Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Ứng dụng Công nghệ thông tin trong thư viện

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Thị Hằng
Ngày gửi: 16h:12' 10-09-2026
Dung lượng: 16.3 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích: 0 người
TẬP BÀI GIẢNG
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN
(Dành cho sinh viên ngành Thông tin thư viện)

MỤC LỤC

Chương 1: Tổng quan về ứng dụng CNTT trong thư viện.......................................2
1.1. Các khái niệm.....................................................................................................2
1.2. Ứng dụng CNTT trong hoạt động quản lý thư viện............................................5
1.3. Ứng dụng CNTT trong thư viện truyền thống.....................................................6
1..4. Ứng dụng CNTT trong thư viện điện tử.............................................................8
1.5. Giới thiệu phần mềm ứng dụng trong thư viện..................................................11
Chương 2: Hướng dẫn sử dụng phần mềm xử lý tài liệu trong thư viện...............17
2.1. Giới thiệu các hình thức xử lý tài liệu trong thư viện........................................17
2.2. Phần mềm xử lý hình ảnh..................................................................................20
3. Tải Photoscape cho PC, Android, iPhone............................................................30
2.3. Phần mềm xử lý video.......................................................................................31
PROSHOW GOLD 9.0 CÓ GÌ MỚI?......................................................................32
Tính năng nổi bật của ProShow Gold 9.0.3771........................................................32
Cấu hình cài đặt yêu cầu..........................................................................................33
Hướng Dẫn Cài Đặt và Crack ProShow Gold 9.0.3771 Chi Tiết.............................33
Yêu cầu hệ thống.....................................................................................................39
Chương 3: Thực hành sử dụng phần mềm tạo sách điện tử...................................54
3.1. Giới thiệu phần mềm.........................................................................................54
3.2. Tải phần mềm và cài đặt...................................................................................55
3.3. Thực hành sử dụng phần mềm tạo sách điện tử................................................57

1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ỨNG DỤNG CNTT TRONG THƯ VIỆN
1.1.
Các khái niệm
Công nghệ thông tin đã có nhiều ứng dụng trong lĩnh vực thư viện, giúp cải
thiện quản lý thông tin, tìm kiếm và cung cấp dịch vụ cho người dùng. Dưới đây
là một số khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin trong thư viện:
 Hệ thống quản lý thư viện (Integrated Library System - ILS): Là một
phần mềm quản lý thư viện tích hợp, cho phép thư viện tổ chức và quản lý tài
liệu, thông tin thành viên, quản lý mượn/trả sách, xử lý nợ sách và thống kê dữ
liệu. Hệ thống ILS giúp tăng hiệu suất làm việc của thư viện và cung cấp dịch vụ
chất lượng hơn cho người dùng.

Bang1: Thư viện số Đại học Quốc gia Hà Nội

Bảng 2: Quy trình mượn sách Online

2

Cơ sở dữ liệu thư viện (Library Databases): Công nghệ thông tin cho phép
thư viện xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu chứa thông tin về các tài liệu trong
thư viện. Người dùng có thể tìm kiếm và truy cập vào các thông tin này thông
qua các giao diện trực tuyến hoặc ứng dụng di động.

Hình 3: Hình ảnh phần mềm về cơ sở dữ liệu trong thư viện
• Thư viện số (Digital Libraries): Đây là các thư viện trực tuyến cung cấp
tài liệu điện tử như sách điện tử, bài báo, tạp chí, tài liệu học tập, hình ảnh, âm
thanh và video. Công nghệ thông tin cho phép xây dựng và quản lý các nền tảng
thư viện số, giúp người dùng truy cập vào tài liệu mọi lúc, mọi nơi.
3

• Hệ thống quản lý mượn sách tự động (Automated Self-Checkout
Systems): Công nghệ thông tin cho phép thư viện triển khai các hệ thống tự
động giúp người dùng mượn và trả sách mà không cần sự can thiệp của nhân
viên. Hệ thống này giúp tiết kiệm thời gian và tăng tính tự phục vụ cho người
dùng.

Hình 4: Hệ thống mượn sách tự đông
• Hệ thống phân loại và định vị tài liệu (RFID - Radio Frequency
Identification): Công nghệ RFID được sử dụng để gắn nhãn và theo dõi tài liệu
trong thư viện. RFID giúp tự động hóa việc tìm kiếm, mượn và trả sách, cung
cấp thông tin chính xác về vị trí của từng cuốn sách trong thư viện.

