NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU CUỐI CÙNG

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:00' 29-02-2024
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:00' 29-02-2024
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Lời tác giả
Những câu chuyện về cuộc đời NAM PHƯƠNG Hoàng hậu cuối
cùng Triều Nguyễn
Thuở nhỏ, mái trường mà tôi được vinh hạnh nhập học đầu
tiên là trường Couvent des Oiseaux do các nữ tu trong dòng Đức Bà
quản giáo tọa lạc tại đường Parreua ( gần Bưởi hay là đường
Hoàng Hoa Thám ) Hà Nội. Khi tôi học ở lớp mẫu giáo của trường
Convent des Oiseaux thì bà Nam Phương Hoàng hậu tới thăm.
Chúng tôi là những học sinh nhỏ tuổi được cầm những bó hoa tươi
đứng trước sân để nghênh đón Hoàng hậu. Hai em học sinh Việt và
Pháp bưng hoa lên dâng tặng Nam Phương Hoàng hâu. Bà Nam
Phương cám ơn nhà trường và các em học sinh, rồi ôm hôn hai em
đang tặng hoa.
Lý do bà Nam Phương tới thăm trường Convent des Oiseaux
Hà Nội vì những ngày du học tại Pháp, bà Nam Phương đã có thời
gian theo học trường Convent des Oiseaux Paris cũng do các nữ tu
dòng Đức Bà phụ trách mà hồi đó người ta đều kêu danh xưng là
các Mẹ ( Mère )
Bà Nam Phương có net mặt hiền hậu và đạo hạnh. Hình ảnh
Nam Phương hoàng hậu vấn khăn vành vàng in trên con tem đã để
lại ấn tượng trong nhiều người lớn tuổi. Đến năm 1945 tôi đọc báo
thấy bà hưởng ứng Tuần Lễ Vàng tại Huế bằng hành động tự trao
tất cả những quý kim vàng bạc châu báu mà bà đang mang trên
người để tặng Nhà nước mua vũ khí chống thực dân Pháp. Rồi bà
Nam Phương còn làm việc thiện, như vào dịp Tết năm 1946, Chủ
tịch Ủy ban Hành chánh Huế trao bà Nam Phương số tiền 10 ngàn
đồng bạc, nói là của Hồ Chủ Tịch chuyển vào để tặng bà và gia đình
ăn Tết. Với số tiền này thời đó là lớn lắm. Bà Nam Phương nhận số
tiền trên, gởi lời cảm ơn Cụ Hồ và Ủy ban Hành chánh Huế. Sau đó,
bà Nam Phương đã chuyển số tiền 10 ngàn đồng bạc cho các bà
phước trông coi cô nhi viện ở Huế để các cháu ăn tết mà các cô nhi
đang thiếu thốn vì chiến tranh vừa xảy ra.
Cũng năm 1946, bà Nam Phương còn có một hành động yêu
nước khi thực dân Pháp đem quân trở lại xâm lược Việt Nam. Đó là
bà đã viết một lá thư ngỏ như một Thông điệp ( Message ) gửi tới
những bạn hữu ở châu Âu và thế giới yêu cầu họ lên tiếng tố cáo sự
trở lại của quân đội Pháp làm đổ máu đồng bào Nam bộ.
Những hành động trên không riêng cá nhân tôi trân trọng, mà
mọi người đều kính phục nhân cách của một bà cựu hoàng hậu
nước Việt. Vì vậy, khi bước chân vào làm báo, với lòng ngưỡng mộ,
tôi đã cố công sưu tầm những tư liệu, sách, báo đã viết về bà Nam
Phương để dành làm tư liệu.
Cuộc đời bà Nam Phương từ thuở thơ ấu đến khi trưởng
thành, lấy chồng và trở thành hoàng hậu có thể nói rất hạnh phúc.
Bảo Đại đã giữ đúng lời hứa chỉ có một vợ một chồng. Nhưng sau
năm 1945 vì tình thế và hoành cảnh, Bạo Đại đã thay tính đổi nết, ăn
chơi, cờ bạc, và quan hệ với nhiều phụ nữ “ già ngân ngãi non vợ
chồng ” mà người ta gọi là những thứ phi của Bảo Đại. Tuy vậy, bà
Nam Phương cũng không có một hành động nào làm xáo trộn gia
đình, nếu có bà chỉ nhỏ nhẹ than với mấy người thân cận. Những
hành động như đánh ghen, chửi bới, hãm hại tình địch bà Nam
Phương không bao giờ có. Những chuyện cho rằng bà Nam
Phương cho người cầm súng hạ tình địch, nhưng tình địch không hề
hấn gì mà Bảo Đại lại bị trọng thương chỉ là những giai thoại và thêu
dệt của những người không ưa Bảo Đại.
Từ lúc về làm dâu nhà Nguyễn, trở thành bà Hoàng hậu, chúng
tôi chưa thấy một ai chê trách hay than phiền về cung cách hay lời
ăn tiếng nói của Nam Phương. Trái lại, Bảo Đại bị tai tiếng và người
đời chê trách khá nhiều.
Trong cuốn “Giai thoại và sự thật về Bảo Đại - vua cuối cùng
triều Nguyễn” của tôi đã được xuất bản có nhiều phần viết về Nam
Phương - người vợ đầu tiên và chính danh của Bảo Đại. Song theo
yêu cầu của bạn đọc muốn tìm hiểu đầy đủ hơn về bà Nam Phương,
tôi đã hệ thống lại tư liệu để viết tiếp cuốn sách nhỏ này, với tên gọi
“Những câu chuyện về cuộc đời Nam Phương - hoàng hậu cuối
cùng triều Nguyễn”.
Vì những câu chuyện được sưu tầm, góp nhặt từ nhiều nguồn
tư liệu nên chắc chắn không tránh khỏi những nhầm lẫn, sai sót.
Nếu phát hiện mong bạn đọc góp ý và lượng thứ.
Nhân đây chúng tôi xin chân thành cảm ơn đến những tác giác
có tác phẩm mà chúng tôi sử dụng, trích dẫn trong cuốn sách này.
Thành thật cảm tạ.
Sài gòn - TP. Hồ Chí Minh thánh 9-2006
Lý Nhân PHAN THỨ LANG
Lý Nhân - Phan Thứ Lang
Nam Phương Hoàng hậu cuối cùng Triều Nguyễn
-1Gái thuyền quyên đất Nam bộ trở thành vợ các vua triều Nguyễn
Đất Nam bộ có nhiều trai anh hùng phò chúa Nguyễn mở mang
bờ cõi và cũng có nhiều “gái thuyền quyên” được tiến vào cung làm
vợ cách vua triều Nguyễn.
Như chúng ta đã biết, 25 năm ròng rã bôn ba đất Nam bộ và
được gần gũi các cận thần người miền Nam như các ông Nguyễn
Huỳnh Đức, Lê Quang Định, Phạm Đăng Hưng... thế mà Gia Long
lại không có một mối tình nào với những người đẹp đất Nam bộ kể
cũng lạ. Hay chính sử và ngoại sử kỵ húy, sợ phạm thượng không
dám ghi lại chăng? Hay Nguyễn Ánh lúc đó tạm gác lại “tình duyên”
để lo “đại sự” mà chưa nghĩ đến một bóng thuyền quyên nào ở đất
Nam bộ?
Nhưng hậu duệ của Gia Long là vua Minh Mạng đã có mấy bà
vợ người miền Trung rồi, lại tuyển bốn gái thuyền quyên miền Nam
ra Huế để tiến vào cung hầu hạ nhà vua, là những bà dưới đây mà
sử sách đều ghi:
1. Bà Hồ Thị Hoa ( 1791 - 1807 ), sau được phong làm Tá
Thiên Nhân Hoàng hậu. Bà Hoa là người Bình An, tỉnh Biên Hòa. Bà
là con gái của ông Hồ Văn Bôi, sau ông được phong Phúc Quốc
Công. Vì húy tên bà là Hoa nên sau này ở Gia Định có một cây cầu
Hoa phải gọi là cầu Bông. Còn ở Huế có Cửa Đông Hoa đã phải đổi
là Cửa Đông Ba, và vở tuồng hát bội nổi tiếng là Phàn Lê Hoa cũng
phải đổi là Phàn Lê Huê... Đặc biệt bà Hoàng hậu này không có một
người con nào.
2. Bà Nguyễn Thị Khuê, tự Bích Chi, được phong Hòa Tần,
người huyện Phúc Lộc, tỉnh Gia Định, là con gái của quan Chưởng
Cơ Nguyễn Văn Thanh, trấn phủ tỉnh Quảng Nam. Bác Bích Chi
sanh được bốn Hoàng tử và sáu Công chúa.
3. Bà Nguyễn Thị Nhân, phong Cung Tần, người Gia Định. Là
con gái Chính Đội Nguyễn Văn Châu. Bà này sinh được một Hoàng
tử là Miên Ký, người giỏi văn chương trong triều Tự Đức, và được
phong tước Cẩm Quốc công.
4. Bà Nguyễn Thị Bảo ( 1801 - 1951 ) được phong là Thục
Thần, người Gia Định là con của quan Tư không Nguyễn Khắc
Thiệu. Bà này sinh được một Hoàng tử là Miên Thẩm ( 1818 - 1870 )
và ba Công chúa là Vĩnh Trinh ( 1824 - 1892 ), Trinh Thận ( 1824 1904 ), và Tĩnh Hòa ( 1830 - 1882 ). Cả bốn người con trên đều trở
thành những nhà thơ nổi danh ở đất Thần Kinh nói riêng và cả nước
nói chung mà đến bây giờ người ta vẫn còn nhớ đến những bút
danh: Tùng Thiện Vương, Quy Đức, Man Am và Huệ Phố với những
bài thơ tuyệt tác và bất hủ.
