Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

SÁNG KIẾN MÔN TIẾNG VIỆT

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Huyền
Ngày gửi: 09h:43' 25-02-2025
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
UBND TỈNH HẢI DƯƠNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ NHẬN BIẾT
VÀ SỬ DỤNG BIỆN PHÁP SO SÁNH CHO HỌC SINH LỚP 3 THEO
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
Lĩnh vực: Tiếng Việt
Cấp học: Tiểu học

Năm học 2024 - 2025

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả nhận biết và sử
dụng biện pháp so sánh cho học sinh lớp 3 theo định hướng phát triển năng
lực.”
2. Lĩnh vực/cấp học áp dụng sáng kiến: Tiếng Việt lớp 3.
3. Tác giả:
Họ và tên: Đào Thị Liễu
Nam ( nữ): nữ
Sinh ngày: 11/10/1975
Trình độ chuyên môn: ĐHSP
Giáo viên - Trường Tiểu học Lai Cách - Cẩm Giàng - Hải Dương.
Điện thoại: 0984 818 295.
4. Đồng tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Dung

Nam ( nữ): nữ

Sinh ngày: 01/11/1987
Trình độ chuyên môn: ĐHSP
PHT - Trường Tiểu học Lai Cách - Cẩm Giàng - Hải Dương.
Điện thoại: 0984 818 295.
5. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường Tiểu học Lai Cách
Thị trấn Lai Cách - huyện Cẩm Giàng - tỉnh Hải Dương.
Điện thoại: 0220 3786238
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường Tiểu học Lai Cách
Thị trấn Lai Cách - huyện Cẩm Giàng - tỉnh Hải Dương.
Điện thoại: 0220 3786238
7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
Giáo viên đang giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 3; học sinh được trang
bị đầy đủ sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, trường lớp có phương tiện
giảng dạy hiện đại: ti vi, máy chiếu, máy tính, mạng internet,
học10.vn,chuongtrinhmoi.com

8. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Thực hiện từ năm học 2023 2024
9. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền:
Tôi cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền của bất kì cá nhân,
cơ quan, tổ chức nào.
NHÓM TÁC GIẢ

XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ ÁP DỤNG
SÁNG KIẾN

XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GD&ĐT

MỤC LỤC
NỘI DUNG

TRANG

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
PHỤ LỤC
TÓM TẮT SÁNG KIẾN
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến

1

2. Cơ sở lý luận của vấn đề

2

3. Thực trạng của vấn đề

5

4. Một số biện pháp thực hiện

6

5. Kết quả đạt được

36

6. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng

39

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

42

TÀI LIỆU THAM KHẢO

43

DANH MỤC VIẾT TẮT

44

KẾ HOẠCH BÀI DẠY MINH HOẠ

45

TÓM TẮT SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
- Xuất phát từ mục tiêu giáo dục bậc Tiểu học.
- Căn cứ vào mục tiêu và yêu cầu cần đạt của môn Tiếng Việt lớp 3.
- Dựa trên đặc điểm tâm lý và sinh lý của học sinh cùng với các yếu tố đặc thù
của địa phương.
- Những hạn chế trong khả năng vận dụng sử dụng so sánh của học sinh.
- Xuất phát từ thực tế giảng dạy.
2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng
2.1. Điều kiện áp dụng
Giáo viên đạt trình độ chuẩn hoặc trên chuẩn, có kiến thức vững vàng; thiết
bị và đồ dùng giảng dạy phải chuẩn bị đầy đủ.
2.2. Thời gian: Từ năm học 2023 - 2024.
2.3. Đối tượng áp dụng: Học sinh lớp 3H.
3. Nội dung sáng kiến
3.1. Tính mới của sáng kiến
Sáng kiến này đề xuất một số biện pháp giúp học sinh rèn luyện kỹ năng
giao tiếp hiệu quả, đồng thời hỗ trợ giáo viên xây dựng quy trình giảng dạy phù
hợp với năng lực tiếp thu của các em. Đồng thời, chúng tôi sẽ nghiên cứu và làm
rõ những nguyên nhân còn tồn tại trong việc hướng dẫn học sinh viết câu có hình
ảnh so sánh ở lớp 3. Cũng từ đó giúp cho các kiến thức, kĩ năng của học sinh
được tiếp thu và củng cố một cách vững chắc, học sinh hiểu, ghi nhớ bài lâu hơn
và vận dụng vào viết câu có hình ảnh hay hơn.
3.2. Khả năng áp dụng của sáng kiến
Sáng kiến: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả nhận biết và sử dụng biện
pháp so sánh cho học sinh lớp 3 theo định hướng phát triển năng lực.” mà chúng
tôi nghiên cứu, tìm tòi với mong muốn giới thiệu thêm một số biện pháp giúp học
sinh học làm tốt dạng bài tìm hình ảnh so sánh hoặc viết câu có hình ảnh so sánh.