4

Hình 5: Quy trình mượn sách tự động và định vị sách
• Thư viện ảo (Virtual Libraries): Công nghệ thông tin cho phép xây dựng
các thư viện ảo trên internet, nơi người dùng có thể truy cập và tìm kiếm tài liệu
trực tuyến. Thư viện ảo cung cấp khả năng tìm kiếm nhanh chóng, truy cập từ xa
và tương tác trực tuyến với người dùng.

Hình 6: Hệ thống thư viện ảo
1.2.Ứng dụng CNTT trong hoạt động quản lý thư viện
Ứng dụng CNTT trong thư viện là sử dụng các thiết bị hiện đại, các phần
mềm ứng dụng hỗ trợ trong công việc hang ngày như các máy chủ, máy trạm,
máy in, máy fax, điện thoại,…hệ thống an ninh thư viện, thiết bị chuyên dụng sử
5

dụng trong nghiệp vụ. Ngoài ra còn không thể thiếu phần mềm quản lý thư viện.
Mạng máy tính là một phần quan trọng của tự động hóa giúp phân phối và chia
sẻ thông tin nhanh chóng, hiệu quả.
Như vậy nhờ vào khả năng xử lý thông tin nhanh chóng và chính xác, nâng
cao hiệu quả công việc nên CNTT được ứng dụng trong hầu hết mọi hoạt động
của thư viện như: Hoạt động quản lý, văn phòng và nghiệp vụ.
• Hoạt động quản lý: Mạng máy tính đã mang lại nhiều lợi ích trong công
tác quản lý thư viện. Với các máy tính được kết nối với nhau, nguồn thông tin có
thể được chia sẻ dễ dàng, trao đổi thông tin giữa người quản lý với nhân viên
được diễn ra nhanh chóng và đảm bảo độ chính xác cao. Nhờ vào hệ thống
thông tin, các phần mềm ứng dụng, việc quản lý nguồn lực thư viện như cơ sở
vật chất, nguồn nhân lực, tài chính, nguồn lực thông tin được tiện lợi, chặt chẽ
và hiệu quả hơn.
• Hoạt động văn phòng: Gồm các chức năng cơ bản như: soạn thảo và xử
lý văn bản, lập bảng biểu thống kê, báo cáo, quản lý hồ sơ, văn bản… Sử dụng
CNTT trong hoạt động văn phòng giúp quá trình xử lý, lưu trữ, trao đổi thông
tin nhanh và chính xác hơn, đồng thời loại bớt các lỗi trùng lặp hoặc các thiếu
sót vốn rất dễ xuất hiện trong cách thức hoạt động ghi chép truyền thống.
• Hoạt động nghiệp vụ: Gồm tìm kiếm và bổ sung tài liệu (truyền thống
và điện tử), xử lý thông tin và đưa ra phục vụ bạn đọc; tiến hành xây dựng các
sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhu cầu thông tin của bạn đọc thư viện. Tuỳ
thuộc vào điều kiện cụ thể, các thư viện sử dụng hệ thống thông tin tự động hoá
từng phần công việc hoặc tự động hoá hoàn toàn thông qua sử dụng phần mềm
tư liệu hay phần mềm quản lý thư viện tích hợp.
• Những công việc cụ thể ứng dụng CNTT trong hoạt động của thư viện
bao gồm: Bổ sung; Biên mục; Quản lý ấn phẩm định kỳ; Quản lý bạn đọc; Bảo
quản và lưu trữ tài liệu; Xây dựng sản phẩm và dịch vụ; Mục lục điện tử; Các
trang thông tin điện tử thư viện; Dịch vụ lưu hành; Mượn liên thư viện; Dịch vụ
truy cập Internet; Dịch vụ hướng dẫn bạn đọc.
1.3. Ứng dụng CNTT trong thư viện truyền thống
Thư viện là kho tàng tri thức của nhân loại hay còn được coi là đền đài của
văn hoá và sự uyên thâm. Thư viện xuất hiện từ rất sớm, ngay khi loài người có
nhu cầu lưu giữ thông tin. Tuy nhiên, hình ảnh Thư viện trước đây đơn giản chỉ
là nơi lưu trữ hàng nghìn cuốn tài liệu được sắp xếp theo khổ cỡ và cất kỹ trong
những kho kín của Thư viện. Người dùng tin chỉ có thể tiếp cận đến tài liệu
6

