Violet
Giaoan

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Giáo án

Giáo án cả năm

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: bành văn tẻn
Ngày gửi: 16h:11' 30-04-2024
Dung lượng: 258.0 KB
Số lượt tải: 12
Số lượt thích: 0 người
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
Tên đề tài: “Biện pháp rèn kĩ năng đọc đúng trong phân môn Tiếng Việt
cho học sinh lớp 2, Trường tiểu học Mỹ Thuận A.”
1. Đặt vấn đề
Trong môn Tiếng Việt thì các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết đều có tầm quan trọng. 
Đọc là một trong 4 kĩ năng rất cần thiết của các em học sinh. Muốn các em đọc tốt, đọc
diễn cảm, đọc hay thì trước hết phải rèn cho các em biết đọc đúng thông qua bài đọc trong
môn TV. Ngoài chức năng dạy đọc, phân môn này còn trau dồi cho học sinh những kiến
thức Tiếng Việt, kiến thức Văn học, kiến thức đời sống và giáo dục tình cảm, mĩ cảm cho
các em.
Biết đọc là một yêu cầu cơ bản đầu tiên đối với mỗi học sinh đi học. Trước hết là
các em phải “đọc đúng” để chiếm lĩnh được ngôn ngữ. “Đọc đúng” là công cụ giúp ta học
cả đời. Bên cạnh đó nếu “đọc đúng” sẽ giúp các em học tốt các môn học khác.
Nắm được tầm quan trọng của việc dạy các em đọc đúng trong chương trình Tiếng
Việt lớp 2, nhằm nâng cao kĩ năng đọc đúng cho các em học sinh, chúng tôi đã tìm tòi,
nghiên cứu và vận dụng một số biện pháp mang lại hiệu quả khá cao trong năm học vừa
qua. Xin chia sẻ cùng quý thầy cô “Biện pháp rèn kĩ năng đọc đúng trong phân môn
Tiếng Việt cho học sinh lớp 2” mà chúng tôi đã áp dụng tại khối lớp 2, Trường tiểu học
Mỹ Thuận A.
2. Thực trạng của vấn đề
2.1. Thuận lợi:
a) Đối với giáo viên
- Được sự quan tâm của BGH nhà trường và các ban ngành đoàn thể.
- Nhà trường đã trang bị đầy đủ thiết bị, đồ dùng dạy học (Tivi, máy chiếu,...).
- Bản thân giáo viên đều có tay nghề giảng dạy nhiều năm.
b) Đối với học sinh
- Đa số học sinh được trang bị đầy đủ sách giáo khoa và đồ dùng học tập.
- Học sinh trong lớp phần đông đọc thành tiếng đạt yêu cầu.
- Các em đều thích đi học và đi học đều.
2.2. Khó khăn:
a) Đối với giáo viên
Thời gian 1 tiết 35 – 40 phút.
Tâm lý – nóng vội.
b) Đối với học sinh

- Có em đọc nhỏ, đọc “thêm, bớt” hoặc đọc chưa đúng từ.
- Đọc chưa đúng ngữ điệu, chưa diễn cảm, ngắt nghỉ chưa đúng.
- Đọc chậm, đọc chưa tròn câu.
Để đạt được mục đích thì chúng tôi tiến hành khảo sát ngay tuần thứ hai về kỹ năng
đọc của học sinh qua các bài đọc.
* Qua khảo sát đầu năm của từng lớp, chúng tôi thu được kết quả như sau:

