Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

skkn sinh học

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Trọng Kỳ Anh
Ngày gửi: 14h:44' 20-03-2026
Dung lượng: 731.0 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích: 0 người
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG THPT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BÁO CÁO
Hiệu quả áp dụng, khả năng nhân rộng của sáng kiến
“Sử dụng kỹ thuật mảnh ghép và mô hình STEM trong dạy học
sinh học 10”
I. SƠ YẾU LÝ LỊCH
- Họ tên:
- Sinh ngày;
Giới tính: Nữ;
- Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không
- Nơi thường trú:.
- Cơ quan, địa phương công tác:;
- Chức vụ: Giáo viên
- Học hàm; học vị:Cử nhân; danh hiệu; giải thưởng: Chiến sĩ thi đua.
- Điện thoại liên hệ:
II. HIỆU QUẢ ÁP DỤNG, KHẢ NĂNG NHÂN RỘNG CỦA SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến đề nghị xem xét: “Sử dụng kĩ thuật mảnh ghép và mô
hình STEM trong dạy học sinh học 10” theo quyết định số: 58/QĐ-THPTDX
ngày 27/02/2026 của Chủ tịch Hội đồng khoa học trường THPT Dương Xá về
việc công nhận SKKN cấp trường năm học 2025 - 2026
2. Lĩnh vực thực hiện sáng kiến: Đổi mới phương pháp dạy học
3. Nêu lý do chọn vấn đề mang tính cấp thiết:
Chương trình giáo dục phổ thông 2018 không chỉ tập trung vào việc trang bị kiến
thức mà còn đặc biệt chú trọng đến việc phát triển kỹ năng, phẩm chất và năng lực của
học sinh, chuẩn bị cho họ sự tự tin và năng lực để đối diện với thế giới đầy thử thách
hiện nay. Để đạt được mục tiêu này, cần áp dụng các phương pháp giảng dạy linh
hoạt, gắn lý thuyết với thực tiễn, tạo cơ hội cho học sinh rèn luyện kỹ năng mềm.
Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, phương pháp giảng dạy truyền
thống không còn đáp ứng được yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực của
học sinh. Việc áp dụng kỹ thuật mảnh ghép (Jigsaw) kết hợp với mô hình STEM
trong dạy học Sinh học 10 trở thành một giải pháp thiết thực, giúp học sinh tiếp
cận kiến thức theo hướng chủ động, sáng tạo và thực tiễn hơn.
Kỹ thuật mảnh ghép là một trong những phương pháp dạy học tích cực, giúp
học sinh phát triển kỹ năng làm việc nhóm, giao tiếp và tư duy phân tích. Theo