thông qua thủ thư tại các quầy lưu thông. Để mượn được tài liệu, người dùng tin
bắt buộc phải đến Thư viện và sử dụng các sản phẩm thông tin truyền thống
như: hệ thống mục lục, thư mục... cũng như các dịch vụ thông tin giản đơn như:
đọc tại chỗ, mượn về nhà, sao chụp tài liệu…
• Cùng với năm tháng và sự tiến bộ của nhân loại, nhu cầu tin ngày càng
phát triển đã kéo theo sự thay đổi của các Thư viện. Các nhà quản lý Thư viện
đã nhận thức được những tiện ích của việc cho người dùng tin tiếp cận trực tiếp
kho tài liệu. Chính vì vậy, các Thư viện đã cải tiến phương thức phục vụ: từ
phương thức tổ chức kho đóng sang phương thức tổ chức kho mở.
• Khi mới có sự hiện diện của công nghệ thông tìn thì mọi hoạt động trong
Thư viện truyền thống vẫn chỉ được thực hiện theo phương thức thủ công, đơn
giản và nhiều hạn chế. Người dùng tin vẫn bị gò bó trong một khoảng không
gian và thời gian nhất định.
Thư viện là kho tàng tri thức của nhân loại hay còn được coi là đền đài của
văn hoá và sự uyên thâm. Thư viện xuất hiện từ rất sớm, ngay khi loài người có
nhu cầu lưu giữ thông tin. Tuy nhiên, hình ảnh Thư viện trước đây đơn giản chỉ
là nơi lưu trữ hàng nghìn cuốn tài liệu được sắp xếp theo khổ cỡ và cất kỹ trong
những kho kín của Thư viện. Người dùng tin chỉ có thể tiếp cận đến tài liệu
thông qua thủ thư tại các quầy lưu thông. Để mượn được tài liệu, người dùng tin
bắt buộc phải đến Thư viện và sử dụng các sản phẩm thông tin truyền thống
như: hệ thống mục lục, thư mục... cũng như các dịch vụ thông tin giản đơn như:
đọc tại chỗ, mượn về nhà, sao chụp tài liệu…
• Cùng với năm tháng và sự tiến bộ của nhân loại, nhu cầu tin ngày càng
phát triển đã kéo theo sự thay đổi của các Thư viện. Các nhà quản lý Thư viện
đã nhận thức được những tiện ích của việc cho người dùng tin tiếp cận trực tiếp
kho tài liệu. Chính vì vậy, các Thư viện đã cải tiến phương thức phục vụ: từ
phương thức tổ chức kho đóng sang phương thức tổ chức kho mở.
• Khi mới có sự hiện diện của công nghệ thông tìn thì mọi hoạt động trong
Thư viện truyền thống vẫn chỉ được thực hiện theo phương thức thủ công, đơn
giản và nhiều hạn chế. Người dùng tin vẫn bị gò bó trong một khoảng không
gian và thời gian nhất định.

7

Hình 7: Hệ thống mượn sách tại thư viện truyền thống
1..4. Ứng dụng CNTT trong thư viện điện tử
• Nếu như trước đây, Quản lý tư liệu là mục tiêu hướng tới của các Thư
viện truyền thống, thì trong thời đại thông tin như hiện nay, khi nền tảng của xã
hội chính là dựa trên sản xuất, xử lý, lưu trữ, phổ biến, truy cập, sử dụng thông
tin và tri thức dưới mọi hình thức, dựa trên hạ tầng cơ sở viễn thông phát triển
thì quan niệm này đã thay đổi. Quản lý thông tin và Quản lý tri thức mới chính
là kim chỉ nam của các Thư viện. Cùng xuất phát từ ý định ban đầu là làm tốt
công việc lưu trữ và bảo quản, nhưng Thư viện ngày nay đã chú trọng đến người
dùng tin, coi người dùng tin là trung tâm với sự nhấn mạnh đến việc trao đổi
thông tin. Và Thư viện số đã ra đời.
• Cuộc cách mạng thông tin không những cung cấp năng lực công nghệ
hướng đến Thư viện số, mà còn đáp ứng một nhu cầu chưa từng có về lưu trữ, tổ
chức và truy cập thông tin.
• Phần mềm scanner trên điện thoại di động: FastScaner
Nhiều người vẫn cho rằng Thư viện số chính là World Wide Web. Bởi trên
đó, người ta có thể tra cứu được bất kỳ thông tin gì và nó có thể liên kết được
đến rất nhiều nguồn khác nhau. Tuy nhiên, đây là một quan niệm hoàn toàn sai
lầm. Web chỉ được coi là một công nghệ của Thư viện. Nó thiếu hẳn những đặc
điểm quan trọng của việc sưu tầm và tổ chức thông tin. Trong khi đó, Thư viện
số ngày càng hoàn thiện việc tổ chức thông tin để người dùng tin tự hình thành
8