2

Lớp

Tổng số
học sinh

Đọc to, rõ
ràng, chính
xác

Đọc rõ ràng,
ngắt nghỉ
chưa đúng
chỗ

Đọc chậm,
chưa tròn câu

Đọc nhỏ, đọc
thêm bớt từ,
ngắt nghỉ
chưa đúng

TS
Tỉ lệ
TS
Tỉ lệ
TS
Tỉ lệ
TS
Tỉ lệ
2/1
31
6
19,35
8
25,8
9
29
8
25,8
2/2
31
6
19,35
8
25,8
9
29
8
25,8
2/3
27
5
18,5
7
25,9
8
29,6
7
25,9
Cộng
89
17
19,1
23
25,8
26
29,2
23
25,8
3. Yêu cầu cần phải thay đổi (cách dạy, cách học)
3.1. Giáo viên
- Trong quá trình dạy học chúng tôi sử dụng linh hoạt nhiều phương pháp tích cực
chủ động của học sinh. Các phương pháp thường được sử dụng trong dạy các bài đọc chủ
yếu là: phương pháp nêu vấn đề, phương pháp diễn giảng, các phương pháp hoạt động
nhóm và các phương pháp khác cũng vận dụng một cách linh hoạt. Thực hiện quy trình
giảng dạy một cách linh hoạt nhằm đạt được mục đích yêu cầu bài dạy.
- Tạo môi trường học tập thoải mái: Tạo ra môi trường học tập không áp lực, khuyến
khích học sinh tham gia, đặt câu hỏi và chia sẻ ý kiến một cách tự tin. GV nhẹ nhàng, quan
tâm và giúp đỡ HS.
- Sử dụng phản hồi tích cực: Cung cấp phản hồi xây dựng và khích lệ, tập trung vào
những điểm mạnh của học sinh để tạo động lực cho việc học tập.
- Ở những bài dạy có yêu cầu học thuộc lòng thì chúng tôi chú ý cho học sinh luyện
đọc kĩ hơn, có thể hướng dẫn học sinh vừa ghi nhớ nội dung vừa dựa vào một số từ ngữ
trên bảng (điểm tựa) để đọc thuộc toàn bộ (đọc cá nhân, đọc đồng thanh nhịp nhàng,vừa
phải) hoặc tổ chức cuộc thi hay trò chơi luyện đọc thuộc lòng một cách nhẹ nhàng gây
hứng thú cho học sinh. Yêu cầu tối thiểu là học thuộc từ 8 đến 10 dòng thơ trên lớp. Trong
quá trình dạy học tôi cũng thường phân chia đối tượng để có cách dạy phù hợp.
3.2. Học sinh
Chiếm lĩnh các kiến thức được học. Giúp các em phát triển ngôn ngữ và tư
duy, giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh. rèn luyện cho
học sinh các kĩ năng đọc (đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc hiểu, đọc diễn cảm), nghe và nói.
Bên cạnh đó, thông qua hệ thống bài đọc theo chủ điểm và những câu hỏi, những bài tập
khai thác nội dung bài đọc, các bài đọc còn cung cấp cho học sinh những hiểu biết tự
nhiên, xã hội và con người, cung cấp vốn từ, vốn diễn đạt, những hiểu biết về tác phẩm
văn học và góp phần rèn luyện nhân cách cho học sinh. 
4. Chương trình
4.1. Thời lượng (theo phân phối chương trình và phương án tăng cường)
Theo quy định của Chương trình GDPT 2018, môn Tiếng Việt được biên soạn cho 35
tuần thực học, tổng cộng 350 tiết chia thành 2 tập.

3

Cụ thể các bài đọc trong SGK Tiếng Việt 2 gồm 15 chủ điểm với 93 tiết bài đọc nằm
rải rác ở 31 tuần và 4 bài/4 tiết ôn tập.
4.2. Nội dung chương trình các bài đọc trong môn Tiếng Việt
Tuần
1

Chương trình các bài đọc và sách giáo khoa trong HKI
Chủ điểm
Em đã lớn hơn

2
3

Mỗi người một
vẻ

4
5

Bố mẹ yêu
thương

6
7

Ông bà
yêu quý

8
10

Những người
bạn nhỏ

11
12

Bé Mai đã lớn
Thời gian biểu
Ngày hôm qua đâu rồi?
Út Tin
Tóc xoăn và tóc thẳng
Làm việc thật là vui
Những cái tên
Cô gió
Bọ rùa tìm mẹ
Cánh đồng của bố
Mẹ
Con lợn đất
Cô chủ nhà tí hon
Bưu thiếp
Bà nội, bà ngoại
Bà tôi
Cô chủ không biết quý tình bạn
Đồng hồ báo thức
Đồ đạc trong nhà
Cái bàn học của tôi
Bàn tay dịu dàng

Ngôi nhà thứ hai

13
14

Tên bài học

Bạn thân ở
trường

Danh sách tổ em
Yêu lắm trường ơi!
Góc nhỏ yêu thương

1 tiết
2 tiết
1 tiết

Chuyện của thước kẻ
Thời khoá biểu

1 tiết

Khi trang sách mở ra

2 tiết
1 tiết

Bạn mới

16

Mẹ của Oanh
Mục lục sách

17

2 tiết
1 tiết
2 tiết
1 tiết
2 tiết
1 tiết
2 tiết
1 tiết
2 tiết
1 tiết
2 tiết
1 tiết
2 tiết
1 tiết
2 tiết
1 tiết
2 tiết
1 tiết
2 tiết

2 tiết
1 tiết
2 tiết

15
Nghề nào cũng
quý

Tiết học

Cô giáo lớp em

2 tiết
1 tiết
2 tiết

Người nặn tò he

1 tiết

4

Tuần

19

Chương trình và sách giáo khoa trong HKII
2 tiết

Con suối bản tôi

1 tiết

Con đường làng

2 tiết

Bên cửa sổ

1 tiết

Chuyện bốn mùa

2 tiết

Bốn mùa tươi đẹp Đầm sen
Dàn nhạc mùa hè

1 tiết

Nơi chốn thân
quen

22
23
24

25

Sắc màu quê
hương

Bác Hồ kính yêu

29
30

Việt Nam mến
yêu

31
32
33
34

Bài ca trái đất

2 tiết

Mùa đông ở vùng cao

1 tiết

Chuyện của vàng anh

2 tiết

Thiên nhiên muôn Ong xây tổ
màu
Trái chín

26
28

Tiết học

Khu vườn tuổi thơ

20
21

Tên bài học

Chủ điểm

1 tiết
2 tiết

Hoa mai vàng

1 tiết

Quê mình đẹp nhất

2 tiết

Rừng ngập mặn Cà Mau

1 tiết

Mùa lúa chín

2 tiết

Sông Hương

1 tiết

Ai ngoan sẽ được thưởng

2 tiết

Thư Trung thu

1 tiết

Cháu thăm nhà Bác

2 tiết

Cây và hoa bên lăng Bác

1 tiết

Chuyện quả bầu

2 tiết

Sóng và cát ở Trường Sa

1 tiết

Cây dừa

2 tiết

Tôi yêu Sài Gòn

1 tiết

Cây nhút nhát

2 tiết

Bạn có biết?