lý thuyết kiến tạo, việc học tập có hiệu quả nhất khi học sinh tự xây dựng kiến
thức thông qua tương tác với bạn bè và môi trường xung quanh. Kỹ thuật mảnh
ghép giúp hiện thực hóa điều này bằng cách chia nhỏ nội dung bài học thành các
phần, giao cho từng nhóm học sinh tìm hiểu, sau đó ghép lại để hoàn chỉnh bức
tranh tri thức tổng thể. Như Lev Vygotsky từng nhấn mạnh: “Học sinh học tốt
nhất khi được làm việc với nhau và xây dựng tri thức dựa trên sự hợp tác”.
Phương pháp này tạo ra môi trường học tập mở, nơi học sinh không chỉ học từ
giáo viên mà còn từ chính bạn bè của mình.
Mô hình STEM không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách trực
quan mà còn thúc đẩy các em vận dụng lý thuyết vào thực tế. STEM kết hợp
bốn lĩnh vực khoa học (Science), công nghệ (Technology), kỹ thuật
(Engineering) và toán học (Mathematics) giúp học sinh phát triển tư duy logic,
khả năng giải quyết vấn đề và sáng tạo. Albert Einstein từng nói: “Giáo dục
không phải là việc ghi nhớ sự kiện, mà là rèn luyện trí óc để suy nghĩ”. STEM
giúp học sinh không chỉ biết kiến thức mà còn biết cách áp dụng chúng vào thực
tiễn, từ đó tăng cường khả năng sáng tạo và giải quyết vấn đề.
Khi kết hợp hai phương pháp này trong dạy học Sinh học 10, giáo viên sẽ
tạo ra một môi trường học tập linh hoạt, trong đó học sinh không chỉ đóng vai
trò tiếp nhận kiến thức mà còn là người kiến tạo tri thức. Việc học tập trở nên
thú vị, hấp dẫn hơn khi học sinh có cơ hội hợp tác, thực hành và sáng tạo.
Một nghiên cứu của Johnson & Johnson (1999) đã chỉ ra rằng: "Học sinh học
tập theo phương pháp hợp tác không chỉ đạt kết quả tốt hơn về mặt học thuật mà
còn phát triển tốt hơn về mặt xã hội và tâm lý." Kỹ thuật mảnh ghép giúp học sinh
rèn luyện kỹ năng giao tiếp, thuyết trình, làm việc nhóm, trong khi STEM giúp
các em phát triển tư duy phản biện và khả năng vận dụng kiến thức liên môn.
Việc áp dụng kỹ thuật mảnh ghép và mô hình STEM trong dạy học Sinh học
10 không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách chủ động mà còn trang
bị cho các em nhiều kỹ năng quan trọng để thành công trong tương lai. Đây là
một hướng đi phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục, giúp học sinh không chỉ
học để biết mà còn học để làm, học để sáng tạo.
Như triết gia John Dewey từng khẳng định: "Học không phải là sự chuẩn bị
cho cuộc sống, mà chính là cuộc sống". Giáo dục không chỉ đơn thuần là truyền
đạt kiến thức mà còn phải giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, sáng tạo và
vận dụng kiến thức vào thực tế. Do đó, việc kết hợp kỹ thuật mảnh ghép và mô
hình STEM trong giảng dạy Sinh học 10 là một giải pháp cần thiết, góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục và tạo động lực học tập bền vững cho học sinh.

Xuất phát từ thực trạng trên, để phát huy phẩm chất, năng lực của học sinh
trong quá trình học tập đặc biệt là năng lực giải quyết vấn đề thực tế, từ đó giúp
các em yêu thích môn Sinh học hơn và nâng cao được chất lượng dạy học bộ
môn. Tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Sử dụng kĩ thuật mảnh ghép và mô hình
STEM trong dạy học sinh học 10”.
4. Thời gian thực hiện, thời gian bắt đầu áp dụng:
Từ ngày 5 tháng 9 năm 2025 đến ngày 19 tháng 1 năm 2026.
5. Đối tượng, phạm vị triển khai, áp dụng:
Đối tượng: Học sinh lớp 10D5, trường THPT Dương Xá
Phạm vi: Chương trình Sinh học 10.
6. Có số liệu khảo sát trước khi thực hiện giải pháp:
Trước khi thực hiện giải pháp, tôi đã tiến hành khảo sát thu thập thông tin
về hứng thú cách thức học tập môn Sinh học của học sinh lớp 10D5 (43 học
sinh) và 10D4 (45 học sinh) năm học 2025 -2026 và tìm kiếm các biện pháp cải
thiện. Kết quả khảo sát được thể hiện trong Bảng 1.
Bảng 1. Kết quả khảo sát thực trạng học tập môn Sinh học 10 của học sinh
trước khi thực hiện sáng kiến
Câu

1

2

3

Nội dung

Kết quả
Số lượng Tỉ lệ %

Sự hứng thú học môn Sinh học ở các em thuộc mức nào ?
Rất thích
12
Thích
35
Bình thường
40
Không thích
11
Em thích/không thích học môn Sinh học vì:
Môn Sinh học là một trong những môn thi vào các
15
trường ĐH, CĐ
Bài học sinh động, thầy cô dạy vui vẻ, dễ hiểu
10