Đến hậu duệ của vua Minh Tạng là vua Thiệu Trị, thì cũng có
ba bà vợ là người miền Nam, là các bà:
1. Phạm Thị Hằng có tự là Nguyệt ( còn theo Việt Nam tự điển
của tác giả Lê Văn Đức thì Phạm Thị Hằng tự Hào ), là người huyện
Tân Hòa tỉnh Gò Công. Bà là con quan Lễ Bộ Thượng thư Phạm
Đăng Hưng. Bà Phạm Thị Hằng được phong là Hoàng Thái hậu Từ
Dụ. Bà là người hiền thục, đoan trang nên được Thuận Thiên Cao
Hoàng hậu tuyển vào cung cho làm vợ Hoàng tử Miên Tông, tức vua
Thiệu trị. Bà Hằng đã sinh được hai Công chúa và một Hoàng tử là
Hồng Nhậm, tức vua Tự Đức. Bà Từ Dụ đã sống qua 10 đời vua kể
từ vua Gia Long là thời gian bà chào đời cho tới lúc hạ thế là năm
1901 đời vua Thành Thái thư 13. Đây là một bà Hoàng hậu đã được
sống nhiều triều đại, được mắt thấy tai nghe nhiều sự kiện xảy ra
trong triều Nguyễn.
2. Bà Nguyễn Thị Nhậm, tước Lệnh Phi, người An Giang (
Long Xuyên ), là con của Kinh môn Quận công Nguyễn Văn Nhân.
Bà Nguyễn Thị Nhậm được tuyển vào cung cùng một thời gian với
bà Phạm Thị Hằng. Nhưng vì bà Nhậm chỉ sinh được một Hoàng nữ
là Công chúa Nhàn Yên An Thạch, nên bà Nhậm chỉ được phong
tước là Lệnh Phi.
3. Bà Nguyễn Thị Huyên, được phong tước là Đức Tần, là
người miền Nam, nhưng nguyên quán lại là Thừa Thiên, là con của
Cai cơ Nguyễn Đức Xuyên. Bà này sinh được một Hoàng tử là Hồng
Diêu ( 1845 - 1875 ), đây là vị Hoàng tử thứ 25 của vua Thiệu Trị.
Tới hậu duệ của vua Thiệu Trị là vua Tự Đức có một bà vợ người
miền Nam là Nguyễn Thị Hương, được phong tước Học Phi, người
đất Vĩnh Long. Bà Hương không có con nên đã nhận công tử Ưng
Thị, sanh năm 1870, là con mệ Hường Cai làm con nuôi. Đến khi
vua Tự Đức tạ thế là Ưng Thị được tôn làm vua tức vua Kiến Phúc.
Như trên chúng tôi đã viết, đã có bảy phụ nữ miền Nam đã trở
nên Hoàng hậu triều Nguyễn. Đến thời thứ 13 triều Nguyễn Nguyễn
Vĩnh Thụy tức vua Bảo Đại cũng lấy vợ người miền Nam, và đặc
biệt là ngay khi cưới đã được phong làm Hoàng hậu, không như các
vua tiền nhiệm, khi vua băng hà thì các bà mới được chọn để phong
Hoàng hậu, hay Hoàng Thái hậu.
Người phụ nữ người miền Nam thứ tám được phong làm
Hoàng hậu là bà Nguyễn Hữu Thị Lan chúng tôi xin dành những
trang sau sẽ viết đầy đủ hơn. Vì bà Nguyễn Hữu Lan tức Nam
Phương Hoàng hậu cũng là bà Hoàng hậu cuối cùng triều Nguyễn.
Ở đây chúng tôi cũng xin viết thêm về một bà Hoàng hậu triều
Nguyễn đã được nhiều sách báo nhắc nhở đến về công đức và đạo
hạnh là bà Từ Dụ. Vì bà Từ Dụ là người đã có nhiều ảnh hưởng đến
các vua: Thiệu Trị, Tự Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghe... Và
trong số các Phi tần, bà Từ Dụ được Hoàng tử Miên Tông khi lên
ngôi vua, đã phong bà làm Chánh phi và được phép ngồi phía sau
bức màn nghe những lời vua bàn bạc với các Quan đại thần. Ngoài
việc giúp vua về chính trị, bà Từ Dụ còn trôn gnom sắp đặt những
việc trong cung với tư các một nữ quan cao cấp. Bà rất nhân từ đối
với các Phi tần dưới quyền, không bao giờ ganh tỵ hay đố kỵ,
thương yêu con của các Phi tần khác như chính con của bà, nên
vua Thiệu trị thường ban lời khen ngợi.
Như vậy, trong 8 bà Hoàng hậu đất Nam bộ làm dâu Triều
Nguyễn thì có 2 bà được người ta nhắc đến nhiều nhất và trong
sách, sử... cũng ca ngợi tánh nết đoan trang, nhân từ với mọi người,
không phân biệt sang giàu và chính kiến. Đó là bà Từ Dụ tức Bác
Huệ Thái Hoàng hậu vợ vua Thiệu Trị. Và bà Nam Phương Hoàng
hậu, tức Nguyễn Hữu Thị Lan, vợ vua Bảo Đại. Cả hai bà Hoàng
hậu Từ Dụ và Nam Phương đều nguyên quán đất Gò Công-Nam
Bộ.
Lý Nhân - Phan Thứ Lang
Nam Phương Hoàng hậu cuối cùng Triều Nguyễn
-2Đất Gò Công: “Địa linh nhân kiệt”
Nói hay viết đến chữ “Địa Linh Nhân Kiệt” không phải là việc
mê tín nhảm nhí, mà từ xưa đến nay các tác giả viết về địa lý như
Tả Ao đã nói về phong thủy, chỗ này đất tốt, chỗ kia đất xấu... đều
gần như đúng, và nay nhiều tác giả viết và nghiên cứu về tư liệu
Phong thổ ( phong thủy ) để nhiều người nghiên cứu và áp dụng.
Nhưng đúng hay sai cũng còn tùy ở con người tốt hay xấu. Ở đây
chúng tôi chỉ căn cứ trong bộ Hoàng Việt địa dư chí đời vua Minh
mạng thứ 14 năm 1883, và cuốn Cours d'Histoire Annamite của họa
giả Trương Vĩnh Ký viết và in năm 1877. Hai tác phẩm giá trị trên
đến nay nhiều nhà nghiên cứu vẫn còn phải dùng tới.
Ở đây chúng tôi nói về địa dánh Gò Công, nơi đã sản sinh ra
những nhân vật nổi danh cả về đức và tài đã được nhiều sử sách
nhắc đến.
Từ xưa đất Gò Công trong bộ Đại Nam quốc sử của cụ Phan
Thanh Giản đã được viết và đánh giá là “Địa Linh Nhân Kiệt”, căn cứ
vào địa lý và nhân văn đã có hai giả thuyết định nghĩa chữ Gò Công.
- Giả thuyết thứ nhất : Gò Công xưa là phần đất của xứ Phù
Nam, khi Chúa Hiền tức Nguyễn Phúc Tần, đinh cuộc di dân Nam
tiến, người Việt mới dời vào đây để định cư. Khi đó Gò Công còn là
đất rừng, chưa có ai tới cư ngụ. Nơi này có một cái gò cao, có nhiều
giống chim công trú ở nên người ta gọi ngay là Gò Công. Và trong
sử đã ghi chép về danh từ địa phương là : khi vua Minh Mạng ra
lệnh cho các quan địa phương đổi tên nôm na các tỉnh thành chữ
Nho cho nho nhã, thì “Gò Công” đã biến thành “Khổng Tước
Nguyên”, cũng như Đồng Nai thì đổi là “Lộc Dã”, còn Bến Tre thì đổi
là “Trúc Giang”, và Sóc Trăng đổi là “Nguyệt Giang” ( tức Sông
Trăng )...
- Giả thuyết thứ hai : Người ta kể lại, ở xứ này trước đây có
một người phụ nữ tên là Thị Công, đến lập quán bán thức ăn cho
dân khai thác đồn điền. Lâu dần, nhận thấy Gò Công là đất dễ sinh
nhau nên dân chúng các nơi hội tụ về đây khẩn hoang từng lập rẫy,
lập làng. Số người đến đây mỗi ngày một tăng, từ đó dân địa
phương quen miệng nên gọi là quán Bà Công, hay Gò Bà Công. Rồi
lâu ngày dân đã bỏ chữ bà đi mà gọi tắt là Gò Công. Và danh từ địa
phương Gò Công đã tồn tại từ đó đến nay.
Đất Gò Công từ ngàn xưa đã sản sinh ra những nhân tài như
Phạm Đăng Hưng, như Trương Công Định chống Pháp thời vua Tự
Đức, khi tại thế được vua Tự Đức phong Đại Nam Bình Tây Đại
tướng quân Trương Công Định. Những dòng chữ này đã được khắc
trên bia mộ của Công Định tại Gò Công.
Khi thực dân Pháp thống trị đất Nam bộ, họ đã bầm nát hàng
chữ trên và còn phạt vạ bà Trần Thị Sanh, là người quả phụ của
Trương Công Định 10 ngàn đồng vì người Pháp nêu lý do Trương
Công Định tạo ra cuộc phiến loạn chống người Pháp.
Đến đời vua Bảo Đại đã phong tước Trương Công Định là: “Đại
Nam, Phấn dõng Đại tướng quân truy tặng Ngũ Quân quận công”,
cho phép tu sửa lại phần mộ họ Trương trang trọng hơn trước, và
năm 1955, ông Nguyễn Huỳnh Mai phụng đề hai câu đối liễn ở mộ
bia như sau:
Mặt trước: “Trương chí quật cường, võ liệt nêu cao đất Việt Định tâm kháng chiến, văn mờ chói rạng trời Nam.”