1 tiết

Trái Đất xanh của em

2 tiết

Hừng đông mặt biển

1 tiết

Bạn biết phân loại rác không?

2 tiết

Cuộc giải cứu bên bờ biển

1 tiết

5

4.3. Vai trò, vị trí của bài học trong chuyên đề:
Vai trò, vị trí bài đọc của học sinh lớp 2 là phải đọc đúng và rõ ràng toàn bài, biết
nghỉ hơi sau các dấu câu, giữa các dòng, các cụm từ, đọc trôi chảy một đoạn văn, đoạn đối
thoại hoặc một bài văn ngắn. Bước đầu biết đọc thầm, biết dùng mục lục sách giáo khoa
khi đọc và hiểu được ý chính của đoạn văn vừa đọc. Sau đó là yêu cầu về đọc diễn cảm và
hiểu nội dung bài đọc.
5. Mục tiêu
5.1. Đối với cán bộ quản lý và giáo viên
Giúp cán bộ quản lý hiểu rõ hơn, sâu hơn những kiến thức, kỹ năng sư phạm cần
thiết về dạy học môn Tiếng Việt nói chung và dạy rèn kĩ năng giúp học sinh đọc đúng nói
riêng nhằm phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh. Từ đó, có cách quản lí tốt chương
trình, quản lí giáo viên khoa học hơn, quản lí theo hướng đổi mới hiệu quả hơn.
Bồi dưỡng cho giáo viên kỹ năng viết chuyên đề và tổ chức sinh hoạt chuyên đề tại
đơn vị nhằm nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ.
Giúp giáo viên có những định hướng cụ thể trong việc rèn kĩ năng giúp học sinh
đọc đúng. Giáo viên xác định được việc lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy
học phù hợp với từng học sinh.
Tạo điều kiện cho giáo viên trong tổ trải nghiệm và chia sẻ những kinh nghiệm qua các
tiết dạy thể nghiệm thực tế các bài đọc của môn Tiếng việt, đồng thời đúc kết được những kinh
nghiệm dạy tốt hơn.
5.2. Đối với học sinh
Nhằm phục vụ việc giao tiếp cũng như học tập ở các em. Nội dung các bài đọc môn
Tiếng Việt lớp 2 còn cung cấp cho các em những kiến thức sơ giản về văn hóa, xã hội, con
người Việt Nam. Bồi dưỡng ở các em tình yêu Tiếng Việt và góp phần hoàn thiện nhân
cách cho các em.
Rèn kỹ năng đọc đúng, đọc nhanh, đọc lưu loát trôi chảy các tiếng, từ và các bài
ứng dụng.
Việc đọc đúng hình thành từ ngữ, văn bản giúp các em thấy được lợi ích của việc
đọc trong học tập và trong cuộc sống.
Đồng thời, giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức thông qua các hoạt động thực hành.
Từ đó, phát triển năng lực, phẩm chất theo yêu cầu cần đạt của chương trình.
6. Giải pháp.
Nhằm nâng cao chất lượng các tiết Tiếng Việt nói riêng và chất lượng đọc của học
sinh nói chung, chúng tôi đã nghiên cứu và áp dụng biện pháp để rèn cho học sinh đọc rõ
ràng, lưu loát, đúng tốc độ, ngắt nghỉ đúng chỗ (đọc đúng), cụ thể:
Một là: Giúp học sinh thấy tầm quan trọng của việc đọc đúng
Dành ít thời gian cho học sinh xem hình ảnh hoặc video những bài thuyết trình hay
của học sinh lớp lớn, các bài mẫu trên mạng hay thực tế của lớp đang dạy.