Đồng thời cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho các giáo viên lớp 3 nói riêng và
giáo viên ở tất cả các khối lớp nói chung khi giảng dạy môn Tiếng Việt.
3.3. Lợi ích thiết thực của sáng kiến
Áp dụng sáng kiến này vào dạy học sẽ giúp học sinh được tiếp thu, củng cố
khắc sâu kiến thức đồng thời cũng tạo tâm thế, gây hứng thú học tập cho học sinh
tránh căng thẳng, mệt mỏi, sợ hãi khi học văn. Nhờ đó mà học sinh tiếp thu kiến
thức đã học một cách nhẹ nhàng, hiệu quả và vận dụng tốt để viết được câu văn
hay, giàu hình ảnh.
4. Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến
Các biện pháp này cũng là một cách để giúp giáo viên truyền thụ kiến thức
cho học sinh và giúp học sinh củng cố được kiến thức một cách nhẹ nhàng, hiệu
quả. Từ đó vận dụng tốt kiến thức đã được lĩnh hội để nhận biết và viết câu có
hình ảnh so sánh.
5. Đề xuất, kiến nghị để thực hiện áp dụng mở rộng sáng kiến
5.1. Đối với các cấp quản lý: Cần tạo cơ hội cho giáo viên tiếp cận với các giáo
Elearning, giáo án điện tử, tham gia các chuyên đề, và quan sát các giờ dạy thực
nghiệm, từ đó giúp nâng cao chất lượng giảng dạy.
5.2. Đối với nhà trường và tổ chuyên môn: Cần phối hợp chặt chẽ với các cấp
chính quyền để bảo đảm trang bị đầy đủ cơ sở vật chất và thiết bị phục vụ công
tác giảng dạy. Đồng thời, tạo cơ hội cho giáo viên tham gia các hoạt động giao
lưu, chia sẻ kinh nghiệm với các trường khác, nhằm nâng cao trình độ chuyên
môn.
5.3. Đối với giáo viên: Giáo viên không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên
môn, tổ chức giờ dạy hiệu quả, xây dựng cho học sinh có thói quen nề nếp tốt
trong học tập.

1

MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đặt ra mục tiêu không chỉ xây dựng
nền tảng vững chắc về thể chất, tinh thần, phẩm chất và năng lực cho học sinh
Tiểu học mà còn chú trọng bồi dưỡng những giá trị cốt lõi như nhận thức về bản
thân, gia đình, cộng đồng, đồng thời hình thành thói quen và kỷ luật cần thiết
trong học tập, sinh hoạt. Mục tiêu này không chỉ trang bị cho học sinh kiến thức,
đạo đức, thể chất, thẩm mỹ và kỹ năng cơ bản để tiếp tục bậc Trung học cơ sở,
mà còn thúc đẩy sự phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu giáo dục trong thế kỷ
XXI.
Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học được cấu thành từ nhiều bộ phận, bao
gồm: Bài đọc, Bài viết, và các hoạt động trao đổi. Trong tiết học Tiếng Việt - Bài
đọc, phần Luyện tập đóng vai trò quan trọng, giúp học sinh rèn luyện khả năng
diễn đạt bằng lời nói một cách rõ ràng, sinh động và cụ thể, đồng thời biểu đạt
được mọi sắc thái cảm xúc một cách tự nhiên và chính xác. Nói và viết là hai hình
thức giao tiếp quan trọng, giúp học sinh phát triển tư duy, tiếp thu tri thức và trao
đổi tư tưởng, cảm xúc, quan điểm. Qua đó, các em không chỉ hiểu nhau hơn mà
còn học cách hợp tác trong cuộc sống. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng đặt ra là làm
thế nào để giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng từ ngữ và câu văn một cách hiệu
quả, nâng cao chất lượng dạy học, đồng thời phù hợp với khả năng tiếp thu của
các em. Cũng cần chú trọng đến việc tổ chức và triển khai phần Luyện tập trong
tiết học sao cho đạt được kết quả như mong đợi.
So sánh là một vấn đề mới đối với học sinh lớp 3. Nhờ phép so sánh, người
viết có thể khắc họa những hình ảnh sinh động, gợi lên những cảm xúc thẩm mỹ
trong sáng và đẹp đẽ, dễ dàng chạm đến trái tim người đọc và người nghe. Đây
được coi là một trong những công cụ mạnh mẽ nhất trong việc tái hiện đời sống,
đồng thời phát triển trí tưởng tượng, khả năng quan sát và đánh giá con người.
Mục tiêu của việc giảng dạy là hình thành và phát triển cho học sinh các kỹ
năng nhận thức và biểu cảm, giúp các em biết kết hợp ấn tượng thính giác và thị