Mặt sau: “Huyện Tân Hòa, khẳng khái Cần Vương, tờ chiếu
ngọc - Làng Gia Thuận, thung dung tựu nghĩa, chiếc gươm vàng”.
Hàng năm, cứ vào ngày 18 tháng 7 Âm lịch có nhiều người tới
thắp nhang viếng mộ họ Trương.
Tại Gò Công còn có đền thờ Võ Quốc Công tức Võ Tánh. Miếu
nay đặt tại Gò Tre, nơi Võ Tánh dựng cờ tụ nghĩa chiêu tập quân
lính giúp Nguyễn Ánh đánh quân Tây Sơn. Sau đó Võ Tánh ra Bình
Định để tiếp tục giúp nhà Nguyễn đánh quân Tây Sơn và Võ Tánh
đã tạ thế tại đây.
Nơi nguyên quán Võ Tánh là Gò Công, ấp Gò Tre có hai câu
đối ghi công ơn họ Võ như sau:
“Khổng Tước kỳ, khẳng khái Cần vương, tam hùng thủ liệt.
Bàn Sà địa, thung dung tựu nghĩa, nhứt biến Trung hưng”.
Đi theo Võ Tánh để phò vua Nhà Nguyễn còn có ông Nguyễn
Văn Hiểu. Ông là một người có tài, có đức, cương trực, và liêm
khiết, đã có công lớn đối với vua Gia Long. Ông được cử ra làm trấn
thủ Sơn Nam hạ ( tức tỉnh Nam Định ). Làm quan tới đời vua Minh
mạng thứ 13, và được thăng Thự Tả quân Đô thống phủ Chương
phủ sự. Khi ông tạ thế, vua Minh Mạng phong Lương năng bá. Con
trai của ông Nguyễn Văn Hiểu là Nguyễn Văn Túc, có vợ là công
chua Chương Gia. Ông Túc được phong Phò mã Đô úy.
Thế kỷ 19-20, đất Gò Công đã nảy sinh ra những nhân vật học
giỏi, giữ nhiều chức vụ cao và nổi danh. Như ông Lê Quang Liêm tự
Bẩy Liêm hay Phủ Liêm. Ông Nguyễn Minh Chiếu, người gốc Gò
Công, cũng là người nổi danh. Tiếp sau là Luật sư Vương Quang
Nhường, nhà văn Hồ Biểu Chánh tên thật là Hồ Văn Trung làm tới
chức Đốc phủ sứ. Ngoài giờ làm công chức, cụ Hồ Biểu Chánh còn
viết tiểu thuyết, làm thơ và làm báo. Cụ Hồ Biểu Chánh để lại 44 tác
phẩm truyện dài, truyện ngắn rất giá trị. Hiện nay các nhà làm phim
đang lấy những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh, như Nợ đời, Trọn
nghĩa vẹn tình... để làm các phim truyện.
Về tôn giáo có Giám mục Nguyễn Bá Tòng, là vị giám mục tiên
khởi của hàng giáo phẩm Việt Nam. Giám mục Nguyễn Bá Tòng
cũng là vị giám mục đạo đức và lỗi lạc của giáo hội Công giáo Việt
Nam 1932 - 1949.
Những vị mà chúng tôi nhắc đến trên đều là giới nam. Còn giới
nữ, gốc Gò Công cũng nổi danh, mà lại nổi danh tột đỉnh triều đình
nhà Nguyễn là bà Phạm Thị Hằng, con gái ông Phạm Đăng Hưng đã
trở thành nàng dâu nhà Nguyễn tức là bà Từ Dụ, được phong Nghi
Thiên Chương Hoàng hậu, vợ của vua Thiệu Trị, là mẹ vua Tự Đức.
Và bà thứ hai là Nguyễn Hữu Thị Lan, con gái ông Nguyễn Hữu
Hào, làm vợ vua Bảo Đại, được phong Nam Phương Hoàng hậu.
Hai bà Hoàng hậu triều Nguyễn gốc Gò Công đều được người
đời tôn kính là bậc mẫu nghi vì đạo đức, tài giỏi và thương dân,
thương nước.
Lý Nhân - Phan Thứ Lang
Nam Phương Hoàng hậu cuối cùng Triều Nguyễn
-3“Tam cung Lục viện”
Nước ta, kể từ triều Nguyễn Gia Long các vua vì theo phong
tục của Trung Hoa nên vua nào cũng có một bà vợ chính thức được
gọi là Nhất giai phi, chỉ khi chết mới được tôn là Hoàng hậu, ngoài ra
còn chọn nhiều Phi tần, Cung nữ tuyển vào cung để làm vợ thứ.
Nhưng kể từ Gia Long lên ngôn Hoàng đế thì chức Hoàng hậu bị bãi
bỏ vì nhà vua sợ các bà hoàng lộng quyền chiếm đoạt ngôi vua. Vì
vậy, Gia Long đã đặt ra “Tứ bất lập”, theo thứ tự như sau:
- Bất lập Hoàng hậu ( Không lập Hoàng hậu ).
- Bất lập Đông cung ( Không lập Thái tử ).
- Bất lập Tể tướng ( Không đặt chức Tể tướng ).
- Bất lập Trạng nguyên ( Không lấy ai đậu Trạng nguyên ).
Sau đó chia ra làm “Cửu giai” và theo thứ tự các bà vợ từ đầu
đến cuối như sau:
- Nhất giai phi.
- Nhị giai phi.
- Tam giai tân.
- Tứ giai tân.
- Ngũ giai Tiệp dư.
- Thất giai Thục nhân.
- Bát giai Mỹ nhân.
- Cửu giai Tài nhân.
Việc sắp xếp trên cũng như các cấp bậc quan lại được chia ra
thứ tự gồm “Cửu phẩm”. Như vậy bà nào đứng đầu trong “Cửu giai”
thì được gọi là Hoàng Quý phi. Lệ này được duy trì tới 12 đời vua
triều Nguyễn, và tới Bảo Đại là vị vua thứ 13 mới cho lập lại chức
Hoàng hậu.
Cũng vì sợ Phi tần, Cung nữ trong Hoàng cung quá đông nên
nhà vua đã cho lệnh xây cất “Tam cung” và “Lục viện” cho mỗi bà ở
một phòng riêng mới đủ chỗ.
Ở Tam cung lại chia ra làm 3 cung:
Cung Diên Thọ, là nơi dành cho các bà Hoàng Thái hậu, Thái
Thái hậu là các bà vợ của các vua đã băng hà ( tạ thế ), và có các
viên Thái giám ở đó nữa.Cung Trường Sanh dành cho các bà vợ
vua đang tại ngôi, như các bà Lệ Thiên, vợ của vua Tự Đức, và bà
Từ Minh, vợ của vua Dục Đức cũng đã từng ở nơi này.Cung Khôn
Thái được thiết lập ở gần điện Cần Thánh chỗ vua ở. Cung này
dành riêng cho các bà Hoàng Quý phi. Trong cung này có một điện
tên là Cao Minh Trung Chính, điện này lập vào năm Gia Long thứ
ba. Ở phía đông của điện Cao Minh Trung Chính có một nhà hát để
nội cung hát riêng cho vua xem và gọi là Viện Tịnh quan. Còn Lục
viện gồm có 6 viện là:
Viện Thuận Huy, nằm ở giữa điện Cần Thánh và điện Cao Minh
Trung Chính. Ở phía tây viện Thuận Huy lại có:Viện Đoan
Thuận.Viện Đoan Hòa.Viện Đoan Huy.Viện Đoan Trường.Viện Đoan
Trang. Ngoài Cung Diên Thọ ra, những cung và viện kể trên là chỗ
dành cho các cung phi, mỹ nữ vợ của những vua đang trị vì, và đều
nằm ở cả trong Tử Cấm thành. Nơi này ngoài vua ra, chỉ có các
Thái giám được lui tới thôi, các đàn ông khác không được phép bén
mảng tới nơi này.
Những Phi tần, Cung nữ đều được tuyển chọn trong những gia
đình các cô con gái của các quan Đại thần, ngoài ra cũng có khi
chọn trong hàng con thường dân nhưng phải có sắc đẹp đặc biệt và
nhất là phải có đức hạnh đoan trang.
Lúc mới được tuyển vào cung, các cô gái này được đứa đến ở
Đoan Trang viện để học tập cách ăn mặc, đi đứng và các nghi lễ
trong cung. Một khi đã được tiến vào cung, những Phi tần, Cung nữ
này không được phép gặp mặt bất cư ai bên ngoài nữa kể cả cha
mẹ anh chị em. Cũng có trường hợp đặc biệt hiếm lắm nhà vua mới
cho phép cha mẹ vào Nội cung để thăm con, nhưng chỉ được nói
chuyện với con qua một bức màn sáo che không thấy mặt con.
Người nào có con được tiến vào cung là coi như mất con vì ít khi
nào được gặp lại mặt con nữa.
Trong “Tam cung Lục viện” có các thị nữ ( hay nữ tỳ cũng vậy )
để hầu hạ các Phi tần. Còn nhiệm vụ của các Thái giám là trông
nom và săn sóc cho các Phi tần. Vì Thái giám có nhiệm vụ kiểm tra
các hành động của Phi tần và mỗi lần vưa ngự đến “ngự dâm” với
các bà nào thì viên Thái giám phải ghi chép giờ, ngày tháng cho
đúng xem bà nào có thai trước, đẻ con trai hay con gái.
Những viên Thái giám cũng được chia ra làm hai loại. Một loại
là “Giám sanh”, tức trời sanh ra ngay khi lọt lòng đã phi nam phi nữ,
nghĩa là không có hộ “sinh dục nam” hay “sinh dục nữ”. Và loại thứ
hai là “Giám lặt” là bị thiến mất “của quý”.