6

Việc đọc mẫu của giáo viên có tầm quan trọng rất lớn trong quá trình luyện đọc của
học sinh. Việc đọc mẫu của giáo viên phải thật chính xác, diễn cảm, tạo cảm xúc cho các
em, để lớp học có không khí thoải mái, giúp các em dễ tiếp thu, giúp các em có tâm trạng
chờ đợi giáo viên đọc, muốn được đọc hay như giáo viên. Đối với các bài yêu cầu thuộc
lòng thì chính bản thân giáo viên phải thuộc trước.
Hai là: Các bước luyện đọc chuyên sâu
GV cần nắm và vận dụng kĩ từng bước này để giúp HS đọc đúng và hiệu quả.
* Luyện phát âm:
Muốn các em đọc đúng, phải giúp các em phát âm chuẩn, đọc đúng từ, đọc đúng loại
câu, đúng ngữ điệu câu. Khi các em đọc chưa đúng từ nào, chúng tôi liền đọc mẫu cho các
em lắng nghe. Sau đó phân tích cho các em thấy được đọc như thế nào là đúng, như thế
nào là chưa đúng.
Các em phát âm chưa đúng các tiếng có chứa phụ âm tr/ch, s/x;.. ; hoặc thanh
hỏi/thanh ngã.
+ Lưu ý: khi đọc “tr/s” uốn lưỡi; đọc “ch/x” thì không uốn lưỡi.
+ Những em đọc chưa đúng các vần khó như: tỏa; thoáng; xuýt xoa; huyền diệu;
… cho các em dùng thước chỉ những chữ đó, nghe giáo viên đọc mẫu sau đó cho các em
luyện đọc vần đó nhiều lần, tìm những tiếng khác có vần đó cho các em luyện đọc từ, nối
từ, đọc câu có từ đó.
+ Những em đọc chưa đúng thanh hỏi/ngã thì nhắc các em đọc cao giọng và lấy hơi
kéo dài hơn.
Khi các em đọc chưa đúng từ nào thì cho các em luyện đọc thật nhiều lần từ đó. Sau
đó kết hợp hình thức đọc nhóm để  nhiều học sinh được tham gia và tham gia nhiều lần
trong một tiết học.
* Luyện ngắt giọng:
Đối với nhóm đọc đúng nhưng chưa ngắt nghỉ đúng thì hướng dẫn làm bài tập ứng
dụng gạch xiên (/) vào chỗ cần ngắt. Ngắt giọng đúng, dạy đọc đúng là nhiệm vụ của việc
dạy đọc và cũng là phương tiện để học sinh chiếm lĩnh văn bản đọc. Nếu các em biết ngắt
giọng đúng thì sẽ giúp các em lĩnh hội được kiến thức dễ dàng hơn. Nếu ngắt đúng, sẽ giúp
người nghe hiểu ngay ý cần diễn đạt. Việc ngắt cũng phải phù hợp với dấu câu, nghỉ ít ở
dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấu chấm. Nếu là dấu phẩy thì ngắt hơi; nếu là dấu chấm, dấu
chấm hỏi, chấm than hay dấu ba chấm thì phải nghỉ hơi.(hai lần ngắt / bằng một lần
nghỉ //). Giọng đọc rõ ràng, phát âm chuẩn.
Ví dụ:
Tiến hành hướng dẫn các em ngắt nhịp theo hướng dẫn: Nghỉ hơi ngắn ở chỗ có một
gạch chéo, nghỉ hơi dài hơn ở chỗ có hai gạch chéo.
Lặng rồi / cả  tiếng con ve//
Con ve cũng mệt /  vì hè nắng oi//
      Nhà em /  vẫn tiếng  ạ ời//       
Kẽo cà  tiếng võng / mẹ ngồi  mẹ ru//
* Luyện đọc nhấn giọng: Cần hướng dẫn học sinh đọc đúng  ngữ điệu câu, lên
giọng ở cuối câu hỏi, hạ giọng ở cuối câu kể, thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm cần