2
giác để nhận diện hiện tượng so sánh trong câu văn, câu thơ. Đồng thời, cung cấp
những kiến thức cơ bản về biện pháp so sánh, trang bị cho học sinh các kỹ năng
học tập, giao tiếp thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày. Quan trọng hơn, qua đó,
bồi dưỡng tình yêu với tiếng Việt, hình thành thói quen gìn giữ sự trong sáng của
ngôn ngữ và phát triển nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Xuất
phát từ thực tế, qua học tập nghiên cứu và trải nghiệm của bản thân, tôi thực sự
quan tâm và lựa chọn nghiên cứu: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả nhận biết
và sử dụng biện pháp so sánh cho học sinh lớp 3 theo định hướng phát triển năng
lực.”
2. Cơ sở lý luận của vấn đề
2.1. Cơ sở lý luận
Môn Tiếng Việt là một môn học đặc biệt, vừa là một lĩnh vực khoa học
nghiên cứu về ngôn ngữ, vừa là công cụ giao tiếp quan trọng, chiếm tỉ lệ thời gian
dạy học lớn nhất trong chương trình giáo dục. Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở cấp
Tiểu học là trang bị cho học sinh những kỹ năng cơ bản trong việc sử dụng tiếng
Việt (nghe, đọc, nói, viết) để phục vụ học tập và giao tiếp trong các hoạt động của
lứa tuổi. Qua quá trình dạy học tiếng Việt, học sinh không chỉ được rèn luyện các
kỹ năng tư duy mà còn tiếp thu những kiến thức cơ bản về xã hội, tự nhiên và con
người. Dạy Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực là quá trình giúp học
sinh hình thành và nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt trong cả học tập và cuộc
sống, phù hợp với từng giai đoạn phát triển. Đặc biệt, trong giai đoạn này, việc
dạy học sinh phát triển năng lực tiếp nhận lời nói, bao gồm khả năng nghe - hiểu
và nói - viết, là một yếu tố quan trọng.
Nhờ vào phép so sánh, chúng ta có thể hình dung đối tượng một cách rõ ràng,
sinh động và cụ thể hơn, từ đó cảm nhận được sự phong phú và đa chiều trong
cách nhìn nhận về thế giới xung quanh. Bằng cách đối chiếu công khai hai đối
tượng, phép so sánh khơi gợi cho người đọc, người nghe một không gian liên
tưởng mới mẻ, tạo ra những tri giác và nhận thức đầy bất ngờ, sinh động. Phép so
sánh không chỉ làm sáng tỏ các đặc điểm của sự vật mà còn mở ra một góc nhìn
sâu sắc, lạ lẫm, kích thích trí tưởng tượng và cảm xúc.

3
So sánh có vai trò và tác dụng quan trọng đối với người đọc và người nghe,
vì nó làm nổi bật đặc điểm, hình ảnh và cảm xúc trong mỗi câu chuyện.
- Nhận biết biện pháp so sánh.
- Mục đích, sử dụng biện pháp so sánh.
- Phát triển kỹ năng biểu đạt rõ ràng, sinh động trong cả lời nói và viết,
giúp các em mô tả sự vật một cách cụ thể, ấn tượng.
- Khơi dậy sự sáng tạo, giúp học sinh liên tưởng và tạo ra những hình ảnh,
cảm xúc mạnh mẽ trong văn bản.
2.2. Cơ sở thực tiễn
Tiếng Việt là môn học cơ bản trong chương trình giáo dục phổ thông, có vai
trò quan trọng trong việc phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ của học sinh, giúp
các em làm chủ các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết để giao tiếp và học tập hiệu quả.
Năng lực sử dụng ngôn ngữ của học sinh được bộc lộ qua bốn kỹ năng chính:
nghe, nói, đọc và viết, mỗi kỹ năng góp phần quan trọng trong việc phát triển khả
năng giao tiếp và học tập của các em.
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là phương pháp giảng dạy tập
trung vào việc tối ưu hóa và nâng cao năng lực của học sinh, giúp các em phát
triển toàn diện các kỹ năng cần thiết trong học tập và cuộc sống. Trong quá trình
dạy học theo định hướng phát triển năng lực, người học sẽ chủ động thực hiện các
nhiệm vụ nhận thức dưới sự hướng dẫn và tổ chức của giáo viên. Do đó, mỗi giáo
viên, đặc biệt là giáo viên lớp 3, cần nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của
việc áp dụng phương pháp này để phát triển toàn diện năng lực học sinh. So sánh,
như một thao tác tư duy cơ bản, không chỉ giúp làm rõ ý tưởng mà còn làm cho
lời nói trở nên cụ thể, sinh động và dễ hiểu. Phép so sánh giúp người nói, người
viết tạo ra những hình ảnh cụ thể, gợi cảm, từ đó biểu đạt được các sắc thái cảm
xúc và ý nghĩa một cách hiệu quả.
Qua nhiều năm giảng dạy, tôi nhận thấy việc nhận diện và áp dụng biện pháp
tu từ so sánh trong bài học vẫn còn gặp nhiều trở ngại. Điều này đã làm giảm hiệu
quả giảng dạy, khiến học sinh chưa thể tiếp thu và sử dụng biện pháp so sánh một
cách hiệu quả trong việc nói và viết.