Theo cụ Hoàng Trọng Thược cho biết thì xưa tại làng nào có
“Giám sinh” ra đời thì cha mẹ phải đi trình làng để các cơ quan hữu
trách trình lên Bộ và Bộ sẽ cho nuôi nấng và dạy dỗ đứa trẻ theo
nghi lễ trong cung để khi lớn lên thì đưa vào Nội cung làm Thái
giám. Những đứa trẻ này người ta thường gọi là ông “Bộ”.
Thông lệ, thời xưa làng, xã nào sinh sản được ông “Bộ”, lớn
lên được tuyển vào cung sẽ được nhà vua ký sắc cho miễn thuế ba
năm.
Còn các Phi tần, Cung nữ thì sao? Ở trong cung có hàng chục,
có khi hàng trăm cô để hầu hạ chăn gối cho vua. Nhưng sức người
có hạn, làm sao vua ban ân sủng hết được, bởi vậy có nhiều cô từ
khi được “tiến” vào cung, cho tới khi vua băng hà vẫn chưa một lần
được vua lâm hạnh, và kết quả cô này vẫn còn trinh.
Cũng theo cụ Hoàng Trọng Thược, thì mỗi khi vua giá lâm đến
Tam cung Lục viện để “ngự dâm” thì thường dừng xe do một con dê
đực kéo, hễ dê dừng ở của phòng nào thì vua “ngự dâm” ở phòng
đó. Bởi vậy, các Phi tần, Cung nữ thường hay nhờ các chị thị nữ
mua các thứ cỏ non hay lá dâu, lá sấu đâu... rồi đem rắc ở trước
của phòng khi vua ngồi trên xe dê giá lâm, dê thấy cỏ non, lá sâu, lá
sầu đâu... thì dừng lại ăn. Cho nên trong tác phẩm “Cung oán ngâm
khúc” của tác giả Ôn Như Hầu đã có câu :
“Phải duyên hương lửa cùng nhau,
Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào.”
Vậy vua Gia Long có bao nhiêu vợ? Và bao nhiêu con?
Theo chính sử viết, vua Gia Long có 3 bà vợ được gọi là đệ
nhất phi, đệ nhị phi, đệ tam phi. Ngoài 3 bà phi này còn có 6 bà phi
nữa nhưng không thấy tư liệu nào nhắc đến.
Ba bà phi chính thức được xếp thứ tự như sau:
Bà Quế phi ( Đệ nhất phi ) tên là Tống Thị Lan, tức Thừa Thiên
Cao Hoàng hậu, con ông Chưởng dinh Tống Phước Khuông, người
huyện Tông Sơn, Thanh Hóa - đã vào Nam theo Chúa Nguyễn Phúc
Chu để chống nhà Tây Sơn. Bà họ Tống, sinh được ba người con là
Nguyễn Phúc Cảnh ( tức Hoàng tử Cảnh ), người thứ nhì là Nguyễn
Phúc Hy, tạ thế 1801, người thứ ba là Nguyễn Phúc Tuấn, đã tạ thế
trước Cảnh và Hy. Chỉ có Nguyễn Phúc Cảnh được gọi là Hoàng tử.
Năm 4 tuổi Cảnh được Gia Long cho theo Giám mục Bá Đa Lộc
sang Pháp để cầu viện nước Pháp giúp khí giới và quân đội đánh
nhà Tây Sơn. Theo một số tư liệu thì Hoàng tử Cảnh và hai em trai
đã được Giám mục Bá Đa Lộc khuyên rửa tội theo đạo Công giáo,
Hoàng tử Cảnh ở Pháp một năm rồi trở về.
Hoàng tử Cảnh có vợ là Tống Thị Quyên, sanh được hai con
trai. Người thứ nhất là Nguyễn Phúc Mỹ Đường, cũng có tên là Đán
- Hoàng Tôn Đán được phong tước Ứng hòa công. Người con thứ
hai, là Nguyễn Phúc Mỹ Thụy ( còn có tên là Mỹ Hòa ) hay Kính,
được phong tước Thái Định công. Năm 1824, không biết phạm tội
gì, Mỹ Đường bị lột hết tước, phải nộp ấn thư, rồi bị giáng xuống làm
thứ dân. Mỹ Đường có một người con là Nguyễn Phúc Lê Chung,
sau được vua Tự Đức phong Cảnh Hòa Quận công.
Sau này người ta đọc được bài phiên hệ thi : Mỹ-Duệ-TăngCường-Tráng, Liên-Huy-Phát-Bôi-Hương... Những con cháu của
Hoàng tử Cảnh sau này, năm đời còn lại là ông Nguyễn Phúc Hồng
Dân ( 1882 - 1951 ), là cháu năm đời của Hoàng tử Cảnh. Đã mang
tước Kỳ ngoại hầu Cường Để. Ông Cường Để trốn sang Nhật Bản
lập Việt Nam Quang Phục Hội do ông làm Hội chủ để chống Pháp
cai trị Việt Nam. Con của Cường Để là ông Tráng Liệt, và cháu là
Liên Bảo. Như vậy, cháu, chắt dòng Hoàng tử Cảnh hiện nay hãy
còn rải rác khắp nơi.
Bà Minh phi ( Đệ nhị phi ) họ Trần Thị Đang, tức Thuận Thiên
Cao Hoàng hậu, là mẹ của vua Minh Mạng. Bà họ Trần là con gái
của ông Tham tri Bộ Lễ Trần Hưng Đạt, quê ở Vạn Xá ( Thừa Thiên
). Nguyên bà họ Trần trước là người hầu của mẹ vua Gia Long, rồi
cùng ra Quảng Trị ẩn náu ở làng An Đô, gần cửa Tùng. Đến khi vào
Nam đã được tuyển làm vợ Nguyễn Ánh ( Gia Long ), khi mới 13
tuổi.Bà Lê Thị Ngọc Bình ( Đệ tam phi ), gọi là Đức phi hay Thần phi
cũng vậy. Bà Ngọc Bình là con út của vua Lê Hiển Tông. Khi nhà
Tây Sơn thất bại, vua Quang Trung tại thế để lại bà Ngọc Hân Công
chúa ở lại kinh thành với người em gái là Ngọc Bình ( vợ vua Quang
Toản - tức Cảnh Thịnh, con của Nguyễn Huệ ). Theo ngoại sử, lúc
đó Gia Long có gạ gẫm và ép duyên bắt Ngọc Hân phải lấy ông.
Nhưng đã bị Ngọc Hân cự tuyệt. Còn Ngọc Bình thì lúc đầu cũng
không bằng lòng, nhưng sau cũng xuôi lòng và chấp nhận lấy Gia
Long làm thứ phi. Bà Ngọc Bình đã sinh được hai người con trai với
Gia Long tên là Quảng Oai công, và Thường Tín Quận công. Cũng
vì sự trớ trêu trên mà dân gian sau này ở Huế đã có câu nói:
“Số đâu có số lạ làng,
Con vua mà lấy hai chồng làm vua.”
Đến đây, chúng ta cũng nên biết trong 9 đời chúa, và 13 đời
vua Nguyễn, có vị chào đời ở đất Nam bộ xưa, có vị lâu ngày ở đất
Nam bộ và tạ thế tại đây.
Vị Hoàng tử đầu tiên là Nguyễn Phúc Đảm ( Đởm ) tức vua
Minh Mạng sinh năm 1791 tại làng Tân Lộc, tỉnh Gia Định, xứ nam
bộ.
Còn ông vua sống lâu ngày nhất ở Nam bộ là Nguyễn Phúc
Ánh tức vua Gia Long, kể từ năm 1775 đến đầu thế kỉ XIX mới trở
về Huế, tức là 25 năm sống ở Nam bộ và xê dịch nhiều tỉnh, ông còn
lặn lội sang Xiêm để cầu viện. Nguyễn Ánh cũng là ông vua xuất
ngoại đầu tiên.
Chúa Định Vương Nguyễn Phúc Thuần ( 1765 - 1777 ), là vị
Chúa thứ chín, đã bị quân Tây Sơn bắt được ở tỉnh Long Xuyên và
đem về Sài Gòn hạ sát vào năm 1777.
Đến cuối triều Nguyễn là vua Bảo Đại và bà Nam Phương
Hoàng hậu thì cả hai đều tạ thế tại ngoại quốc, sau khi vua Bảo Đại
bị truất phế khỏi ngôi Hoàng đế triều Nguyễn phong kiến khi cuộc
Cách mạng tháng Tám năm 1945 của nhân dân Việt Nam dưới sự
lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng lên đánh đổ chế độ thực
dân Pháp đang cai trị nước ta do Bảo Đại làm vua bù nhìn của chế
độ thực dân Pháp.
Lý Nhân - Phan Thứ Lang
Nam Phương Hoàng hậu cuối cùng Triều Nguyễn
-4Đất kết sinh mẫu nghi
Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, tập 2, quyển 2. 3 đã viết :
Từ Dụ là huy hiệu của vua Tự Đức truyền đi chiếu tấn phong cho
Lịnh bà. Từ là lòng nhân từ thường yêu. Dụ là rộng rãi. Từ Dụ là
rộng lòng nhân từ thương yêu.
Lịnh bà là Phạm Thị Hằng hay Nguyệt, sinh ngày 19 tháng 5
mùa hạ năm Gia Long thứ 9 ( 1810 ) tại giồng Sơn Quy huyện Tân
Hòa, nay là Gò Công thuộc tỉnh Tiền Giang, con quan Thượng thư
bộ Lễ Phạm Đăng Hưng sau đặng truy tặng tước Đức Quốc công.
Hằng, tên của Lịnh bà trùng với tên của Hán Văn đế được
kiêng húy thay bằng chữ thường. Nguyệt, tên của Lịnh bà được
kiêng húy đọc ra ngoạt.
Tương truyền xứ Gò Công nước thường mặn lắm, các giồng (
dải đất gồ lên cao để ở tiếp liền với ruộng thấp ) đều có giếng nước
ngọt song cũng không được ngọt lắm.