7

diễn đạt trong câu cảm. Với câu cầu khiến cần nhấn giọng để thấy rõ nội dung cầu khiến
khác nhau. Ngoài ra cần phải hạ giọng khi đọc bộ phận giải thích của câu. Học sinh biết
phân biệt được giọng đọc giữa lời kể chuyện và lời các nhân vật. Trong từng bài giáo viên
sẽ dự tính những lỗi học sinh sẽ mắc, giọng đọc cả bài, đoạn cần nhấn mạnh, tốc độ đọc.
Việc đọc ngắt giọng, nhấn giọng được chú ý vào những học sinh đã đọc tốt và yêu
cầu đọc ở cuối kì I.
 Ví dụ: Ở trong bài: Bàn tay dịu dàng (STV tập 1- trang 98) – Hướng dẫn học sinh
đọc với giọng buồn, ngắt hơi, nhấn giọng phù hợp ở các từ ngữ trong câu:
  “Thưa thầy /, hôm nay / em chưa làm bài tập //.” Thể hiện nỗi buồn của An vì bà
mất.
* Luyện đọc tròn câu, đọc trôi chảy:
Trong quá trình đọc tôi thường xuyên chú ý nhắc học sinh đọc trọn vẹn câu chứ
không phải đọc rõ ràng từng tiếng một, đọc đúng tốc độ.
Tốc độ đọc còn phụ thuộc vào độ khó của bài đọc, thơ đọc chậm hơn văn xuôi, bài
nào có nội dung khó hiểu nên cho các em đọc chậm hơn để nắm bài.
Trong quá trình dạy học giáo viên được trao quyền tự chủ về nội dung, chương
trình. Việc lựa chọn các học liệu trong một tiết dạy đòi hỏi sự linh hoạt và sáng tạo, qua
đó giúp học sinh phát huy được năng lực phẩm chất.
Ba là: Luyện đọc trong các bài đọc trên lớp
          Trong giờ đọc, cố gắng dành nhiều thời gian cho các em luyện đọc. Ưu tiên các em
chậm đọc nhiều hơn, nhận xét nhiều hơn để các em nhận ra chỗ chưa đúng của mình. GV
giúp HS đọc đúng câu, từ, đoạn rồi bài với các hình thức như: cá nhân, nhóm, lớp...       
          Trong giờ học, cũng thường xuyên tổ chức các trò chơi thi đua về luyện đọc để tạo
hứng thú cho các em như  trò Truyền điện: mời một học sinh đọc một câu. Sau khi đọc
xong, em đó sẽ mời bất kì em nào đọc câu tiếp theo. Trò chơi này các em đều trong tư thế
chuẩn bị sẵn sàng để đọc. Các em còn hứng thú vì mình được quyền mời các bạn khác.
Hay trò chơi Ghép tiếng/ghép từ: chuẩn bị những câu có trong bài đọc nhưng bị khuyết
một số từ quan trọng, các em sẽ viết vào bảng con/nêu nhanh từ cần điền vào chỗ chấm.
Đội nào có nhiều đáp án đúng hơn và đọc được câu trọn vẹn nhanh hơn sẽ thắng.
Quan trọng hơn hết là ứng dụng CNTT vào tiết học để giúp HS hứng thú học cũng
như đọc tốt hơn và hiệu quả hơn. VD: Trò chơi siêu trí nhớ,....
GV hạn chế nóng vội vì chất lượng cũng như thời gian: Cần khen ngợi, động viên
các em hằng ngày dù là những tiến bộ nhỏ nhất. Tránh quát mắng, nạt nộ các em làm cho
các em sợ sệt, thiếu tự tin dẫn đến chán học, sợ học.
Bốn là: Dạy cho học sinh phong cách học
Qua cách rèn luyện trên khi nhận thấy học sinh ngày đọc một tiến bộ hơn, đọc nhanh
rõ ràng, lưu loát, ngắt nghỉ đúng quy định. Bên cạnh đó còn có một số em đọc chậm vì quá
chú ý đến rèn đọc đúng để không sai âm đầu hoặc vần. Hướng dẫn rèn luyện nhắc nhở về
nhà đọc trước bài thì mới đọc nhanh đọc đúng được. Ngoài ra, khi các em đứng lên đọc
cần phải đứng đúng tư thế, cầm sách vừa tầm mắt, không lười biếng đặt sách ở bàn mà cúi
đầu xuống đọc. Cùng với việc rèn đọc từng cá nhân thì thành lập “đôi bạn cùng tiến”  

8

Để các em đọc bài được tốt ở nhà hoặc ở lớp đều nhắc các em phải đọc ở nơi có đầy
đủ ánh sáng. Ở lớp: mở các cánh cửa sổ phòng học để không khí thoáng mát, ánh sáng đầy
đủ. Ở nhà: yêu cầu các em cần phải tạo cho mình một nơi ngồi học có đầy đủ ánh sáng,
bàn ghế phù hợp và yên tĩnh. Không nên nằm trên giường ngủ để học và đọc sách hoặc
đọc bài.
Ngoài việc rèn đọc đúng còn hướng dẫn cho học sinh đọc diễn cảm, đọc to, đọc
nhanh, khi các em đã đọc đúng rồi từ đó các em yêu thích đọc hơn, cảm thụ được văn thơ,
hiểu được các bài toán, trả lời tốt câu hỏi ở các môn học khác.
Năm là: Luyện đọc mở rộng
Dù sử dụng biện pháp nào thì việc luyện đọc phải dành nhiều thời gian cho các em.
Vì thế nên chủ động lên kế hoạch dạy học, phụ đạo thêm, kiên trì, chịu khó dạy âm, vần
cho học sinh biết ghép rồi đọc thành tiếng đối với nhóm học sinh đọc chậm, cận chuẩn.
Thời gian đầu cần mượn sách Tiếng Việt lớp 1 về lớp, đầu và cuối mỗi buổi học cho các
em ôn lại một số vần khó, tiếng khó giúp các em nhớ lại kiến thức lớp Một. Sau đó, cho
các em đọc các bài đọc trong sách Tiếng Việt và các sách khác.
Đối với các học sinh khác, tăng cường cho các em luyện đọc vào các tiết ôn, giữa giờ
dưới sự giám sát, hướng dẫn của ban cán sự lớp.
Ngoài việc sửa chữa trong mỗi tiết đọc và các môn học khác, thì cuối mỗi buổi học
còn giao những bài đọc nhỏ để học sinh tự luyện đọc ở nhà và về nhà đọc trước bài của
ngày hôm sau – tiết sau.
Đọc kết hợp viết đối với số em đọc chưa rõ lời. Để kích thích việc đọc cho các em
nên thường gợi ý cho các em đến thư viện đọc thêm những quyển truyện ngắn, có tranh
minh họa để cho các em đọc thư giản trong giờ ra chơi.
Góc học tập của lớp: GV chuẩn bị những quyển sách cũ, sách lớp lớn hơn, ….. tạo
điều kiện thêm cho các em dễ tham khảo – học hỏi.
Sáu là: Phối hợp với phụ huynh và giáo viên.
 Trong quá trình dạy học, giáo viên liên hệ thường xuyên với phụ huynh để thông
báo về tình hình học tập của học sinh. Qua đó sẽ nhờ phụ huynh nhắc nhở, kiểm tra, đôn
đốc việc học của con em mình ở nhà. Đối với những học sinh chưa đọc được, lười đọc thì
giáo viên nhờ phụ huynh cho con em mình đọc khi ở nhà và báo cáo lại với giáo viên chủ
nhiệm bằng nhiều hình thức như: tạo nhóm zalo, nhắn tin riêng, gọi điện trực tiếp,....
Bên cạnh đó chúng tôi cũng liên hệ với các thầy cô bộ môn để cùng phối hợp giúp
các em tiến bộ, ngoài việc phối hợp cùng dạy dỗ các em tôi thường xin tiết của các môn
hoạt động giáo dục để đưa các em ra rèn đọc riêng.
7. Kết quả.
Sau một thời gian thực hiện giải pháp nêu trên Tổ khối 2 chúng tôi đã thu kết quả
được thể hiện qua bảng tổng hợp sau:
 