12,2
35,7
40,8
11,3
15,3
10,2

Kiến thức dễ nắm bắt
Kiến thức gắn thực tế nhiều

25
24

25,5
24,4

Bài học không hấp dẫn, thầy cô dạy không thu hút

46

46,9

Kiến thức khó hiểu, khó tiếp thu

33

33,6

Trong giờ học môn Sinh học em thích được học như thế nào
Tập trung nghe giảng, phát biểu ý kiến, thảo luận và
55
làm việc
Nghe giảng và ghi chép một cách thụ động
10

56,1
10,2

4

Được làm các thí nghiệm thực hành để hiểu sâu sắc
vấn đề về môn học
Làm các bài tập nhiều để ôn thi đại học
Nội dung dạy học
Không cần thí nghiệm thực hành nhiều
Tăng cường học lí thuyết và giải bài tập tính toán gắn
với kì thi đại học cao đẳng
Giảm tải lí thuyết, vận dụng kiến thức đã học để đưa
kiến thức vào thực tiễn, tăng cường phần thực hành

26

26,5

30

30,6

26
70

26,5
71,4

75

76,5

Kết quả khảo sát trước khi thực hiện giải pháp được thể hiện trên Bảng1,
cho thấy:
Thứ nhất về hứng thú học tập đối với môn Sinh học, có trên 12% học sinh
rất thích học, trên 35% học sinh thấy thích học môn sinh học, 40,8% học sinh
thấy bình thường và 11,3% học sinh không thích học môn sinh học.
Thứ hai về lí do học sinh không thích học môn Sinh học có gần 47% học
sinh cảm thấy thầy cô dạy học chưa thu hút.
Thứ ba về mong muốn của học sinh trong một giờ Sinh học có trên 50%
học sinh muốn được thảo luận, thực hành trong 1 giờ học.
Thứ tư về nội dung học mà học sinh mong muốn có trên 70% mong muốn
giảm tải lí thuyết, vận dụng kiến thức đã học để đưa kiến thức vào thực tiễn,
tăng cường phần thực hành.
Dựa trên những phân tích khảo sát trước khi thực hiện sáng kiến, tôi nhận
thấy cần tích cực thay đổi phương pháp dạy học nhằm tăng tính hứng thú học tập
môn Sinh học của học sinh, đồng thời phát triển năng lực cho học sinh.
7. Báo cáo chi tiết cụ thể các nội dung chính trong sáng kiến
7.1. Biện pháp cũ đã thực hiện
Nội dung biện pháp đã thực hiện: Giáo viên chia lớp thành các nhóm, giao
nhiệm vụ tìm hiểu trước nội dung cho từng nhóm. Thiết kế tổ chức giờ dạy theo
tiến trình của sách giáo khoa. Trong giờ học, học sinh sẽ thuyết trình trước lớp
về nội dung mà nhóm mình đã tìm hiểu dưới dạng bài báo cáo trên giấy A0 hoặc
báo cáo powerpoint; trao đổi thảo luận giữa các nhóm để làm sáng tỏ nội dung
bài học; Học sinh: làm việc theo nhóm tại nhà thực hiện nhiệm vụ đã được giáo
viên giao. Thực hành tại lớp báo cáo tại lớp, trao đổi thảo luận và đánh giá chéo
nhóm khác.
Hạn chế biện pháp: Học sinh chưa thật sự phát huy được tính chủ động và
sáng tạo trong học tập từ đó chưa phát triển được tốt năng lực giải quyết vấn đề.