4
Học sinh có thể nhận diện được các sự vật được so sánh, hình ảnh so sánh,
các vế so sánh, từ chỉ so sánh, cũng như đặc điểm so sánh được đề cập trong câu,
thơ hoặc văn bản. Tuy nhiên, các em thường thiếu lý thuyết cụ thể và rõ ràng về
biện pháp so sánh, dẫn đến việc cảm nhận còn mơ hồ và thiếu chính xác trong
nhiều trường hợp. Về phía giáo viên, trong quá trình giảng dạy về phép so sánh,
đôi khi còn gặp khó khăn trong việc lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức
học tập phù hợp với từng nội dung và yêu cầu. Điều này ảnh hưởng đến khả năng
giúp học sinh nhận biết phép so sánh và rèn luyện kỹ năng thực hành một cách dễ
nhớ, lâu dài và hiệu quả.
Hơn nữa, việc đánh giá kỹ năng sử dụng phép so sánh của học sinh hiện nay
vẫn thiếu các tiêu chí rõ ràng và cụ thể, khiến quá trình đánh giá trở nên không
nhất quán và khó đảm bảo tính chính xác. Nhiều khi, việc đánh giá của giáo viên
vẫn mang tính cảm tính và dựa trên kinh nghiệm cá nhân. Công tác sửa lỗi, chữa
bài đôi khi chỉ tập trung vào kết quả mà chưa chú trọng đến việc củng cố kiến
thức nền tảng và giúp học sinh nắm vững các dạng bài. Những yếu điểm trong
quá trình giảng dạy và đánh giá này đã góp phần làm giảm chất lượng dạy và học
về phép tu từ so sánh.
3. Thực trạng của vấn đề
Sau nhiều năm giảng dạy lớp 3, tôi nhận thấy việc dạy kiến thức về phép so
sánh vẫn còn một số hạn chế cơ bản sau:
3.1. Về phía giáo viên
- Mặc dù giáo viên đã nhận thức đúng về chất lượng giáo dục, chú trọng đến
việc dạy theo đối tượng học sinh, chuẩn kiến thức và kỹ năng, đồng thời đổi mới
phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng, nhưng vẫn còn một số giáo viên
chưa áp dụng phương pháp dạy học phù hợp. Một số giáo viên có xu hướng làm
thay học sinh, lo ngại học sinh không hiểu nên thường giải thích nhiều lần, mà
chưa chú trọng vào việc khắc sâu kiến thức, cũng như chưa hướng dẫn học sinh
tự ghi nhớ và ghi lại những điểm trọng tâm của bài học.
- Nhiều giáo viên hiện nay vẫn gặp khó khăn trong việc giải thích và hướng
dẫn học sinh một cách chi tiết, rõ ràng về lý thuyết biện pháp so sánh, vì sách

5
giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 chủ yếu chỉ tập trung vào các bài luyện tập thực hành
mà không cung cấp kiến thức lý thuyết đầy đủ. Điều này dẫn đến việc giảng dạy
và lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp về biện pháp so sánh chưa thật sự hiệu
quả.
- Giáo viên còn gặp khó khăn trong việc xác định mức độ phù hợp của nội
dung bài học, dẫn đến việc giảng dạy có thể không tương xứng với khả năng tiếp
thu của học sinh. Các thầy cô thường chú trọng đến việc giúp học sinh nhận biết
phép so sánh, nhưng lại ít chú ý đến việc phát triển khả năng cảm nhận và vận
dụng phép so sánh một cách sáng tạo trong giao tiếp và viết văn.
3.2. Về phía học sinh
Với khả năng tư duy chủ yếu ở mức độ cụ thể và trực quan, học sinh Tiểu
học còn gặp khó khăn trong việc cảm thụ văn học và tiếp nhận các biện pháp
nghệ thuật tu từ. Điều này xuất phát từ việc vốn hiểu biết văn học của các em còn
hạn chế, khiến cho sự nhận thức và vận dụng các biện pháp nghệ thuật như so
sánh, nhân hoá chưa được phát triển đầy đủ và sâu sắc. Với khả năng nhìn nhận
sự vật chủ yếu ở mức độ cụ thể, học sinh lớp 3 gặp khó khăn trong việc cảm nhận
những hình ảnh trừu tượng hoặc khái quát. Chính vì vậy, việc giúp các em nhận
biết và thực hành phép so sánh, một biện pháp yêu cầu tư duy trừu tượng, là một
thách thức lớn, đòi hỏi phương pháp giảng dạy phù hợp và sáng tạo.
- Học sinh chưa hình thành thói quen phân tích các yếu tố trong đề bài,
thường bỏ qua hoặc làm thiếu sót các ý quan trọng khi trả lời.
- Khi gặp các câu có hình ảnh so sánh mà không có từ chỉ sự so sánh, học
sinh thường cảm thấy bối rối và khó hiểu.
- Học sinh chỉ có thể nhận diện hình ảnh so sánh có sẵn trong bài học mà
chưa thể tự tạo ra hoặc sử dụng hình ảnh so sánh trong giao tiếp, viết văn về
những trải nghiệm thực tế của mình.
3.3. Về phía cha mẹ học sinh
- Nhiều bậc phụ huynh ít chú trọng đến việc học của con do lịch trình công
việc căng thẳng, phải lo toan cho cuộc sống mưu sinh, hay do những khó khăn
trong nông nghiệp. Bên cạnh đó, một phần còn vì nhận thức chưa đầy đủ về vai