Từ khi Lịnh bà được sanh ra, nước giống giồng Sơn Quy ngày
càng thanh, người uống vào ít có bịnh tật, tiếng đồn khắp nơi, người
lân cận đều đến gánh về dùng.
Còn giồng Sơn Quy thì càng ngày càng cao được bồi thêm
như hình mai rùa. Cây trái ở đây lại tươi tốt dồi dào hơn các nơi
khác.
Những vị kỳ lão ở xứ Gò Công còn nhớ câu:
Lệ thủy trình tường thoại,
Quy khâu trúc phước cơ.
( Nước ngọt trổ điềm lành,
Gò rùa vun nên phước. )
Lúc còn bé, Lịnh bà ham đọc sách, thông hiểu kinh sử, có tính
hiền đức và có nết hạnh. Mẹ của Lịnh bà bổn tính ham văn học,
thường khi biểu người người ta đọc Huấn nữ và Nhị thập tứ hiếu,
nghe lấy làm vui. Mẹ của Lịnh bà muốn Lịnh bà đọc sách, những
phép dạy trong nhà cửa cha rất nghiêm: con cái thì học nữ công và
coi sóc công việc trong nhà. Còn chữ nghĩa thì học cho biết mà thôi.
Lịnh bà được các anh chị dạy chữ nghĩa chút đỉnh, song chưa hiểu
văn lý mạch lạc.
Năm Lịnh bà lên 12 tuổi, thân mẫu bị bệnh thích nằm một mình,
gia nhân không đặng thân cận hầu hạ. Lịnh bà ngày đêm săn sóc
cơm thuốc không bao giờ lìa xa.
Khi thân mẫu mất, Lịnh bà ngày đêm kêu khóc không dứt, giữ
việc tang chế ốm gầy người như kẻ thành nhân. Người xa kẻ gần
nghe như thế đều khen ngợi và lấy làm lạ.
Năm Minh Mạng thứ 4 ( 1823 ) thân phụ của Lịnh bà thất lộc tại
kinh đô. Thuyền chở quan cửu về Gia Định, đi vừa tới ngoài cửa
Cần Giờ bị một trận gió lớn, gẫy lái. Đà công và thủy thủ kinh hãi chỉ
đợi chìm mà chịu chết. Gió lớn sóng to, thuyền nghiêng qua lắc lại.
Và như có vật gì rất lớn lao nâng đỡ ở đ...
Những câu chuyện về cuộc đời NAM PHƯƠNG Hoàng hậu cuối
cùng Triều Nguyễn
Thuở nhỏ, mái trường mà tôi được vinh hạnh nhập học đầu
tiên là trường Couvent des Oiseaux do các nữ tu trong dòng Đức Bà
quản giáo tọa lạc tại đường Parreua ( gần Bưởi hay là đường
Hoàng Hoa Thám ) Hà Nội. Khi tôi học ở lớp mẫu giáo của trường
Convent des Oiseaux thì bà Nam Phương Hoàng hậu tới thăm.
Chúng tôi là những học sinh nhỏ tuổi được cầm những bó hoa tươi
đứng trước sân để nghênh đón Hoàng hậu. Hai em học sinh Việt và
Pháp bưng hoa lên dâng tặng Nam Phương Hoàng hâu. Bà Nam
Phương cám ơn nhà trường và các em học sinh, rồi ôm hôn hai em
đang tặng hoa.
Lý do bà Nam Phương tới thăm trường Convent des Oiseaux
Hà Nội vì những ngày du học tại Pháp, bà Nam Phương đã có thời
gian theo học trường Convent des Oiseaux Paris cũng do các nữ tu
dòng Đức Bà phụ trách mà hồi đó người ta đều kêu danh xưng là
các Mẹ ( Mère )
Bà Nam Phương có net mặt hiền hậu và đạo hạnh. Hình ảnh
Nam Phương hoàng hậu vấn khăn vành vàng in trên con tem đã để
lại ấn tượng trong nhiều người lớn tuổi. Đến năm 1945 tôi đọc báo
thấy bà hưởng ứng Tuần Lễ Vàng tại Huế bằng hành động tự trao
tất cả những quý kim vàng bạc châu báu mà bà đang mang trên
người để tặng Nhà nước mua vũ khí chống thực dân Pháp. Rồi bà
Nam Phương còn làm việc thiện, như vào dịp Tết năm 1946, Chủ
tịch Ủy ban Hành chánh Huế trao bà Nam Phương số tiền 10 ngàn
đồng bạc, nói là của Hồ Chủ Tịch chuyển vào để tặng bà và gia đình
ăn Tết. Với số tiền này thời đó là lớn lắm. Bà Nam Phương nhận số
tiền trên, gởi lời cảm ơn Cụ Hồ và Ủy ban Hành chánh Huế. Sau đó,
bà Nam Phương đã chuyển số tiền 10 ngàn đồng bạc cho các bà
phước trông coi cô nhi viện ở Huế để các cháu ăn tết mà các cô nhi
đang thiếu thốn vì chiến tranh vừa xảy ra.
Cũng năm 1946, bà Nam Phương còn có một hành động yêu
nước khi thực dân Pháp đem quân trở lại xâm lược Việt Nam. Đó là
bà đã viết một lá thư ngỏ như một Thông điệp ( Message ) gửi tới
những bạn hữu ở châu Âu và thế giới yêu cầu họ lên tiếng tố cáo sự
trở lại của quân đội Pháp làm đổ máu đồng bào Nam bộ.
Những hành động trên không riêng cá nhân tôi trân trọng, mà
mọi người đều kính phục nhân cách của một bà cựu hoàng hậu
nước Việt. Vì vậy, khi bước chân vào làm báo, với lòng ngưỡng mộ,
tôi đã cố công sưu tầm những tư liệu, sách, báo đã viết về bà Nam
Phương để dành làm tư liệu.
Cuộc đời bà Nam Phương từ thuở thơ ấu đến khi trưởng
thành, lấy chồng và trở thành hoàng hậu có thể nói rất hạnh phúc.
Bảo Đại đã giữ đúng lời hứa chỉ có một vợ một chồng. Nhưng sau
năm 1945 vì tình thế và hoành cảnh, Bạo Đại đã thay tính đổi nết, ăn
chơi, cờ bạc, và quan hệ với nhiều phụ nữ “ già ngân ngãi non vợ
chồng ” mà người ta gọi là những thứ phi của Bảo Đại. Tuy vậy, bà
Nam Phương cũng không có một hành động nào làm xáo trộn gia
đình, nếu có bà chỉ nhỏ nhẹ than với mấy người thân cận. Những
hành động như đánh ghen, chửi bới, hãm hại tình địch bà Nam
Phương không bao giờ có. Những chuyện cho rằng bà Nam
Phương cho người cầm súng hạ tình địch, nhưng tình địch không hề
hấn gì mà Bảo Đại lại bị trọng thương chỉ là những giai thoại và thêu
dệt của những người không ưa Bảo Đại.
Từ lúc về làm dâu nhà Nguyễn, trở thành bà Hoàng hậu, chúng
tôi chưa thấy một ai chê trách hay than phiền về cung cách hay lời
ăn tiếng nói của Nam Phương. Trái lại, Bảo Đại bị tai tiếng và người
đời chê trách khá nhiều.
Trong cuốn “Giai thoại và sự thật về Bảo Đại - vua cuối cùng
triều Nguyễn” của tôi đã được xuất bản có nhiều phần viết về Nam
Phương - người vợ đầu tiên và chính danh của Bảo Đại. Song theo
yêu cầu của bạn đọc muốn tìm hiểu đầy đủ hơn về bà Nam Phương,
tôi đã hệ thống lại tư liệu để viết tiếp cuốn sách nhỏ này, với tên gọi
“Những câu chuyện về cuộc đời Nam Phương - hoàng hậu cuối
cùng triều Nguyễn”.
Vì những câu chuyện được sưu tầm, góp nhặt từ nhiều nguồn
tư liệu nên chắc chắn không tránh khỏi những nhầm lẫn, sai sót.
Nếu phát hiện mong bạn đọc góp ý và lượng thứ.
Nhân đây chúng tôi xin chân thành cảm ơn đến những tác giác
có tác phẩm mà chúng tôi sử dụng, trích dẫn trong cuốn sách này.
Thành thật cảm tạ.
Sài gòn - TP. Hồ Chí Minh thánh 9-2006
Lý Nhân PHAN THỨ LANG
Lý Nhân - Phan Thứ Lang
Nam Phương Hoàng hậu cuối cùng Triều Nguyễn
-1Gái thuyền quyên đất Nam bộ trở thành vợ các vua triều Nguyễn
Đất Nam bộ có nhiều trai anh hùng phò chúa Nguyễn mở mang
bờ cõi và cũng có nhiều “gái thuyền quyên” được tiến vào cung làm
vợ cách vua triều Nguyễn.
Như chúng ta đã biết, 25 năm ròng rã bôn ba đất Nam bộ và
được gần gũi các cận thần người miền Nam như các ông Nguyễn
Huỳnh Đức, Lê Quang Định, Phạm Đăng Hưng... thế mà Gia Long
lại không có một mối tình nào với những người đẹp đất Nam bộ kể
cũng lạ. Hay chính sử và ngoại sử kỵ húy, sợ phạm thượng không
dám ghi lại chăng? Hay Nguyễn Ánh lúc đó tạm gác lại “tình duyên”
để lo “đại sự” mà chưa nghĩ đến một bóng thuyền quyên nào ở đất
Nam bộ?