Nguyên nhân của biện pháp
Thứ nhất, giáo viên dạy học chưa thật sự chú ý đến việc phát huy năng lực
của học sinh, đặc biệt là năng lực giải quyết vấn đề và tích hợp kiến thức các
môn khoa học, công nghệ, toán học.
Thứ hai, phương pháp hoạt động nhóm với yêu cầu nghiên cứu nội dung
Sách giáo khoa, làm bài báo cáo tại nhà và trình bày trước lớp thường tập trung
vào một số học sinh làm, còn các học sinh còn lại có thể không tham gia, ỷ lại.
7.2. Biện pháp mới áp dụng
7.2.1. Kĩ thuật dạy học mảnh ghép
Là hình thức học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa
các nhóm nhằm:
- Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp (có nhiều chủ đề)
- Kích thích sự tham gia tích cực của HS.
- Thay đổi cách tiếp cận kiến thức của học sinh theo tinh thần chủ động
nhất.
*Cách tiến hành kĩ thuật các mảnh ghép: Kĩ thuật chia làm 2 vòng cụ thể:
Vòng 1: Nhóm chuyên gia
- Hoạt động theo nhóm 3 đến 8 người [số nhóm được chia = số chủ đề x n
(n = 1,2,…)]
- Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ [Ví dụ : nhóm 1 : nhiệm vụ A; nhóm
2: nhiệm vụ B, nhóm 3: nhiệm vụ C, … (có thể có nhóm cùng nhiệm vụ)]
- Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, suy nghĩ về câu
hỏi, chủ đề và ghi lại những ý kiến của mình.
- Khi thảo luận nhóm phải đảm bảo mỗi thành viên trong từng nhóm đều trả
lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao và trở thành “chuyên gia” của
lĩnh vực đã tìm hiểu và có khả năng trình bày lại câu trả lời của nhóm ở vòng 2.
Vòng 2: Nhóm các mảnh ghép
- Hình thành nhóm 3 đến 6 người mới ( 1-2 người nhóm I, 1-2 người nhóm
II, 1-2 người nhóm III.....)
- Các câu hỏi và thông tin từ vòng 1 được các thành viên trong nhóm chia
nhau trình bày và chia sẻ đầy đủ với nhau.
- Khi các thành viên trong nhóm mới đều hiểu được tất cả các vấn đề và nội
dung vòng 1 thì nhiệm vụ được giải quyết.
- Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ và trình bày, chia sẻ kết quả với nhau.
Sơ đồ mô tả kĩ thuật mảnh ghép

* Ưu điểm và hạn chế
Ưu điểm
Ưu điểm của kĩ thuật dạy học mảnh ghép là giúp người học đào sâu kiến
thức trong từng lĩnh vực; Phát huy hiểu biết của người học; Phát triển tinh thần
làm việc nhóm.
Hạn chế
- Phải đảm bảo những thông tin từ các mảnh ghép lại với nhau có thể hiểu
được bức tranh toàn cảnh của một vấn đề và là cơ sở để giải quyết một nhiệm vụ
phức hợp ở vòng 2.
- Đặc điểm của nhiệm vụ mới ở vòng 2 là một nhiệm vụ phức hợp và chỉ
có thể giải quyết được trên cơ sở nắm vững những kiến thức đã có ở vòng 1.
7.2.2. Phương pháp STEM
 Khái niệm về STEM và giáo dục STEM
STEM là thuật ngữ viết tắt của các từ Science (Khoa học), Technology
(Công nghệ), Engineering (Kĩ thuật) và Mathematics (Toán học). Theo David D.
Thornburg (2008), các lĩnh lĩnh vực Toán học, Công Nghệ, Khoa học và Kĩ
thuật có mối quan hệ chặt chẽ trong mô hình giáo dục STEM.
Giáo dục STEM trang bị cho học sinh những kiến thức khoa học gắn liền
với ứng dụng trong thực tiễn, qua đó phát triển cho học sinh năng lực phát hiện
và giải quyết vấn đề cùng với những năng lực khác, đáp ứng được yêu cầu của
sự phát triển kinh tế - xã hội.
 Mục tiêu giáo dục STEM
Giáo dục STEM nhằm phát triển ở học sinh các năng lực như:
Năng lực đặc thù về STEM: phát triển những kiến thức, kĩ năng liên quan
đến các môn Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán học. Đặc biệt là kĩ năng vận
dụng và giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Năng lực cốt lõi: Bên cạnh những hiểu biết về lĩnh vực Khoa học, Công
nghệ, Kỹ thuật, Toán học, giáo dục STEM trang bị cho học sinh những kĩ năng
khác như: năng lực sáng tạo; năng lực giao tiếp, hợp tác…
Định hướng nghề nghiệp: Giáo dục STEM tạo điều kiện cho học sinh có
những kiến thức, kĩ năng nền tảng cho việc học tập ở các bậc học cao hơn cũng
như cho nghề nghiệp tương lai.