6
trò của giáo dục, cùng với sự hạn chế trong vốn hiểu biết về cách thức hỗ trợ con
em học tập hiệu quả.
- Văn hoá đọc chưa được chú trọng phụ huynh ít đầu tư vào việc mua truyện,
sách tham khảo cho con em để phát triển vốn từ vựng, thay vào đó, họ thường ưu
tiên đáp ứng những sở thích cá nhân của các em, mà không chú trọng đến việc bồi
dưỡng kiến thức và kỹ năng cần thiết cho việc học.
- Một bộ phận cha mẹ không coi trọng môn Tiếng Việt, chỉ thích con học giỏi
Toán…
3.4. Nghiên cứu chương trình và khảo sát thực tế
Dựa trên tình hình thực tế ở trường nơi chúng tôi đang công tác và lớp 3 mà
chúng tôi phụ trách, chúng tôi đã thực hiện các phương pháp dạy học tại lớp 3E
và 3H theo các bước cụ thể như sau:
3.4.1. Khám phá và phân tích các nội dung đọc hiểu được giới thiệu trong
sách Tiếng Việt 3 của bộ sách Cánh Diều để nắm bắt cách tiếp cận và phát
triển khả năng tư duy của học sinh.
Để dạy tốt phần này, giáo viên cần bắt đầu bằng việc nghiên cứu sâu sắc nội
dung và chương trình sách giáo khoa, qua đó thiết kế phương pháp và chiến lược
giảng dạy sáng tạo, phù hợp với nhu cầu và khả năng tiếp thu của học sinh. Trong
Chương trình GDPT 2018, phần Luyện từ và câu không tách riêng thành một tiết
mà được lồng ghép tiết 2 bài đọc phần Luyện tập.
- Ý tưởng biên soạn sách cần tập trung vào việc làm cho học sinh cảm nhận
được sự hấp dẫn và thú vị của việc học tiếng Việt, đồng thời khơi dậy sự sáng tạo
trong mỗi em. Mỗi bài học và hoạt động học tập được thiết kế phải hướng tới việc
phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học của học sinh một cách rõ ràng
và hiệu quả, phù hợp với mục tiêu và yêu cầu của Chương trình Tiếng Việt 3
trong bộ sách Cánh Diều.
- Các bài học trong sách được thiết kế để mở ra cơ hội cho học sinh tham gia
vào các hoạt động giao tiếp tự nhiên, từ đó tạo điều kiện cho giáo viên tổ chức
các phương pháp giảng dạy linh hoạt, đáp ứng yêu cầu phát triển phẩm chất và

7
năng lực của học sinh. Ngoài ra, việc dạy học tích hợp và phân hóa được chú
trọng nhằm phù hợp với sự đa dạng trong nhu cầu học tập của từng em.
- Các chủ điểm trong sách được lựa chọn phong phú, hợp lý và gần gũi với
học sinh như Măng non, Cộng đồng, Đất nước, Ngôi nhà chung,... Nội dung bài
học được kết nối một cách mạch lạc giữa các kỹ năng và được thiết kế theo
hướng mở, khuyến khích sự sáng tạo. Trong các tiết học Tiếng Việt, biện pháp so
sánh được lồng ghép phần Luyện tập (10 bài đọc được chia đều ở 2 học kì)
- Hệ thống bài tập về so sánh được lồng ghép trong tiết Tiếng Việt (Bài đọc) ở
các dạng bài mô hình sau:
+ Mô hình 1: So sánh Sự vật - Sự vật
+ Mô hình 2: So sánh Con người - Sự vật
+ Mô hình 3: So sánh Âm thanh - Âm thanh
+ Mô hình 4: So sánh Hoạt động - Hoạt động
Một số địa chỉ khai thác, sử dụng biện pháp so sánh trong chương trình
môn Tiếng Việt 3:
CÁC TIẾT DẠY BIỆN PHÁP SO SÁNH
(Tiếng Việt 3, Bộ sách Cánh Diều)
STT

1

TUẦN

5

BÀI

Bài đọc 2: Thả
diều. So sánh

NỘI DUNG

- Làm quen với biện pháp so sánh
giúp học sinh nhận biết sự vật, từ
chỉ sự so sánh và hình ảnh trong câu
văn.

TRANG

36

6

Bài đọc 4: Hai bàn - Nhận biết từ so sánh, trường hợp
tay em. Luyện tập ẩn từ so sánh.
về so sánh.

42

3

15

Bài đọc 1: Người
chạy cuối cùng.
Luyện tập về so
sánh.

104

4

16

5

19

2

- Nhận biết sự vật so sánh với nhau
bằng những đặc điểm giúp làm nổi
bật sự tương đồng giữa các sự vật
được so sánh.
Bài đọc 1: Tiếng - Nhận biết và hoàn thành các hình
đàn. Luyện tập về ảnh so sánh (so sánh âm thanh với
âm thanh)
so sánh.
Bài đọc 2: Sông - Nhận biết hình ảnh so sánh giữa sự
Hương. Luyện tập vật với sự vật làm sinh động và dễ

107
7

8
hình dung hơn về sự vật được miêu
tả.

về so sánh.

6

Bài đọc 3: Chợ nổi - Hiểu rõ sự vật cần so sánh, đồng
Cà Mau. Luyện tập thời chọn từ so sánh phù hợp để thể
về so sánh. Từ chỉ hiện sự tương đồng.
đặc điểm.