tri thức với phương châm "Thư viện số là nơi sử dụng công nghệ để chuyển
câu hỏi thành câu trả lời".
Vậy thư viện số là gì?
• Theo từ điển Wikipedia: “Thư viện số hay thư viện trực tuyến là thư viện
mà ở đó các bộ sưu tập được lưu trữ dưới dạng số (tương phản với các định
dạng in, vi dạng, hoặc các phương tiện khác) và có thể truy cập bằng máy tính.
Nội dung số có thể được lưu trữ cục bộ hoặc truy cập từ xa qua mạng máy tính.
Thư viện số là một loại hệ thống truy hồi thông tin (Information Retrieval
System)”.
• Học giả người Nga là Sokolova và Liyabev cho rằng: “Thư viện số là một
hệ thống phân tán có khả năng lưu trữ và tận dụng hiệu quả các loại tài liệu
điện tử khác nhau, giúp người dùng tin có thể truy cập và được chuyển giao
thông tin dễ dàng qua máy”.
• Theo định nghĩa về Thư viện số của Hiệp hội Thư viện số Hoa Kỳ
(Digital Library Federation): “Thư viện số là các tổ chức cung cấp tài nguyên,
gồm các nhân viên chuyên biệt giúp lựa chọn, tổ chức, cung cấp khả năng truy
xuất thông minh, chỉ dẫn, phân phối, bảo quản tính toàn vẹn và sự thống nhất
của các bộ sưu tập theo thời gian để đảm bảo sao cho chúng luôn sẵn có để truy
xuất một cách dễ dàng và kinh tế nhất đối với một cộng đồng người dùng tin
hoặc một nhóm cộng đồng người dùng tin”.
• Thư viện số là những thư viện chứa tài liệu kỹ thuật số. Một thư viện số
"sử dụng nhiều loại phần mềm, công nghệ và tiêu chuẩn kết nối để hỗ trợ cộng
đồng tiếp cận tài nguyên và dữ liệu số", đồng thời có trách nhiệm bảo quản và
đảm bảo khả năng truy cập tài liệu dễ dàng và tiện lợi. Việc truy cập thư viện số
bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, phổ biến nhất là nội dung của thư viện, đặc trưng
và nhu cầu thông tin của đối tượng người dùng, giao diện, mục tiêu của tổ chức
thư viện, và những quy định và luật lệ kiểm soát sự vận hành của thư viện
• Một trong những điều quan trọng nhất mà người quản lý thư viện số cần
xem xét là nhu cầu truy cập tài nguyên dài hạn. Hai vấn đề cần lưu ý bao gồm
dữ liệu bị lỗi và định dạng lỗi thời. Dữ liệu có thể bị mất hoặc không dùng được
nếu một sự cố nào đó xảy ra, ví dụ như một chiếc đĩa CD bị trầy xước. Định
dạng lỗi thời là khi một định dạng số bị thay thế bởi những công nghệ mới,
khiến những dữ liệu trong định dạng cũ trở nên vô dụng. Xử lý lỗi dữ liệu là quá
trình thụ động, ngược lại với định dạng lỗi thời cần phải chủ động chuẩn bị từ
trước
9