 Giáo dục STEM trong chương trình GDPT 2018
Trong Chương trình GDPT năm 2018, giáo dục STEM đã được chú trọng
thông qua các biểu hiện: Chương trình GDPT mới có đầy đủ các môn học
STEM. Đó là các môn toán, khoa học tự nhiên, công nghệ, tin học. Vị trí, vai trò
của giáo dục tin học và giáo dục công nghệ trong Chương trình GDPT 2018 đã
được nâng cao rõ rệt. Có các chủ đề STEM trong chương trình môn học tích hợp
ở giai đoạn giáo dục cơ bản như các môn Tự nhiên và Xã hội, Khoa học, Tin
học, Công nghệ và môn Khoa học tự nhiên. Các chuyên đề dạy học về giáo dục
STEM ở lớp 10, 11, 12. Tính mở của chương trình: một số nội dung giáo dục
STEM có thể được xây dựng thông qua chương trình địa phương, câu lạc bộ
STEM ...
 Quy trình xây dựng
Bước 1: Lựa chọn chủ đề bài học
Căn cứ vào nội dung kiến thức trong chương trình môn học như hiện
tượng, quy trình ... có sử dụng kiến thức đó trong thực tiễn để lựa chọn chủ đề
của bài học. Ví dụ: quy trình làm sữa chua/dưa muối; làm mô hình cấu trúc tế
bào…
Bước 2: Xác định vấn đề cần giải quyết
Giáo viên giao cho học sinh thực hiện một vấn đề mà sau khi giải quyết vấn
đề đó, học sinh phải đạt được những kiến thức, kĩ năng trong chương trình môn
học hoặc vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã biết để xây dựng bài học...
Bước 3: Xây dựng tiêu chí của thiết bị/giải pháp giải quyết vấn đề
Xác định rõ tiêu chí của sản phẩm làm căn cứ quan trọng để đề xuất giả
thuyết khoa học/giải pháp giải quyết vấn đề/thiết kế mẫu sản phẩm. Ví dụ: học
sinh làm được mô hình cấu trúc tế bào; sản phẩm sữa chua…
Bước 4: Thiết kế tiến trình tổ chức hoạt động dạy học.
Tiến trình tổ chức hoạt động dạy học được thiết kế với 5 hoạt động học.
Mỗi hoạt động học được thiết kế rõ ràng về mục đích, nội dung, dự kiến sản
phẩm và cách thức tổ chức thực hiện.
 Thiết kế tiến trình dạy học
Mỗi bài học STEM có thể được tổ chức theo 5 hoạt động chính bao gồm:
Hoạt động 1: Xác định vấn đề;
Hoạt động 2: Nghiên cứu kiến thức nền và đề xuất giải pháp;
Hoạt động 3: Lựa chọn giải pháp;
Hoạt động 4: Chế tạo mẫu, thử nghiệm và đánh giá;
Hoạt động 5: Chia sẻ, thảo luận, điều chỉnh.
Mỗi hoạt động được mô tả rõ mục đích, nội dung, dự kiến sản phẩm hoạt