20

7

20

8

21

9

29

10

34

10

Bài đọc 4: Sự tích
- Giúp học sinh làm rõ đặc điểm và
thành Cổ Loa.
Luyện tập về so hình ảnh so sánh.
sánh.
- Nhận biết và sử dụng phép tu từ so
Bài đọc 4: Hương sánh giữa hai hoạt động có thể giúp
làng. Luyện tập về học sinh diễn đạt sự tương đồng
trong cách thức hoặc mức độ của các
so sánh.
hành động.

14

20

Bài đọc 4: Ở lại với
chiến khu. Luyện - Phân tích được hình ảnh so sánh.
tập về câu khiến, so
sánh.
- Luyện tập về so sánh giúp học
Bài đọc 6: Người
hồi sinh di tích. sinh biết cách đặt câu có hình ảnh
Luyện tập về so so sánh để làm câu văn trở nên sinh
động và dễ hình dung.
sánh.

76

112

3.4.2. Ra đề khảo sát (Đợt 1)
- Về tâm lí: Tôi đưa ra câu hỏi Test như sau:
+ Em thấy thế nào khi làm các bài tập phần Luyện tập của mỗi tiết Tiếng Việt
?
Tôi nhận được câu trả lời như sau:

Lớp

Lo sợ

Sĩ số

Lúng túng, khó

Tự tin, năng động,

khăn

sáng tạo

SL

%

SL

%

SL

%

3E

34

12

35,3

20

58,8

2

5,9

3H

35

12

34,3

21

60

2

5,7

- Về kiến thức: Sau khi dạy bài Thả diều (Tiếng Việt 3 - Trang 36, 37 tập
1- Cánh Diều), tôi xây dựng đề như sau:

9
Câu 1: Xếp các từ ngữ có hình ảnh so sánh trong đoạn thơ sau vào bảng phù hợp:
Ơ cái dấu hỏi
Trông ngộ ngộ ghê
Như vành tai nhỏ
Hỏi rồi lắng nghe.
Phạm Như Hà
Sự vật 1

Từ so sánh

Sự vật 2

Câu 2: Câu nào có hình ảnh so sánh?
A. Những chú gà con chạy rất nhanh.
B. Những chú gà con chạy như lăn tròn.
C. Những chú gà con chạy tung tăng
Câu 3: Viết một câu có hình ảnh so sánh rồi gạch chân sự vật so sánh.
3.4.3. Kết quả
Sĩ

Điểm 9 -10

Điểm 7- 8

Điểm 5 - 6

số

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

3E

34

6

17,65

14

41,17

9

26,47

5

14,71

3H

35

6

17,2

13

37,1

11

31,4

5

14,3

Lớp

Điểm dưới 5

Từ kết quả trên tôi thấy phần đông các em ở hai lớp rất lúng túng, thiếu tự tin
khi tìm và viết câu có hình ảnh so sánh. Chất lượng học sinh hai lớp tương đương
nhau. Số học sinh đạt điểm cao ít, số học sinh đạt điểm dưới 5 còn nhiều. Dựa
trên việc hiểu rõ từng nhóm học sinh trong lớp, tôi có thể lựa chọn phương pháp
giảng dạy phù hợp để phát huy tối đa khả năng của các em. Điều này giúp các học
sinh khá giỏi phát triển thêm, trong khi các em học chậm cũng nhận được sự hỗ
trợ cần thiết để tiến bộ. Đồng thời, tôi cũng có biện pháp phù hợp giúp học sinh
học còn chậm, học sinh khuyết tật biết viết câu có đúng yêu cầu, có thể vận dụng
làm được câu giàu hình ảnh. Căn cứ vào thực trạng trên, chúng tôi đã lựa chọn
một số giải pháp để ứng dụng, nâng cao chất lượng nói - viết câu có hình ảnh so
sánh cho học sinh lớp 3.