• Để hiểu rõ hơn về Thư viện số, người ta đã đưa ra một sự so sánh rất thú
vị đó là nếu coi thông tin là tiền tệ trong nền kinh tế tri thức thì Thư viện số sẽ là
ngân hàng - nơi được đầu tư.
• Thư viện số có nhiều đặc điểm nổi bật như:
• - Khả năng lưu trữ khối lượng lớn tài nguyên thông tin khác nhau;
• - Khả năng lưu trữ và chuyển giao tài nguyên thông tin bằng nhiều
phương tiện khác nhau;
• - Khả năng chuyển giao tài nguyên thông tin qua mạng;
• - Khả năng quản lý tài nguyên thông tin phân tán;
• - Dùng công nghệ để tìm kiếm và truy xuất thông tin;
• - Cung cấp dịch vụ thông tin không giới hạn về thời gian và không gian.
• Các thư viện cần gì để phát triển thư viện số?
Thư viện số là một thư viện điện tử cao cấp, trong đó toàn bộ các tài liệu
của Thư viện đó được số hoá và được quản lý bằng một phần mềm chuyên
nghiệp có tổ chức để người dùng tin dễ dàng truy cập, tìm kiếm và xem được
nội dung toàn văn của chúng từ xa thông qua hệ thống mạng thông tin và các
phương tiện truyền thông. Chính vì vậy, để chuẩn bị cho việc xây dựng và phát
triển Thư viện số, các Thư viện cần có một cơ sở vật chất hiện đại, hạ tầng công
nghệ thông tin tiên tiến, áp dụng các chuẩn nghiệp vụ quốc tế và cần thiết hơn cả
là một đội ngũ người làm thư viện được trang bị đầy đủ kiến thức tổng hợp như:
kiến thức chuyên môn, ngoại ngữ, công nghệ thông tin và các kỹ năng mềm
khác.

10

Bảng: So sánh giữa người làm thư viện truyền thống và người làm Thư
viện số đã được đưa ra:
1.5.
Giới thiệu phần mềm ứng dụng trong thư viện
1.5.1. Phần mềm mã nguồn mở
Lợi ích của phần mềm quản lý trong thư viện
• Trước đây, hầu hết những thư viện tại các trường học đều thực hiện quản
lý thư viện theo cách thủ công bao gồm ghi chép thông tin thông qua các loại
giấy tờ. Điều này đã gây không ít khó khăn cho các nhân viên quản lý thư viện,
cụ thể:
• Tốn nhiều thời gian và công sức.
• Cần nguồn nhân lực lớn.
• Tốn chi phí lớn để trả lương cho các quản lý hoặc mua nguyên liệu như
giấy tờ,...
• Đòi hỏi phải cập nhật, làm mới thường xuyên do giấy dễ bị hỏng theo thời
gian.
• Gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm, kiểm tra tài liệu.
• Khó theo dõi và kiểm soát các hoạt động mượn sách cũng như trả sách tại
thư viện.
• Những lợi ích và tính năng mà các phần mềm quản lý thư viện đem lại
là:
• Tiết kiệm thời gian: Các nhân viên sẽ không cần phải mất quá nhiều thời
gian để kiểm tra lượng tài liệu. Khi sử dụng phần mềm, người dùng chỉ cần quét
mã sách, tra cứu tên sách, tất cả dữ liệu sẽ được hiển thị cụ thể.
• Thuận lợi cho việc quản lý thời gian mượn sách, trả sách: Phần mềm
có tích hợp tính năng thông báo thời hạn trả sách. Tránh xảy ra tình trạng gian
lận trong việc mượn trả sách của bạn đọc.
• Nhân viên có thể trao đổi và xử lý công việc nhanh chóng, hiệu quả:
Mọi thao tác quản lý của nhân viên sẽ được lưu trữ trên phần mềm. Do đó, mọi
người có thể trao đổi, bàn giao nhiệm vụ đơn giản và không quá phức tạp như
cách truyền thống.
• Khả năng điều chỉnh phần mềm linh hoạt: Tùy thuộc vào đặc điểm của
mỗi trường học để lựa chọn các tính năng tùy chỉnh cho phù hợp và đạt hiệu quả
quản lý cao hơn
Phần mềm mã nguồn mở
11