động của học sinh và cách thức tổ chức hoạt động.
7.2.3. Kết hợp kĩ thuật mảnh ghép và mô hình STEM
Các bước thiết kế và tổ chức thực hiện đề tài nghiên cứu
Kết hợp kỹ thuật dạy học mảnh ghép (Jigsaw) và mô hình STEM (Khoa
học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán học) trong dạy học Sinh học 10 có thể mang lại
hiệu quả rất cao trong việc giúp học sinh hiểu sâu hơn và phát triển tư duy phản
biện, sáng tạo. Dưới đây là các bước cơ bản để kết hợp 2 phương pháp trên
trong dạy học phần Cấu trúc tế bào, Sinh học 10.
Bước 1. Chia nhóm học sinh (Nhóm chuyên gia)
Phân chia lớp thành các nhóm nhỏ: Chia lớp học thành các nhóm 4-6 học
sinh. Mỗi nhóm sẽ được giao một phần kiến thức cụ thể về cấu trúc tế bào (ví
dụ: màng tế bào, nhân tế bào, ty thể, lưới nội chất, ribosome, v.v.).
Nhiệm vụ của mỗi nhóm: Mỗi nhóm nghiên cứu một phần kiến thức về
cấu trúc tế bào, tìm hiểu về chức năng và đặc điểm của các bộ phận trong tế bào.
Các học sinh trong nhóm hợp tác với nhau để tìm hiểu, trao đổi thông tin và
chuẩn bị báo cáo về phần của mình.
Bước 2. Tạo các nhóm chuyên gia (Nhóm mảnh ghép)
Mỗi nhóm nghiên cứu sâu: Sau khi học sinh tìm hiểu thông tin về phần
của mình, sẽ tiến hành tạo thành các nhóm chuyên gia (chuyên sâu vào một chủ
đề cụ thể của cấu trúc tế bào). Ví dụ: các học sinh nghiên cứu về màng tế bào sẽ
cùng nhau trao đổi và làm việc với nhau.
Chia sẻ thông tin giữa các nhóm chuyên gia: Sau khi học sinh nghiên
cứu và hiểu rõ phần của mình, họ quay lại nhóm ban đầu để chia sẻ thông tin với
các bạn trong nhóm.
Bước 3. Áp dụng mô hình STEM
Khoa học (Science): Cung cấp kiến thức về cấu trúc và chức năng của các
bộ phận tế bào, giải thích quá trình sinh học xảy ra trong tế bào như sự phân chia
tế bào, chuyển hóa năng lượng...
Công nghệ (Technology): Sử dụng các công cụ công nghệ để giúp học
sinh hình dung cấu trúc tế bào. Ví dụ: ứng dụng phần mềm mô phỏng tế bào, sử
dụng mô hình 3D của tế bào để học sinh có thể quan sát và phân tích.
Kỹ thuật (Engineering): Kết nối kiến thức về cấu trúc tế bào với các ứng
dụng thực tế trong y học, kỹ thuật di truyền, và các công nghệ tế bào. Học sinh
có thể thiết kế mô hình tế bào hoặc tạo ra các dự án thử nghiệm với các vật liệu
mô phỏng cấu trúc tế bào.