Nhưng hậu duệ của Gia Long là vua Minh Mạng đã có mấy bà
vợ người miền Trung rồi, lại tuyển bốn gái thuyền quyên miền Nam
ra Huế để tiến vào cung hầu hạ nhà vua, là những bà dưới đây mà
sử sách đều ghi:
1. Bà Hồ Thị Hoa ( 1791 - 1807 ), sau được phong làm Tá
Thiên Nhân Hoàng hậu. Bà Hoa là người Bình An, tỉnh Biên Hòa. Bà
là con gái của ông Hồ Văn Bôi, sau ông được phong Phúc Quốc
Công. Vì húy tên bà là Hoa nên sau này ở Gia Định có một cây cầu
Hoa phải gọi là cầu Bông. Còn ở Huế có Cửa Đông Hoa đã phải đổi
là Cửa Đông Ba, và vở tuồng hát bội nổi tiếng là Phàn Lê Hoa cũng
phải đổi là Phàn Lê Huê... Đặc biệt bà Hoàng hậu này không có một
người con nào.
2. Bà Nguyễn Thị Khuê, tự Bích Chi, được phong Hòa Tần,
người huyện Phúc Lộc, tỉnh Gia Định, là con gái của quan Chưởng
Cơ Nguyễn Văn Thanh, trấn phủ tỉnh Quảng Nam. Bác Bích Chi
sanh được bốn Hoàng tử và sáu Công chúa.
3. Bà Nguyễn Thị Nhân, phong Cung Tần, người Gia Định. Là
con gái Chính Đội Nguyễn Văn Châu. Bà này sinh được một Hoàng
tử là Miên Ký, người giỏi văn chương trong triều Tự Đức, và được
phong tước Cẩm Quốc công.
4. Bà Nguyễn Thị Bảo ( 1801 - 1951 ) được phong là Thục
Thần, người Gia Định là con của quan Tư không Nguyễn Khắc
Thiệu. Bà này sinh được một Hoàng tử là Miên Thẩm ( 1818 - 1870 )
và ba Công chúa là Vĩnh Trinh ( 1824 - 1892 ), Trinh Thận ( 1824 1904 ), và Tĩnh Hòa ( 1830 - 1882 ). Cả bốn người con trên đều trở
thành những nhà thơ nổi danh ở đất Thần Kinh nói riêng và cả nước
nói chung mà đến bây giờ người ta vẫn còn nhớ đến những bút
danh: Tùng Thiện Vương, Quy Đức, Man Am và Huệ Phố với những
bài thơ tuyệt tác và bất hủ.
Đến hậu duệ của vua Minh Tạng là vua Thiệu Trị, thì cũng có
ba bà vợ là người miền Nam, là các bà:
1. Phạm Thị Hằng có tự là Nguyệt ( còn theo Việt Nam tự điển
của tác giả Lê Văn Đức thì Phạm Thị Hằng tự Hào ), là người huyện
Tân Hòa tỉnh Gò Công. Bà là con quan Lễ Bộ Thượng thư Phạm
Đăng Hưng. Bà Phạm Thị Hằng được phong là Hoàng Thái hậu Từ
Dụ. Bà là người hiền thục, đoan trang nên được Thuận Thiên Cao
Hoàng hậu tuyển vào cung cho làm vợ Hoàng tử Miên Tông, tức vua
Thiệu trị. Bà Hằng đã sinh được hai Công chúa và một Hoàng tử là
Hồng Nhậm, tức vua Tự Đức. Bà Từ Dụ đã sống qua 10 đời vua kể
từ vua Gia Long là thời gian bà chào đời cho tới lúc hạ thế là năm
1901 đời vua Thành Thái thư 13. Đây là một bà Hoàng hậu đã được
sống nhiều triều đại, được mắt thấy tai nghe nhiều sự kiện xảy ra
trong triều Nguyễn.
2. Bà Nguyễn Thị Nhậm, tước Lệnh Phi, người An Giang (
Long Xuyên ), là con của Kinh môn Quận công Nguyễn Văn Nhân.
Bà Nguyễn Thị Nhậm được tuyển vào cung cùng một thời gian với
bà Phạm Thị Hằng. Nhưng vì bà Nhậm chỉ sinh được một Hoàng nữ
là Công chúa Nhàn Yên An Thạch, nên bà Nhậm chỉ được phong
tước là Lệnh Phi.
3. Bà Nguyễn Thị Huyên, được phong tước là Đức Tần, là
người miền Nam, nhưng nguyên quán lại là Thừa Thiên, là con của
Cai cơ Nguyễn Đức Xuyên. Bà này sinh được một Hoàng tử là Hồng
Diêu ( 1845 - 1875 ), đây là vị Hoàng tử thứ 25 của vua Thiệu Trị.
Tới hậu duệ của vua Thiệu Trị là vua Tự Đức có một bà vợ người
miền Nam là Nguyễn Thị Hương, được phong tước Học Phi, người
đất Vĩnh Long. Bà Hương không có con nên đã nhận công tử Ưng
Thị, sanh năm 1870, là con mệ Hường Cai làm con nuôi. Đến khi
vua Tự Đức tạ thế là Ưng Thị được tôn làm vua tức vua Kiến Phúc.
Như trên chúng tôi đã viết, đã có bảy phụ nữ miền Nam đã trở
nên Hoàng hậu triều Nguyễn. Đến thời thứ 13 triều Nguyễn Nguyễn
Vĩnh Thụy tức vua Bảo Đại cũng lấy vợ người miền Nam, và đặc
biệt là ngay khi cưới đã được phong làm Hoàng hậu, không như các
vua tiền nhiệm, khi vua băng hà thì các bà mới được chọn để phong
Hoàng hậu, hay Hoàng Thái hậu.
Người phụ nữ người miền Nam thứ tám được phong làm
Hoàng hậu là bà Nguyễn Hữu Thị Lan chúng tôi xin dành những
trang sau sẽ viết đầy đủ hơn. Vì bà Nguyễn Hữu Lan tức Nam
Phương Hoàng hậu cũng là bà Hoàng hậu cuối cùng triều Nguyễn.
Ở đây chúng tôi cũng xin viết thêm về một bà Hoàng hậu triều
Nguyễn đã được nhiều sách báo nhắc nhở đến về công đức và đạo
hạnh là bà Từ Dụ. Vì bà Từ Dụ là người đã có nhiều ảnh hưởng đến
các vua: Thiệu Trị, Tự Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghe... Và
trong số các Phi tần, bà Từ Dụ được Hoàng tử Miên Tông khi lên
ngôi vua, đã phong bà làm Chánh phi và được phép ngồi phía sau
bức màn nghe những lời vua bàn bạc với các Quan đại thần. Ngoài
việc giúp vua về chính trị, bà Từ Dụ còn trôn gnom sắp đặt những
việc trong cung với tư các một nữ quan cao cấp. Bà rất nhân từ đối
với các Phi tần dưới quyền, không bao giờ ganh tỵ hay đố kỵ,
thương yêu con của các Phi tần khác như chính con của bà, nên
vua Thiệu trị thường ban lời khen ngợi.
Như vậy, trong 8 bà Hoàng hậu đất Nam bộ làm dâu Triều
Nguyễn thì có 2 bà được người ta nhắc đến nhiều nhất và trong
sách, sử... cũng ca ngợi tánh nết đoan trang, nhân từ với mọi người,
không phân biệt sang giàu và chính kiến. Đó là bà Từ Dụ tức Bác
Huệ Thái Hoàng hậu vợ vua Thiệu Trị. Và bà Nam Phương Hoàng
hậu, tức Nguyễn Hữu Thị Lan, vợ vua Bảo Đại. Cả hai bà Hoàng
hậu Từ Dụ và Nam Phương đều nguyên quán đất Gò Công-Nam
Bộ.
Lý Nhân - Phan Thứ Lang
Nam Phương Hoàng hậu cuối cùng Triều Nguyễn
-2Đất Gò Công: “Địa linh nhân kiệt”
Nói hay viết đến chữ “Địa Linh Nhân Kiệt” không phải là việc
mê tín nhảm nhí, mà từ xưa đến nay các tác giả viết về địa lý như
Tả Ao đã nói về phong thủy, chỗ này đất tốt, chỗ kia đất xấu... đều
gần như đúng, và nay nhiều tác giả viết và nghiên cứu về tư liệu
Phong thổ ( phong thủy ) để nhiều người nghiên cứu và áp dụng.
Nhưng đúng hay sai cũng còn tùy ở con người tốt hay xấu. Ở đây
chúng tôi chỉ căn cứ trong bộ Hoàng Việt địa dư chí đời vua Minh
mạng thứ 14 năm 1883, và cuốn Cours d'Histoire Annamite của họa
giả Trương Vĩnh Ký viết và in năm 1877. Hai tác phẩm giá trị trên
đến nay nhiều nhà nghiên cứu vẫn còn phải dùng tới.
Ở đây chúng tôi nói về địa dánh Gò Công, nơi đã sản sinh ra
những nhân vật nổi danh cả về đức và tài đã được nhiều sử sách
nhắc đến.
Từ xưa đất Gò Công trong bộ Đại Nam quốc sử của cụ Phan
Thanh Giản đã được viết và đánh giá là “Địa Linh Nhân Kiệt”, căn cứ
vào địa lý và nhân văn đã có hai giả thuyết định nghĩa chữ Gò Công.
- Giả thuyết thứ nhất : Gò Công xưa là phần đất của xứ Phù
Nam, khi Chúa Hiền tức Nguyễn Phúc Tần, đinh cuộc di dân Nam
tiến, người Việt mới dời vào đây để định cư. Khi đó Gò Công còn là
đất rừng, chưa có ai tới cư ngụ. Nơi này có một cái gò cao, có nhiều
giống chim công trú ở nên người ta gọi ngay là Gò Công. Và trong
sử đã ghi chép về danh từ địa phương là : khi vua Minh Mạng ra
lệnh cho các quan địa phương đổi tên nôm na các tỉnh thành chữ
Nho cho nho nhã, thì “Gò Công” đã biến thành “Khổng Tước
Nguyên”, cũng như Đồng Nai thì đổi là “Lộc Dã”, còn Bến Tre thì đổi
là “Trúc Giang”, và Sóc Trăng đổi là “Nguyệt Giang” ( tức Sông
Trăng )...
