhiệt độ do sét đánh rất cao, hàng chục nghìn độ vượt quá xa nhiệt độ tự bắt cháy của các chất cháy được.
b. Hiện tượng tĩnh điện: Tĩnh điện sinh ra do ma sát giữa các vật thể. Hiện tượng này rất hay gặp khi bơm rót (tháo, nạp) các chất lỏng có chứa những hợp chất có cực như xăng, dầu.Hiện tượng tĩnh điện tạo ra một lớp điện tích kép trái dấu. Khi điện áp giữa các lớp điện tích đạt đến một giá trị nhất định sẽ phát sinh tia lửa điện.
c. Trong công nghiệp: Dùng các thiết bị nhiệt có nhiệt độ cao, đó là các mồi bắt cháy thường xuyên như lò đốt, lò nung, các thiết bị làm việc ở áp suất cao, nhiệt độ cao. Các thiết bị này sử dụng các nguyên liệu là các chất cháy như than, sản phẩm dầu mỏ, các loại khí cháy tự nhiên và nhân tạo. Do đó nếu thiết bị hở mà không phát hiện và sử lý kịp thời cũng là nguyên nhân gây cháy nổ nguy hiểm.
Các ống dẫn khí cháy, chất lỏng dễ bay hơi và dễ cháy nếu dẫn bị hở do một nguyên nhân nào đó sẽ tạo với không khí một hổn hợp cháy nổ.
Các bể chứa khí cháy trong công nghiệp do bị ăn màn và thủng, khí cháy thoát ra ngoài tạo hổn hợp nổ.
Đôi khi cháy nổ còn xảy ra do độ bền thiết bị không đảm bảo, chẳng hạn các bình khí nén để gần các thiết bị thoát nhiệt lớn hoặc các thiết bị phản ứng trong công nghiệp do tăng áp suất và nhiệt độ đột ngột ngoài ý muốn sẽ xảy ra hiện tượng cháy nổ.
Nhiều khi cháy và nổ xảy ra do người sản xuất thao tác không đúng qui trình, ví dụ dùng chất dễ cháy để nhóm lò gây cháy, sai trình tự thao tác trong một khâu sản xuất nào đó sẽ gây cháy nổ cho cả một phân xưởng, hoặc bảo quản các chất oxy hóa mạnh cùng với các chất cháy mạnh trong cùng một nơi như cloratkali (KClO3) để cùng với bột than gỗ, lưu huỳnh, acid nitric đậm đặc với các hợp chất amin.
Qua các ví dụ trên cho thấy các nguyên nhân gây cháy nổ trong thực tế rất nhiều và rất đa dạng cần phải lưu ý rằng nguyên nhân gây cháy nổ còn xuất phát từ sự không quan tâm đầy đủ trong thiết kế công nghệ, thiết bị, cũng như sự kém thanh tra, kiểm tra của người quản lý.
2. Biện pháp phòng ngừa:
Phòng cháy là khâu quan trọng nhất trong công tác phòng cháy và chữa cháy vì khi đám cháy đã xảy ra thì dù các biện pháp chống cháy có hiệu quả như thế nào, thiệt hại vẫn to lớn và kéo dài. Các biện pháp phòng, chống cháy, nổ có thể chia làm 2 loại: biện pháp kỹ thuật và biện pháp tổ chức.
a. Biện pháp kỹ thuật công nghệ:
Đây là biện pháp thể hiện chọn lựa sơ đồ công nghệ và thiết bị, chọn vật liệu kết cấu, vật liệu xây dựng các hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống báo hiệu và chữa cháy. Giải pháp công nghệ đúng luôn
 








Các ý kiến mới nhất