Toán học (Mathematics): Áp dụng các khái niệm toán học như tỷ lệ, biểu
đồ, và đồ thị để mô tả các quá trình sinh học trong tế bào, chẳng hạn như tốc độ
phân chia tế bào hoặc lượng chất dinh dưỡng cần thiết cho tế bào.
Bước 4. Hoạt động kết hợp và chia sẻ (Tích hợp Jigsaw và STEM)
Sau khi các nhóm học sinh đã nghiên cứu và chia sẻ thông tin, các em có
thể được giao nhiệm vụ thiết kế một mô hình tế bào thực tế (hoặc mô phỏng)
bằng các nguyên liệu đơn giản. Trong quá trình này, học sinh sẽ vận dụng cả
kiến thức khoa học, kỹ thuật và công nghệ.
Các nhóm sẽ làm việc cùng nhau để kết hợp các phần của tế bào mà mình
nghiên cứu thành một mô hình tế bào hoàn chỉnh. Đây là lúc để học sinh ứng
dụng các kiến thức đã học vào thực tế, đồng thời phát triển kỹ năng làm việc
nhóm, giao tiếp và giải quyết vấn đề.
Bước 5. Đánh giá và phản hồi
Sau khi hoàn thành các dự án, học sinh sẽ thuyết trình hoặc giới thiệu mô
hình tế bào của mình, giải thích về các phần của tế bào, cũng như cách các bộ
phận này phối hợp với nhau trong cơ thể sống.
Giáo viên có thể đưa ra phản hồi về cả kiến thức lẫn quá trình làm việc
nhóm, đồng thời khuyến khích học sinh áp dụng các công nghệ mới trong
nghiên cứu khoa học.
Sự kết hợp giữa kĩ thuật dạy học mảnh ghép và mô hình STEM có thể giúp
học sinh:
Tăng cường khả năng hợp tác và tư duy phản biện: Học sinh sẽ được
khuyến khích hợp tác, trao đổi thông tin và đưa ra các giải pháp cho vấn đề.
Khám phá và sáng tạo: Học sinh sẽ có cơ hội khám phá, sáng tạo và áp
dụng kiến thức vào thực tế.
Phát triển kỹ năng kỹ thuật: Học sinh sẽ hiểu rõ hơn về ứng dụng của các
kiến thức sinh học trong kỹ thuật và công nghệ.
Cách kết hợp này không chỉ giúp học sinh hiểu rõ cấu trúc tế bào mà còn
phát triển tư duy đa chiều và kỹ năng làm việc nhóm hiệu quả.
7.2.4. Kế hoạch bài dạy minh họa
Ví dụ minh họa thiết kế kế hoạch bài dạy cho hoạt động Tìm hiểu đặc
điểm chung tế bào nhân thực, Bài 8. Tế bào nhân thực có áp dụng kĩ thuật mảnh
ghép và mô hình STEM như sau:
BÀI 8: TẾ BÀO NHÂN THỰC
I. MỤC TIÊU
1. Kiến thức

- Trình bày được đặc điểm chung của tế bào nhân thực.
- So sánh được đặc điểm tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực.
- Phân biết được thành phần cấu trúc tế bào thực vật và động vật.
- Trình bày được đặc điểm cấu tạo và chức năng của nhân tế bào.
2. Năng lực:
- Năng lực nhận thức sinh học:
+ Trình bày được đặc điểm chung của tế bào nhân thực.
+ So sánh được đặc điểm tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực.
+ Phân biệt được thành phần cấu trúc tế bào thực vật và động vật.
+ Trình bày được đặc điểm cấu tạo và chức năng của nhân tế bào.
- Năng lực tìm hiểu sinh học: thực hành tìm hiều đặc điểm tế bào nhân sơ, nhân
thực, hoàn thiện mảnh ghép về cấu trúc nhân tế bào.
- Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: Vận dụng kiến thức giải thích
được cơ sở việc tạo Cừu Doly
- Năng lực tự chủ và tự học: Chủ động rèn kĩ năng tự đọc kênh hình kênh chữ và
hoàn thành nhiệm vụ học tập, tự phân công nhiệm vụ thành viên nhóm, tự lựa
chọn cách thức thực hiện nhiệm vụ. Tự trả lời trước các câu hỏi mục Dừng lại
và suy ngẫm.
- Năng lực hợp tác: Chủ động thảo luận nhóm Chuyên gia, nhóm mảnh ghép,
cặp đôi.
3. Phẩm chất:
- Chăm chỉ: Tích cực nghiên cứu tài liệu, thường xuyên theo dõi việc thực hiện
các nhiệm vụ được phân công. Tìm tòi và sáng tạo trong hoạt động chuyên gia
và mảnh ghép.
- Trách nhiệm: Chủ động hoàn thành phiếu học tập.
- Trung thực: Có ý thức báo cáo chính xác, khách quan, đúng thời hạn về kết
quả đã làm.
II. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU:
1. Giáo viên:
- Video nhân tế bào
- Phiếu học tập số 1: Tế bào nhân thực
PHIẾU HỌC TẬP SÓ 1 BÀI TẾ BÀO NHÂN THỰC
Học sinh hãy thảo luận theo nhóm và hoàn thành các bài tập sau.
Bài tập 1. Hoàn thành bảng so sánh giữa tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực. ( 10
điểm)
Đặc điểm
Tế bào nhân sơ
Tế bào nhân thực
1. Kích thước