10
4. Các biện pháp thực hiện
4.1. Biện pháp 1: Tạo hứng thú, khơi nguồn cảm hứng học môn Tiếng Việt
cho học sinh
Cảm hứng là động lực có thúc đẩy ham muốn học giao tiếp, viết câu. Cảm
hứng bắt nguồn từ văn học (sách, báo, truyện…..), từ hiểu biết cuộc sống hằng
ngày. Nhờ những cảm thụ tinh tế mà các em nắm được thông qua mỗi tiết học.
Chính vì vậy, giáo viên cần tạo ra môi trường học tập thú vị, khơi gợi sự tò
mò và hứng thú ở học sinh. Để làm được điều này, người thầy phải không ngừng
nâng cao kiến thức chuyên môn và sáng tạo trong việc áp dụng phương pháp
giảng dạy, từ đó giúp học sinh dễ dàng tiếp thu bài học và yêu thích mỗi tiết học.
Thông qua môn Tiếng Việt, học sinh có cơ hội khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên
và con người qua các bài học. Các em không chỉ nâng cao hiểu biết về thế giới
xung quanh mà còn phát triển tình yêu đối với cuộc sống, từ đó tạo dựng sự gắn
bó với môi trường và cộng đồng.
4.1.1. Tạo tâm thế cho học sinh khi học môn Tiếng Việt
“Tạo tâm thế” cho học sinh trong giờ học Tiếng Việt thực sự là việc giúp các
em có một tinh thần thoải mái, tâm lý vững vàng và hứng khởi khi tham gia vào
các hoạt động học. Điều này không chỉ giúp các em tự tin mà còn kích thích sự
say mê, đam mê học hỏi, tạo điều kiện để các em tiếp thu kiến thức một cách hiệu
quả.
Để tạo tâm thế tích cực cho học sinh, giáo viên cần xây dựng cho mình một
trạng thái tinh thần thoải mái và gần gũi. Sự thân thiện, hòa đồng và nhiệt huyết
trong cách tiếp cận sẽ giúp học sinh cảm thấy thoải mái, tự tin và sẵn sàng tham
gia vào các hoạt động học tập. Để làm được điều này, giáo viên cần linh hoạt điều
chỉnh phương pháp "tạo tâm thế" sao cho phù hợp với từng bài học. Mỗi khi đứng
trên bục giảng, giáo viên không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là người
dẫn dắt học sinh vào một không gian học tập mới mẻ, đầy hứng khởi và nhiệt
huyết. Đó là lúc chúng ta cảm nhận được trách nhiệm cao cả trong việc khơi gợi
tình yêu và niềm đam mê đối với tiếng Việt, giúp các em khám phá vẻ đẹp và sự
phong phú của ngôn ngữ.

11
Ví dụ: Khi dạy bài: Hai bàn tay em (Bài đọc 4: Tiếng Việt 3 - Tập 1- Trang
42 - sánh Cánh Diều), giáo viên yêu cầu học sinh thả lỏng, nhắm mắt và cảm
nhận về đôi bàn tay của mình chia sẻ cảm nhận đó cho các bạn cùng nghe. Học
sinh thoải mái kể về những cảm nhận của mình như: đôi bàn tay em trắng, tròn,
nhỏ nhắn….. Khi các em thoải mái kể như vậy, trong đầu các em đã vụt qua các
hình ảnh về đôi bàn tay của mình có điểm gì khác và giống với đôi bàn tay của
bạn, thôi thúc các em tìm hiểu, khám phá nội dung bài đọc có những điều gì khác
mà em chưa được trải nghiệm.
4.1.2. Tạo hứng thú học tập cho học sinh thông qua trao đổi, tranh luận và
chia sẻ
Trong các hoạt động học tập được giáo viên tổ chức, học sinh không chỉ tiếp
nhận kiến thức một cách thụ động mà còn chủ động tham gia vào quá trình học.
Các em tự tìm kiếm, khám phá và phát hiện ra kiến thức mới, từ đó áp dụng vào
thực tiễn để giải quyết các vấn đề cụ thể. Phương pháp này giúp học sinh phát
triển khả năng tự học, tư duy sáng tạo và khả năng phản biện, đồng thời thúc đẩy
sự hứng thú và động lực học tập. Thông qua mỗi tiết học, học sinh không chỉ tiếp
thu kiến thức mà còn phát triển khả năng sáng tạo của bản thân. Cho nên phương
pháp hữu hiệu để tạo cảm hứng cho học sinh đó là cho học sinh trao đổi, tranh
luận và chia sẻ về sự vật mà học sinh sẽ viết.
Ví dụ: Khi dạy bài: Thả diều (Bài đọc 2: Tiếng Việt 3 - Tập 1- Trang 36 sách Cánh Diều)
Tác giả so sánh cánh diều với những gì?
Ở đây muốn tìm được câu trả lời đúng các em phải tranh luận, liên tưởng,
hình dung để tranh luận, chia sẻ câu mình định viết sao cho đúng về nội dung,
chặt chẽ về cấu trúc.
4.1.3. Tạo hứng thú cho học sinh bằng việc tổ chức góc Tiếng Việt, xây dựng
tủ sách Tiếng Việt ngay tại lớp
Đọc sách là một biện pháp hữu hiệu để bồi đắp tình yêu với môn học. Đọc
sách giúp các em mở rộng vốn từ, vốn sống, vốn hiểu biết. Sách là cánh của thần
kì mở ra nhiều điều mới lạ, hấp dẫn. Những quyển truyện, những câu văn giàu

12
hình ảnh có sức hút vô cùng lớn với các em. Thật đáng tiếc nếu ta không xây
dựng ngay tại lớp tủ sách Tiếng Việt để truyền cảm hứng, tình yêu và lòng say mê
học Tiếng Việt tới các em. Thực tế cho thấy, em nào hứng thú đọc sách sẽ có vốn
kiến thức phong phú viết được câu trả lời hay, sinh động và mạnh dạn, tự tin chia
sẻ kiến thức mình tích lũy vào nội dung bài học.