Kết quả cuối học kì I

9

Tổng
số
học
sinh

Lớp

Đọc to, rõ ràng,
chính xác

Đọc rõ ràng,
ngắt nghỉ chưa
đúng chỗ

Đọc chậm,
chưa tròn câu

Đọc nhỏ, đọc
thêm bớt từ,
ngắt nghỉ
chưa đúng

2/1

31

TS
8

Tỉ lệ
25,8

TS
10

Tỉ lệ
32.2

TS
8

Tỉ lệ
25,8

TS
5

Tỉ lệ
16.1

2/2

31

8

25,8

10

32.2

8

25,8

5

16.1

2/3
Cộng

27
89

7
23

25,9
25.8

9
29

33.3
32.5

7
23

25,9
25.8

4
14

14.8
15.7

Kết quả giữa học kì II
Tổng
số
học
sinh

Lớp

Đọc to, rõ
ràng, chính
xác

Đọc rõ ràng,
Đọc chậm, chưa
ngắt nghỉ chưa
tròn câu
đúng chỗ

Đọc nhỏ, đọc
sai, bỏ chữ,
ngắt nghỉ
chưa đúng

TS
12

2/1

31

TS
12

2/2

31

12

Tỉ lệ
38.7
38.7

2/3
Cộng

27
89

9
33

33.3
37.0

TS
6

Tỉ lệ
19.3

TS
1

Tỉ lệ
3.2

12

Tỉ lệ
38.7
38.7

5

16.1

2

6.4

11
35

40.7
39.3

5
16

18.5
17.9

2
5

7.4
5.6

Qua bảng thống kê trên, chúng tôi nhận thấy phương pháp chúng tôi thực nghiệm
đã đạt được kết quả đáng kể. Khả năng đọc của các em tiến bộ rõ ràng. Nhờ đó, các em
hiểu nội dung bài đọc nhanh hơn.
Kết quả kiểm tra đọc cuối kì I, giữa kì II của các em đều tăng lên theo chiều hướng
tốt.
8. Kết luận
Qua quá trình áp dụng các biện pháp giúp học sinh lớp 2 nâng cao kĩ năng đọc đúng
chúng tôi nhận thấy:
8.1. Đối với học sinh
- Các em đọc đúng đã giúp các em học tốt các môn khác hơn như các em đọc và
hiểu đề Toán nhanh hơn, làm bài tốt hơn; Các em đọc và nắm nội dung tự nhiên xã hội,
đạo đức,… tốt hơn.
- Bên cạnh việc học tốt hơn, các em còn được tăng cường vốn ngôn ngữ, kĩ năng
giao tiếp của các em cũng được tăng lên đáng kể.
8.2. Đối với giáo viên
- Tạo lớp học có không khí thoải mái, giúp các em dễ tiếp thu, giúp các em có tâm
trạng chờ đợi giáo viên đọc, muốn được đọc hay như cô.
- Ngay từ đầu năm học, giáo viên phải kiểm tra, phân loại khả năng đọc của học
sinh ngay, tìm các lỗi các em thường sai để có biện pháp luyện đọc phù hợp, kịp thời.