Khái niệm: Phần mềm mã nguồn mở là phần mềm với mã nguồn được
công bố, với một giấy phép sử dụng đi kèm cho phép bất cứ ai cũng có thể sử
dụng, nghiên cứu, thay đổi và cải tiến phần mềm bà phân phối phần mềm ở dạng
chưa thay đổi hoặc đã thay đổi.
Phần mềm mã nguồn mở cung cấp miễn phí cho người dùng.
Lợi ích của phần mềm mã nguồn mở:
Phần mềm mã nguồn mở là phần mềm được tác giả cung cấp nguồn kèm
theo và người sử dụng không phải trả chi phí mã nguồn
- Cho phép người sử dụng tự do sử dụng sao chép, tự do phân phối và tự do
nghiên cứu, sửa đổi mã nguồn.
Các loại phần mềm mã nguồn mở: Phần mềm Greenstone, Dspace và
Koha
Phần mềm Dspace 
Phần mềm thư viện số Dspace là phần mềm mã nguồn mở hỗ trợ giải pháp
xây dựng và phân phối các bộ sưu tập số trên Internet. 
Phần mềm mã nguồn mở Dspace do Thư viện của Học viện Công nghệ
Massachusetts (Massachusetts Institute of Technology Libraries - MIT
Libraries) và phòng thí nghiệm của Hewlett-Packard (HP Labs) phát triển. Phiên
bản DSpace đầu tiên phát hành vào tháng 11/2002, với chức năng ban đầu là đáp
ứng yêu cầu quản lý các kết quả nghiên cứu, các tài liệu giảng dạy và học tập đã
số hoá của MIT.
DSpace vận hành tốt trong môi trường Internet với giao diện web, sử dụng
trình duyệt Internet Explorer hoặc FireFox, có thể được cài đặt và hoạt động trên
một trong số các hệ điều hành phổ biến như Linux, Unix, Mac OSX hay
Windows.
Dspace là phần mềm mã nguồn mở dùng để quản lý các nguồn tài nguyên
số nội sinh nhằm phục vụ cho các thư viện, trung tâm lưu trữ các cơ quan,
trường học sử dụng và phát triển.
DSpace có khả năng xử lý các tài liệu đa phương tiện với nhiều định dạng
tệp tin khác nhau, trong đó có các định dạng tài liệu văn bản  định dạng tài liệu
về hình ảnh, định dạng các tài liệu âm thanh.
Phần mềm Koha 
Phần mềm mã nguồn mở Dspace và Greenstone là những phần mềm quản
lý tài liệu số nổi tiếng tại Việt Nam. Tuy nhiên, nếu để quản lý và khai thác các
CSDL thư mục, thực hiện tìm tin trên OPAC và thực hiện các khâu quản lý và
12

vận hành như viện như: quản lý bạn đọc, quản lý mượn trả tài liệu, quản lý công
tác bổ sung… thì bắt buộc thư viện cần phải sử dụng phần mềm quản trị thưviện
tích hợp. 
Phần mềm mã nguồn mở Koha là phần mềm quản trị thư viện tích hợp mã
nguồn mở, được phát triển bởi Katipo Communications ở New Zealand. Vào
tháng 1/2000, lần đầu tiên Koha triển khai tại thư viện Horowwhenua Trust. 
Phần mềm Koha được quản lý bởi hệ quản trị CSDL MySQL. Phần mềm
Koha được vận hành trên giao diện web ở nhiều hệ điều hành khác nhau như:
Linux, Unix, Mac OSX hay Windows và đáp ứng đầy đủ mọi tiêu chuẩn quốc tế
dành cho thư viện 
Phần mềm mã nguồn mở Koha là phần mềm quản lý thư viện mã nguồn
mở đầu tiên trên thế giới.
Phần mềm Koha có đầy đủ tính năng của một phần mềm quản lý thư viện
hiện đại, phù hợp với mọi loại hình thư viện như thư viện trường học, thư viện
công cộng, thư viện các viện nghiên cứu.
Koha hiện nay được phát triển bởi cộng đồng những người làm công nghệ
thông tin và thư viện trên toàn thế giới. Vì vậy các tính năng của Koha liên tục
hoàn thiện và phát triển mở rộng để đáp ứng nhu cầu thực tiễn của người dùng.
1.5.2. Phần mềm tư liệu CDS/ISIS
Là phần mềm dùng để quản lý, lưu trữ và tìm kiếm tài liệu, đồng thời tạo ra
các sản phẩm thông tin thư mục. Đó chính là bộ máy tra cứu thông tin tự động
hóa
CDS/ISIS ra đời năm 1985 và trải qua các giai đoạn phát triển và đến năm
2001 cho ra đời phiên bản 1.4 của CDS/ ISIS cho Windows.
CDS/ISIS for Windows gọi tắt là WinISIS có các tính năng nổi trội:
- Cấu trúc CSDL do người sử dụng tự xây dựng, có thể tạo lập và quản lý
được nhiều CSDL
- Có thể quản lý được các trường có độ dài biến động
- Có khả năng nhận biết trường lặp, trường con.
- Việc tìm tin đơn giản thuận tiện nhờ giao diện cửa sổ và các phương tiện
tìm được trên các phím chức năng/
- Ngôn ngữ tạo format được bổ sung nhiều lệnh mới cho phép trình bày dữ
liệu thuận tiện đẹp hơn.
- Có khả năng kết nối các CSDL này với CSDL khác để mở rộng các chức
năng quane lý, tạo ra hệ thống CSDL tựa quan hệ.
13