Do đó, chúng tôi tích cực sưu tầm những tài liệu, những câu chuyện để giới
thiệu tới các em. Khuyến khích bạn nào có cuốn sách hay mang đến lớp để nhiều
bạn cùng được đọc. Các em hào hứng góp những cuốn sách hay để cùng các bạn
trong lớp được đọc nhiều cuốn sách quý. Nhờ vậy, tủ sách của lớp tôi rất nhiều
đầu sách và đa dạng về nội dung. Nó trở thành hành trang hữu ích cho các em
thực hiện tích luỹ vốn từ và viết câu giàu hình ảnh.
4.2. Biện pháp 2: Dạy phép so sánh theo định hướng phát triển năng lực
Dạy biện pháp tu từ so sánh là một phần không thể thiếu trong quá trình học
môn Tiếng Việt. Đặc biệt, với học sinh lớp 3, đây là một chủ đề khá mới lạ và
trừu tượng. Để giúp các em dễ dàng tiếp cận và tránh bị nhầm lẫn với các kiểu bài
khác, giáo viên cần áp dụng một phương pháp hướng dẫn khoa học và rõ ràng.
Dưới đây là các bước cần thiết mà giáo viên có thể áp dụng khi dạy biện pháp so
sánh:
- Đọc và tìm kiếm: Dạy học sinh đọc kỹ văn bản, chú ý các từ ngữ chỉ sự so
sánh.

13
- Xác định đối tượng so sánh: Giúp học sinh nhận diện sự vật được so sánh
và đối tượng được dùng để so sánh.
- Giải thích ý nghĩa: Khuyến khích học sinh giải thích vì sao tác giả lại chọn
phép so sánh đó.
- Thực hành: Cung cấp nhiều cơ hội để học sinh thực hành tìm sự vật so sánh
qua các bài tập thực tế và thảo luận.Qua các bước này, học sinh không chỉ học
cách sử dụng phép so sánh mà còn phát triển năng lực tư duy và khả năng làm
việc nhóm, giao tiếp hiệu quả.
Ví dụ: Bài tập 2 (Tiếng Việt 3 - Tập 1- Trang 37 - sách Cánh Diều)
Đọc và chỉ ra sự vật được so sánh với nhau trong các câu thơ:
Trái nhót như ngọn đèn tín hiệu
Trỏ lối sang mùa hè.
Quả cà chua như cái đèn lồng nhỏ xíu
Thắp màu đông ấm những đêm thâu.
Quả ớt như ngọn lửa đèn dầu
Chạm đầu lười - chạm vào sức nóng.
Phạm Tiến Duật
Giáo viên hướng dẫn học sinh làm như sau:
- Đọc nội dung và yêu cầu bài tập.
- Hướng dẫn học sinh tìm hai đối tượng trong phép so sánh: Một là sự vật
(hoặc hiện tượng) được miêu tả, và hai là sự vật (hoặc hiện tượng) dùng để so
sánh.
Ví dụ: Sự vật được nhắc đến trong 2 câu thơ đầu là gì? ( trái nhót - ngọn đèn
tín hiệu)
- Học sinh cùng giáo viên xác định rõ yêu cầu bài tập.
- Giáo viên có thể giúp học sinh hiểu nghĩa một số từ ngữ chỉ sự vật có trong
bài (nếu như học sinh chưa hiểu rõ nghĩa của từ ngữ ấy). Khuyến khích học sinh
trả lời câu hỏi: "Vậy cái gì đang được so sánh với cái gì?"
- Sau khi xác định các sự vật được so sánh, yêu cầu học sinh giải thích tại sao
tác giả lại chọn dùng phép so sánh đó.

14
Ví dụ: "Quả cà chua như cái đèn lồng nhỏ xíu"
- "Quả cà chua" được so sánh với "cái đèn lồng nhỏ xíu" để nhấn mạnh
đặc điểm hình dáng tròn trịa và màu sắc tươi sáng của quả cà chua.
- Học sinh có thể thảo luận theo nhóm hoặc chia sẻ ý kiến cá nhân về những
phép so sánh mà các em tìm được.
Ví dụ: "Theo bạn, tại sao tác giả lại so sánh quả cà chua với cái đèn lồng nhỏ
xíu ?"
"quả cà chua" trong câu thơ này thể hiện sự tươi sáng, nhỏ nhắn và xinh
xắn, giống như một chiếc đèn lồng nhỏ phát sáng trong đêm. Tác giả so sánh quả
cà chua với chiếc đèn lồng giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp và sự quyến rũ
của quả cà chua.
- Giáo viên có thể đưa ra các câu hỏi mở để học sinh phát triển ý tưởng, chẳng
hạn: "Nếu bạn là tác giả, bạn sẽ so sánh gì với “quả cà chua” để diễn tả vẻ đẹp
của quả cà chua?
Sau khi thực hiện tốt các bước, học sinh tự tin tìm được đáp án của bài tập:
Chẳng hạn:
Sự vật 1
Trái nhót
Quả cà chua
Quả ớt

Từ so
sánh
như
như
như

Sự vật 2
ngọn đèn tín hiệu
cái đèn lồng nhỏ xíu
ngọn lửa đèn dầu

Cũng có thể ngay lúc đó tôi vẽ lên bảng hoặc giải thích cho học sinh hiểu thêm:
Quả ớt và ngọn lửa đèn dầu, dựa vào hình ảnh đó học sinh nhìn ra nét tương đồng
của hai sự vật được so sánh đó vừa đúng lại vừa rất hay.
...
 
Gửi ý kiến