10

- Giáo viên cũng dành nhiều thời gian hơn cho những em đọc còn chậm, chưa chính
xác. Đồng thời, giáo viên cũng phải theo dõi sát sao các em để thấy được quá trình luyện
đọc của các em, xem các em tiến bộ được từng nào; động viên, khích lệ để các em cố gắng
hơn.
9. Bài học kinh nghiệm
Qua thực hiện kế hoạch chuyên đề, chúng tôi rút ra được một số kinh nghiệm như
sau:
- Lời giảng của giáo viên luôn trong sáng, mẫu mực hấp dẫn để tạo cho lớp học một
không khí sinh động, thoải mái, không bị thụ động và đồ dùng trực quan phải to, rõ, đẹp để
cuốn hút học sinh học tập.
- Thường xuyên ra bài cho các em luyện đọc ở nhà. Trên lớp cũng thường xuyên
kiểm tra bài cũ các em này. Tạo nhiều cơ hội hơn cho các em được đọc và nhận xét để các
em thấy được sự nổ lực của mình đã có kết quả đáng khen ngợi.
- Cần sử dụng linh hoạt nhiều hình thức, phương pháp dạy học phù hợp với từng đối
tượng học sinh để lôi cuốn các em vào việc học.
- Việc rèn đọc đúng cho học sinh không thể tiến hành nhanh vội, mà phải cần đến
sự kiên trì, chịu khó của bản thân mỗi giáo viên.
- Phải tích cực phối hợp với các giáo viên khác, tạo cơ hội cho các em thể hiện khả
năng của mình.
- Không chỉ tiến hành luyện trong các bài đọc môn TV mà trong các tiết học khác
cũng có thể tạo cơ hội cho các em đọc để giúp các em tiến bộ hơn.
- Hãy thương yêu học sinh bằng chính tấm lòng của mình và đừng bỏ rơi các em ở
bất cứ trường hợp nào.
* Song bước đầu góp phần hình thành và phát triển kỹ năng đọc kết quả rất khả quan.
Chúng tôi sẽ tiếp tục áp dụng biện pháp nêu trên vào quá trình giảng dạy ở khối lớp
2. Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô để chuyên đề được hoàn thiện
hơn./.

KT HIỆU TRƯỞNG
PHÓ HIỆU TRƯỞNG

Nhóm thực hiện
Tổ khối 2

11

KẾ HOẠCH BÀI DẠY
MÔN: TIẾNG VIỆT
BÀI: THƯ TRUNG THU
NGƯỜI SOẠN: LÝ PHOL
I. YÊU CẦU CẦN ĐẠT:
1. Phẩm chất:
- Trung thực: Thật thà, ngay thẳng trong việc học. Yêu thích môn học, biết dùng và
giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
- Chăm chỉ: Chăm học, chăm viết bài (ở nhà), tích cực tham gia các hoạt động học
tập.
- Trách nhiệm: Có trách nhiệm tham gia tốt các hoạt động học tập, hoàn thành
nhiệm vụ được giao.
2. Năng lực:
2.1. Năng lực chung:
- Tự chủ và tự học: Tự giác học tập, tham gia vào các hoạt động
- Giao tiếp và hợp tác: Có thói quen trao đổi, giúp đỡ nhau trong học tập; biết cùng
nhau hoàn thành nhiệm vụ học tập theo sự hướng dẫn của GV.
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Chia sẻ với bạn về một món quà Trung
thu mà em thích; nêu được phỏng đoán của bản thân về nội dung bài đọc qua tên
bài và tranh minh hoạ.
2.2. Năng lực đặc thù.
* Năng lực ngôn ngữ
- Đọc trôi chảy bài đọc, ngắt nghỉ đúng dấu câu, đúng logic ngữ nghĩa; hiểu nội
dung bài đọc: Tình yêu thương, sự̣ quan tâm của Bác Hồ dành cho các cháu thiế́u
nhi thể hiệ̣n qua bài Thư Trung thu.
- Biết liên hệ bản thân: Kí́nh yêu, biế́t ơn Bác Hồ, chăm chỉ học tập rè̀n luyệ̣n theo 5
điều Bác Hồ dạy thiế́u niên, nhi đồng.
- Nói với bạn về một món quà Trung thu mà em thích.
* Năng lực văn học: Nhận biết được đây là Thư (Thư của Bác Hồ gửi thiếu nhi).
II. PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC:
1. Giáo viên: Trình chiếu.
2. Học sinh: Sách HS.
III. HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC:
TG
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh

12

4p

1. Khởi động Cho các em hát karaoke
bài hát “ Đêm qua em mơ gặp Bác
Hồ”
2. Gọi 3- 4 HS chia sẻ với bạn về một
món quà Trung thu mà em thích theo câu
hỏi gợi ý tranh lồng đèn trung thu.
- HS
+ gv nhận xét tuyên dương.
2. Khám phá: Cho các em quan sát
tranh SGK và hỏi nội dung tranh để đi
đến bài học: Thư trung thu
3. Luyện tập:
Hoạt động 1: Luyện đọc thành tiếng
 Cách tiến hành:
 Hướng dẫn luyện đọc:
- Giáo viên đọc mẫu lần 1
- GV yêu cầu học sinh đọc nối tiếp nhau
theo câu.
- Nghe và chỉnh sửa lỗi các em phát âm .
 Luyện đọc đoạn:
- Gv hướng dẫn cách đọc.
- Yêu cầu HS tìm từ khó có trong từng
đoạn và đọc.
- Gạch dưới những âm vần dễ lẫn lộn.
- Cho HS đọc từ khó
- Lắng nghe và chỉnh sửa lỗi phát âm
giúp học sinh.
 Hướng dẫn ngắt giọng:
- GV đọc mẫu lần 2: Câu dài, câu cần
ngắt giọng, yêu cầu học sinh lắng nghe
và đọc ngắt giọng lại.
- GV chia bài làm 2 đoạn, hướng dẫn HS
đọc ngắt nhịp ở cuối mỗi dòng thơ.
- Hướng dẫn học sinh rút ra từ cần giải
nghĩa: Kháng chiến, hòa bình…
-Yêu cầu học sinh luyện đọc trong nhóm.
- Hướng dẫn học sinh nhận xét bạn đọc .
 Thi đọc:
- Các nhóm thi đọc.
- GV lắng nghe và nhận xét.
Hoạt động 2: Luyện đọc hiểu

HS hát karaoke

HS chia với bạn về một món quà
Trung thu mà em thích.

HS nhắc lại tựa bài

- HS nghe GV đọc mẫu (Gợi ý:
giọng thong thả, trìu mến).
- HS nghe giáo viên hướng
dẫn đọc và luyện đọc 1 số từ
khó theo từng đoạn: bận,
ngoan ngoãn, sức, gì̀n giữ,…

HS đọc đoạn, bài đọc trong nhóm
nhỏ và trước lớp. HS giải thích nghĩa
của một số từ khó, VD: hoà bình
(không có chiến tranh),…

- 3 Hs đọc lại
- Các nhóm tham gia thi đọc.
- Đại diện các nhóm nhận xét.
- HS đọc thầm lại bài đọc và thảo
luận theo cặp để trả lời câu hỏi trong

13

SHS.
1. Bác Hồ nhớ đến các cháu nhi đồng
vào dịp Tết Trung thu.
1. Bác Hồ nhớ đến ai vào dịp Tết Trung
2. Từ ngữ chỉ đặc điểm và tính nết
thu?
của các cháu nhi đồng trong đoạn thơ
Bác viết: ngoan ngoãn, xinh xinh.
2. Tìm từ ngữ chỉ đặc điểm và tính nết
3. Bác Hồ mong các cháu cố gắng thi
của các cháu nhi đồng trong đoạn thơ
đua và học hành.
Bác viết?
4. Gợi ý: Bác có quan tâm và yêu
3. Bác Hồ mong điều gì ở các cháu?
quý các cháu nhi đồng không? Vì sao
Bác bận mà vẫn viết thư cho các
4. Em hiểu thêm điều gì về Bác Hồ qua
cháu thiếu nhi? Trong thơ Bác viết:
bức tranh?
“Tuổi nhỏ làm việc nhỏ - Tùy theo
sức của mình” cho thấy Bác có suy
- Mỗi câu trả lời hs, gv nhấn mạnh lại để
nghĩ và mong muốn như thế nào?).
các em hiểu chính xác qua các câu hỏi.
HS rút ra nội dung bài đọc: Tình
- GV hướng dẫn học sinh rút ra nội dung yêu thương của Bác Hồ dành cho
thiếu nhi Việt Nam.
bài đọc.
Giáo viên đặt câu hỏi:

Hoạt động 3: Luyện đọc lại
 Mục tiêu: Giúp học sinh diễn cảm bài
đọc
Phương pháp, hình thức tổ chức:
Quan sát, thực hành, đàm thoại, trực
quan, vấn đáp.
 Cách tiến hành:
- Hướng dẫn học sinh đọc đúng bài
- Chỉnh sửa lỗi phát âm của học sinh.
* Trò chơi: Thử tài trí nhớ: gv nêu cách
chơi và trình chiếu 4 bức tranh cho các
em tìm bài học phù hợp với từng bức
tranh.
4. Vận dụng: Sau bài học, em rút ra bài
học liên hệ bản thân là gì?
- GV đưa ra những gì các em học được
theo ý đúng của HS. Kết hợp giáo dục
thực tế qua bài học.
- GV chốt lại: Bác Hồ rất yêu thiếu nhi
là thiếu nhi chúng ta phải biết kính trọng
và luôn làm theo lời khuyên của Bác,
chăm chỉ học tập rè̀n luyệ̣n theo 5 điều
Bác Hồ dạy thiế́u niên, nhi đồng.
* Kết thúc tiết học:

HS đọc cả bài.
HS thi tìm các bài học: Chuyện của
vàng anh. Chuyện bốn mùa, Khu
vườn tuổi thơ. Quê mình đẹp nhất.
HS nêu theo ý nghĩ: Kính yêu, biết
ơn Bác Hồ, chăm chỉ học tập rèn
luyện theo 5 điều Bác Hồ dạy thiếu
niên nhi đồng.
 
Gửi ý kiến