Nguyên tắc hoạt động của CDS/ISIS
- Hoạt động của CDS/ISIS dựa trên một hệ thống menu. Menu là danh sách
các chức năng hay các lệnh để người sử dụng có thể lựa chọn bằng cách sử dụng
một chữ cái trên bàn phím (đối với ISIS for Dos) hay dùng chuột kích vào chức
năng đó (ISIS for win)
- Tất cả các chương trình đều làm việc trong chế độ hội thoại và có khả
năng đối thoại trên nhiều ngôn ngữ nhờ đó ta có thể chọn ngôn ngữ để thể hiện
các menu và thông báo hệ thống. Mỗi lần chạy chương trình WinISIS sẽ đưa ra
menu bằng ngôn ngữ định trước do người sử dụng cài đặt. Do đó ta có thể thay
đổi ngôn ngữ đối thoại bằng cách chọn lệnh.
- Các menu trong ISIS for Dos quan hệ với nhau theo trật tự phân cấp.
Trong mỗi menu có một phím chức năng ra (được gán bằng chữ X) cho phép
quay về menu trước hoặc dừng buổi làm việc (nếu đang ở màn hình chính). Các
menu chỉ được gọi theo trật tự phân cấp.

Hình 8: Hình ảnh icon phần mềm CDS
Phần mềm tư liệu CDS/ISIS chỉ là phần mềm quản trị tư liệu không có khả
năng quản lý thư viện hay quản lý CSDL toàn văn. Bởi vậy hiện nay các thư
viện và các cơ quan thông tin lớn đều chuyển sang phần mềm mới.

14

Giới thiệu một số hệ thống phần mềm thư viện số:
Hệ thống phần mềm thư viện số (vnEdu DigiLib)

VnEdu DigiLib là hệ thống phần mềm thư viện số đáp ứng nhu cầu quản lý
thư viện và triển khai thư viện trực tuyến của các cơ sở giáo dục và tổ chức –
doanh nghiệp; giúp đơn vị quản lý nguồn lực thông tin trong thư viện hiệu quả,
góp phần hiện thực hóa xây dựng một hệ thống thư viện thông minh; đồng thời
giúp bạn đọc tiếp cận ấn phẩm nhanh chóng dễ dàng hơn bằng cách tra cứu và
đọc trực tuyến với quy trình mượn trả ấn phẩm nhanh chóng, thuận tiện.
Lợi ích
o Sở/Phòng GDĐT
 Triển khai kho dữ liệu dùng chung nhanh chóng, dễ dàng, đảm bảo an
toàn thông tin, tiết kiệm chi phí
 Theo dõi trực quan, nhanh chóng tình hình hoạt động thư viện trên địa
bàn
o Nhà trường
 Thuận tiện công tác quản lý thư viện tại trường
 Nhanh chóng theo dõi số liệu thống kê về hoạt động thư viện
 Dễ dàng khai thác học liệu, ấn phẩm để sử dụng trong giảng dạy
o Học sinh
 Khai thác kho học liệu điện tử mọi lúc mọi nơi
 Mượn trả ấn phẩm trực tuyến qua thẻ, điện thoại thông minh
o Phụ huynh
 Quản lý quá trình khai thác thư viện của con
 Nắm được hệ thống ấn phẩm của trường để gợi ý cho con tìm hiểu
Các tính năng cơ bản:
o Hình thành mạng lưới thư viện thông minh, hỗ trợ công tác điều hành,
giám sát, báo cáo
o Quản lý thư viện tại trường dễ dàng và khoa học, đáp ứng nhu cầu chuyển
đ
 
Gửi ý kiến