- Giả thuyết thứ hai : Người ta kể lại, ở xứ này trước đây có
một người phụ nữ tên là Thị Công, đến lập quán bán thức ăn cho
dân khai thác đồn điền. Lâu dần, nhận thấy Gò Công là đất dễ sinh
nhau nên dân chúng các nơi hội tụ về đây khẩn hoang từng lập rẫy,
lập làng. Số người đến đây mỗi ngày một tăng, từ đó dân địa
phương quen miệng nên gọi là quán Bà Công, hay Gò Bà Công. Rồi
lâu ngày dân đã bỏ chữ bà đi mà gọi tắt là Gò Công. Và danh từ địa
phương Gò Công đã tồn tại từ đó đến nay.
Đất Gò Công từ ngàn xưa đã sản sinh ra những nhân tài như
Phạm Đăng Hưng, như Trương Công Định chống Pháp thời vua Tự
Đức, khi tại thế được vua Tự Đức phong Đại Nam Bình Tây Đại
tướng quân Trương Công Định. Những dòng chữ này đã được khắc
trên bia mộ của Công Định tại Gò Công.
Khi thực dân Pháp thống trị đất Nam bộ, họ đã bầm nát hàng
chữ trên và còn phạt vạ bà Trần Thị Sanh, là người quả phụ của
Trương Công Định 10 ngàn đồng vì người Pháp nêu lý do Trương
Công Định tạo ra cuộc phiến loạn chống người Pháp.
Đến đời vua Bảo Đại đã phong tước Trương Công Định là: “Đại
Nam, Phấn dõng Đại tướng quân truy tặng Ngũ Quân quận công”,
cho phép tu sửa lại phần mộ họ Trương trang trọng hơn trước, và
năm 1955, ông Nguyễn Huỳnh Mai phụng đề hai câu đối liễn ở mộ
bia như sau:
Mặt trước: “Trương chí quật cường, võ liệt nêu cao đất Việt Định tâm kháng chiến, văn mờ chói rạng trời Nam.”
Mặt sau: “Huyện Tân Hòa, khẳng khái Cần Vương, tờ chiếu
ngọc - Làng Gia Thuận, thung dung tựu nghĩa, chiếc gươm vàng”.
Hàng năm, cứ vào ngày 18 tháng 7 Âm lịch có nhiều người tới
thắp nhang viếng mộ họ Trương.
Tại Gò Công còn có đền thờ Võ Quốc Công tức Võ Tánh. Miếu
nay đặt tại Gò Tre, nơi Võ Tánh dựng cờ tụ nghĩa chiêu tập quân
lính giúp Nguyễn Ánh đánh quân Tây Sơn. Sau đó Võ Tánh ra Bình
Định để tiếp tục giúp nhà Nguyễn đánh quân Tây Sơn và Võ Tánh
đã tạ thế tại đây.
Nơi nguyên quán Võ Tánh là Gò Công, ấp Gò Tre có hai câu
đối ghi công ơn họ Võ như sau:
“Khổng Tước kỳ, khẳng khái Cần vương, tam hùng thủ liệt.
Bàn Sà địa, thung dung tựu nghĩa, nhứt biến Trung hưng”.
Đi theo Võ Tánh để phò vua Nhà Nguyễn còn có ông Nguyễn
Văn Hiểu. Ông là một người có tài, có đức, cương trực, và liêm
khiết, đã có công lớn đối với vua Gia Long. Ông được cử ra làm trấn
thủ Sơn Nam hạ ( tức tỉnh Nam Định ). Làm quan tới đời vua Minh
mạng thứ 13, và được thăng Thự Tả quân Đô thống phủ Chương
phủ sự. Khi ông tạ thế, vua Minh Mạng phong Lương năng bá. Con
trai của ông Nguyễn Văn Hiểu là Nguyễn Văn Túc, có vợ là công
chua Chương Gia. Ông Túc được phong Phò mã Đô úy.
Thế kỷ 19-20, đất Gò Công đã nảy sinh ra những nhân vật học
giỏi, giữ nhiều chức vụ cao và nổi danh. Như ông Lê Quang Liêm tự
Bẩy Liêm hay Phủ Liêm. Ông Nguyễn Minh Chiếu, người gốc Gò
Công, cũng là người nổi danh. Tiếp sau là Luật sư Vương Quang
Nhường, nhà văn Hồ Biểu Chánh tên thật là Hồ Văn Trung làm tới
chức Đốc phủ sứ. Ngoài giờ làm công chức, cụ Hồ Biểu Chánh còn
viết tiểu thuyết, làm thơ và làm báo. Cụ Hồ Biểu Chánh để lại 44 tác
phẩm truyện dài, truyện ngắn rất giá trị. Hiện nay các nhà làm phim
đang lấy những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh, như Nợ đời, Trọn
nghĩa vẹn tình... để làm các phim truyện.
Về tôn giáo có Giám mục Nguyễn Bá Tòng, là vị giám mục tiên
khởi của hàng giáo phẩm Việt Nam. Giám mục Nguyễn Bá Tòng
cũng là vị giám mục đạo đức và lỗi lạc của giáo hội Công giáo Việt
Nam 1932 - 1949.
Những vị mà chúng tôi nhắc đến trên đều là giới nam. Còn giới
nữ, gốc Gò Công cũng nổi danh, mà lại nổi danh tột đỉnh triều đình
nhà Nguyễn là bà Phạm Thị Hằng, con gái ông Phạm Đăng Hưng đã
trở thành nàng dâu nhà Nguyễn tức là bà Từ Dụ, được phong Nghi
Thiên Chương Hoàng hậu, vợ của vua Thiệu Trị, là mẹ vua Tự Đức.
Và bà thứ hai là Nguyễn Hữu Thị Lan, con gái ông Nguyễn Hữu
Hào, làm vợ vua Bảo Đại, được phong Nam Phương Hoàng hậu.
Hai bà Hoàng hậu triều Nguyễn gốc Gò Công đều được người
đời tôn kính là bậc mẫu nghi vì đạo đức, tài giỏi và thương dân,
thương nước.
Lý Nhân - Phan Thứ Lang
Nam Phương Hoàng hậu cuối cùng Triều Nguyễn
-3“Tam cung Lục viện”
Nước ta, kể từ triều Nguyễn Gia Long các vua vì theo phong
tục của Trung Hoa nên vua nào cũng có một bà vợ chính thức được
gọi là Nhất giai phi, chỉ khi chết mới được tôn là Hoàng hậu, ngoài ra
còn chọn nhiều Phi tần, Cung nữ tuyển vào cung để làm vợ thứ.
Nhưng kể từ Gia Long lên ngôn Hoàng đế thì chức Hoàng hậu bị bãi
bỏ vì nhà vua sợ các bà hoàng lộng quyền chiếm đoạt ngôi vua. Vì
vậy, Gia Long đã đặt ra “Tứ bất lập”, theo thứ tự như sau:
- Bất lập Hoàng hậu ( Không lập Hoàng hậu ).
- Bất lập Đông cung ( Không lập Thái tử ).
- Bất lập Tể tướng ( Không đặt chức Tể tướng ).
- Bất lập Trạng nguyên ( Không lấy ai đậu Trạng nguyên ).
Sau đó chia ra làm “Cửu giai” và theo thứ tự các bà vợ từ đầu
đến cuối như sau:
- Nhất giai phi.
- Nhị giai phi.
- Tam giai tân.
- Tứ giai tân.
- Ngũ giai Tiệp dư.
- Thất giai Thục nhân.
- Bát giai Mỹ nhân.
- Cửu giai Tài nhân.
Việc sắp xếp trên cũng như các cấp bậc quan lại được chia ra
thứ tự gồm “Cửu phẩm”. Như vậy bà nào đứng đầu trong “Cửu giai”
thì được gọi là Hoàng Quý phi. Lệ này được duy trì tới 12 đời vua
triều Nguyễn, và tới Bảo Đại là vị vua thứ 13 mới cho lập lại chức
Hoàng hậu.
Cũng vì sợ Phi tần, Cung nữ trong Hoàng cung quá đông nên
nhà vua đã cho lệnh xây cất “Tam cung” và “Lục viện” cho mỗi bà ở
một phòng riêng mới đủ chỗ.
Ở Tam cung lại chia ra làm 3 cung:
Cung Diên Thọ, là nơi dành cho các bà Hoàng Thái hậu, Thái
Thái hậu là các bà vợ của các vua đã băng hà ( tạ thế ), và có các
viên Thái giám ở đó nữa.Cung Trường Sanh dành cho các bà vợ
vua đang tại ngôi, như các bà Lệ Thiên, vợ của vua Tự Đức, và bà
Từ Minh, vợ của vua Dục Đức cũng đã từng ở nơi này.Cung Khôn
Thái được thiết lập ở gần điện Cần Thánh chỗ vua ở. Cung này
dành riêng cho các bà Hoàng Quý phi. Trong cung này có một điện
tên là Cao Minh Trung Chính, điện này lập vào năm Gia Long thứ
ba. Ở phía đông của điện Cao Minh Trung Chính có một nhà hát để
nội cung hát riêng cho vua xem và gọi là Viện Tịnh quan. Còn Lục
viện gồm có 6 viện là:
Viện Thuận Huy, nằm ở giữa điện Cần Thánh và điện Cao Minh
Trung Chính. Ở phía tây viện Thuận Huy lại có:Viện Đoan
Thuận.Viện Đoan Hòa.Viện Đoan Huy.Viện Đoan Trường.Viện Đoan
Trang. Ngoài Cung Diên Thọ ra, những cung và viện kể trên là chỗ
dành cho các cung phi, mỹ nữ vợ của những vua đang trị vì, và đều
nằm ở cả trong Tử Cấm thành. Nơi này ngoài vua ra, chỉ có các
Thái giám được lui tới thôi, các đàn ông khác không được phép bén
mảng tới nơi này.