2. Cấu trúc
3. Màng nhân
4. Hệ thống nội màng
5. Các bào quan có màng
bao bọc
Bài tập 2: So sánh về thành phần cấu trúc giữa tế bào thực vật và tế bào
động vật (10 điểm)
- Giống nhau: …………………1 điểm
- Khác nhau
Đặc điểm
Thành tế bào

Tế bào thực vật

Tế bào động vật

Lục lạp
Trung thể
Lysosome
- Bộ mảnh ghép về cấu trúc nhân tế bào.
2. Học sinh:
- SGK, vở ghi bài.
III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:
1. Hoạt động 1: Xác định nhiệm vụ học tập
a. Mục tiêu:
- Tạo hứng thú cho HS, khơi dậy mong muốn tìm hiểu kiến thức.
- HS xác định được nội dung bài học là tìm hiểu về đặc điểm chung tế bào nhân
thực; cấu tạo và chức năng của nhân tế bào.
b. Nội dung:
- Học sinh tham gia trò chơi: “Lật mảnh ghép” lần lượt trả lời các câu hỏi hiểu
biết về tế bào trong thời gian 5 phút.
Cách chơi:
+ Thể lệ: 1,5 điểm/ mỗi câu, trả lời được cả 6 câu và nói được tên chủ đề sẽ
được 10 điểm.

+ Nội dung: Gồm 6 mảnh ghép tương ứng 6 câu hỏi, trả lời được mỗi câu, mảnh
ghép được lật và hình ảnh lộ theo từng câu, trả lời được 6 câu sẽ lộ toàn hình
ảnh liên quan đến chủ đề.
Câu hỏi 1. Vi khuẩn thuộc loại tế nào nào? Đáp án: Tế bào nhân sơ.
Câu hỏi 2. Nếu cấp độ tổ chức cơ bản nhất của thế giới sống? Đáp án:Tế bào.
Câu hỏi 3. Kể tên các thành phần chính của tế bào nhân sơ? Đáp án: Màng sinh
chất, tế bào chất và vùng nhân.
Câu hỏi 4. Đây là vùng nằm giữa vùng màng sinh chất và vùng nhân của tế bào
nhân sơ? Đáp án: Tế bào chất.
Câu hỏi 5: Căn cứ vào thành tế bào phân loại ra vi khuẩn gram dương, gram âm
có ý nghĩa như thế nào trong y học?
a. Để dễ nuôi cấy vi khuẩn
b. Dùng vi khuẩn sản xuất kháng sinh.
c. Dùng kháng sinh đặc hiệu tiêu diệt từng loại vi khuẩn
d. Dùng vi khuẩn để sản xuất từng loại prôtêin cung cấp cho con người
Đáp án C.
Câu hỏi 6. Đây là 2 giới sinh vật lớn nhất trong sinh giới? Đáp án: Thực vật và
động vật.
c. Sản phẩm học tập:
Câu trả lời của học sinh cho các câu hỏi của trò chơi.
d. Tổ chức hoạt động:
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
Bước 1. Giao nhiệm vụ học tập
GV phổ biến cách chơi trò chơi “Lật mảnh HS nhận nhiệm vụ.
ghép” cho HS, tổ chức trò chơi cho HS.
Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ học tập
GV quan sát và làm trọng tài cho hoạt HS tham gia trò chơi.
động của HS.
Bước 3. Báo cáo, thảo luận
GV kiểm tra tính chính xác câu trả lời cho HS lắng nghe.
mỗi câu hỏi
Bước 4. Kết luận, nhận định
GV nhận xét kết quả trò chơi của HS và Học sinh lắng nghe nhận xét của giáo
dẫn dắt HS tiếp tục tìm hiểu các bào quan viên, xác định nhiệm vụ và cách thực
khác trong tế bào nhân thực.
hiện nghiên cứu chủ đề.

2. Hoạt động 2:
 
Gửi ý kiến