Những Phi tần, Cung nữ đều được tuyển chọn trong những gia
đình các cô con gái của các quan Đại thần, ngoài ra cũng có khi
chọn trong hàng con thường dân nhưng phải có sắc đẹp đặc biệt và
nhất là phải có đức hạnh đoan trang.
Lúc mới được tuyển vào cung, các cô gái này được đứa đến ở
Đoan Trang viện để học tập cách ăn mặc, đi đứng và các nghi lễ
trong cung. Một khi đã được tiến vào cung, những Phi tần, Cung nữ
này không được phép gặp mặt bất cư ai bên ngoài nữa kể cả cha
mẹ anh chị em. Cũng có trường hợp đặc biệt hiếm lắm nhà vua mới
cho phép cha mẹ vào Nội cung để thăm con, nhưng chỉ được nói
chuyện với con qua một bức màn sáo che không thấy mặt con.
Người nào có con được tiến vào cung là coi như mất con vì ít khi
nào được gặp lại mặt con nữa.
Trong “Tam cung Lục viện” có các thị nữ ( hay nữ tỳ cũng vậy )
để hầu hạ các Phi tần. Còn nhiệm vụ của các Thái giám là trông
nom và săn sóc cho các Phi tần. Vì Thái giám có nhiệm vụ kiểm tra
các hành động của Phi tần và mỗi lần vưa ngự đến “ngự dâm” với
các bà nào thì viên Thái giám phải ghi chép giờ, ngày tháng cho
đúng xem bà nào có thai trước, đẻ con trai hay con gái.
Những viên Thái giám cũng được chia ra làm hai loại. Một loại
là “Giám sanh”, tức trời sanh ra ngay khi lọt lòng đã phi nam phi nữ,
nghĩa là không có hộ “sinh dục nam” hay “sinh dục nữ”. Và loại thứ
hai là “Giám lặt” là bị thiến mất “của quý”.
Theo cụ Hoàng Trọng Thược cho biết thì xưa tại làng nào có
“Giám sinh” ra đời thì cha mẹ phải đi trình làng để các cơ quan hữu
trách trình lên Bộ và Bộ sẽ cho nuôi nấng và dạy dỗ đứa trẻ theo
nghi lễ trong cung để khi lớn lên thì đưa vào Nội cung làm Thái
giám. Những đứa trẻ này người ta thường gọi là ông “Bộ”.
Thông lệ, thời xưa làng, xã nào sinh sản được ông “Bộ”, lớn
lên được tuyển vào cung sẽ được nhà vua ký sắc cho miễn thuế ba
năm.
Còn các Phi tần, Cung nữ thì sao? Ở trong cung có hàng chục,
có khi hàng trăm cô để hầu hạ chăn gối cho vua. Nhưng sức người
có hạn, làm sao vua ban ân sủng hết được, bởi vậy có nhiều cô từ
khi được “tiến” vào cung, cho tới khi vua băng hà vẫn chưa một lần
được vua lâm hạnh, và kết quả cô này vẫn còn trinh.
Cũng theo cụ Hoàng Trọng Thược, thì mỗi khi vua giá lâm đến
Tam cung Lục viện để “ngự dâm” thì thường dừng xe do một con dê
đực kéo, hễ dê dừng ở của phòng nào thì vua “ngự dâm” ở phòng
đó. Bởi vậy, các Phi tần, Cung nữ thường hay nhờ các chị thị nữ
mua các thứ cỏ non hay lá dâu, lá sấu đâu... rồi đem rắc ở trước
của phòng khi vua ngồi trên xe dê giá lâm, dê thấy cỏ non, lá sâu, lá
sầu đâu... thì dừng lại ăn. Cho nên trong tác phẩm “Cung oán ngâm
khúc” của tác giả Ôn Như Hầu đã có câu :
“Phải duyên hương lửa cùng nhau,
Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào.”
Vậy vua Gia Long có bao nhiêu vợ? Và bao nhiêu con?
Theo chính sử viết, vua Gia Long có 3 bà vợ được gọi là đệ
nhất phi, đệ nhị phi, đệ tam phi. Ngoài 3 bà phi này còn có 6 bà phi
nữa nhưng không thấy tư liệu nào nhắc đến.
Ba bà phi chính thức được xếp thứ tự như sau:
Bà Quế phi ( Đệ nhất phi ) tên là Tống Thị Lan, tức Thừa Thiên
Cao Hoàng hậu, con ông Chưởng dinh Tống Phước Khuông, người
huyện Tông Sơn, Thanh Hóa - đã vào Nam theo Chúa Nguyễn Phúc
Chu để chống nhà Tây Sơn. Bà họ Tống, sinh được ba người con là
Nguyễn Phúc Cảnh ( tức Hoàng tử Cảnh ), người thứ nhì là Nguyễn
Phúc Hy, tạ thế 1801, người thứ ba là Nguyễn Phúc Tuấn, đã tạ thế
trước Cảnh và Hy. Chỉ có Nguyễn Phúc Cảnh được gọi là Hoàng tử.
Năm 4 tuổi Cảnh được Gia Long cho theo Giám mục Bá Đa Lộc
sang Pháp để cầu viện nước Pháp giúp khí giới và quân đội đánh
nhà Tây Sơn. Theo một số tư liệu thì Hoàng tử Cảnh và hai em trai
đã được Giám mục Bá Đa Lộc khuyên rửa tội theo đạo Công giáo,
Hoàng tử Cảnh ở Pháp một năm rồi trở về.
Hoàng tử Cảnh có vợ là Tống Thị Quyên, sanh được hai con
trai. Người thứ nhất là Nguyễn Phúc Mỹ Đường, cũng có tên là Đán
- Hoàng Tôn Đán được phong tước Ứng hòa công. Người con thứ
hai, là Nguyễn Phúc Mỹ Thụy ( còn có tên là Mỹ Hòa ) hay Kính,
được phong tước Thái Định công. Năm 1824, không biết phạm tội
gì, Mỹ Đường bị lột hết tước, phải nộp ấn thư, rồi bị giáng xuống làm
thứ dân. Mỹ Đường có một người con là Nguyễn Phúc Lê Chung,
sau được vua Tự Đức phong Cảnh Hòa Quận công.
Sau này người ta đọc được bài phiên hệ thi : Mỹ-Duệ-TăngCường-Tráng, Liên-Huy-Phát-Bôi-Hương... Những con cháu của
Hoàng tử Cảnh sau này, năm đời còn lại là ông Nguyễn Phúc Hồng
Dân ( 1882 - 1951 ), là cháu năm đời của Hoàng tử Cảnh. Đã mang
tước Kỳ ngoại hầu Cường Để. Ông Cường Để trốn sang Nhật Bản
lập Việt Nam Quang Phục Hội do ông làm Hội chủ để chống Pháp
cai trị Việt Nam. Con của Cường Để là ông Tráng Liệt, và cháu là
Liên Bảo. Như vậy, cháu, chắt dòng Hoàng tử Cảnh hiện nay hãy
còn rải rác khắp nơi.
Bà Minh phi ( Đệ nhị phi ) họ Trần Thị Đang, tức Thuận Thiên
Cao Hoàng hậu, là mẹ của vua Minh Mạng. Bà họ Trần là con gái
của ông Tham tri Bộ Lễ Trần Hưng Đạt, quê ở Vạn Xá ( Thừa Thiên
). Nguyên bà họ Trần trước là người hầu của mẹ vua Gia Long, rồi
cùng ra Quảng Trị ẩn náu ở làng An Đô, gần cửa Tùng. Đến khi vào
Nam đã được tuyển làm vợ Nguyễn Ánh ( Gia Long ), khi mới 13
tuổi.Bà Lê Thị Ngọc Bình ( Đệ tam phi ), gọi là Đức phi hay Thần phi
cũng vậy. Bà Ngọc Bình là con út của vua Lê Hiển Tông. Khi nhà
Tây Sơn thất bại, vua Quang Trung tại thế để lại bà Ngọc Hân Công
chúa ở lại kinh thành với người em gái là Ngọc Bình ( vợ vua Quang
Toản - tức Cảnh Thịnh, con của Nguyễn Huệ ). Theo ngoại sử, lúc
đó Gia Long có gạ gẫm và ép duyên bắt Ngọc Hân phải lấy ông.
Nhưng đã bị Ngọc Hân cự tuyệt. Còn Ngọc Bình thì lúc đầu cũng
không bằng lòng, nhưng sau cũng xuôi lòng và chấp nhận lấy Gia
Long làm thứ phi. Bà Ngọc Bình đã sinh được hai người con trai với
Gia Long tên là Quảng Oai công, và Thường Tín Quận công. Cũng
vì sự trớ trêu trên mà dân gian sau này ở Huế đã có câu nói:
“Số đâu có số lạ làng,
Con vua mà lấy hai chồng làm vua.”
Đến đây, chúng ta cũng nên biết trong 9 đời chúa, và 13 đời
vua Nguyễn, có vị chào đời ở đất Nam bộ xưa, có vị lâu ngày ở đất
Nam bộ và tạ thế tại đây.
Vị Hoàng tử đầu tiên là Nguyễn Phúc Đảm ( Đởm ) tức vua
Minh Mạng sinh năm 1791 tại làng Tân Lộc, tỉnh Gia Định, xứ nam
bộ.
Còn ông vua sống lâu ngày nhất ở Nam bộ là Nguyễn Phúc
Ánh tức vua Gia Long, kể từ năm 1775 đến đầu thế kỉ XIX mới trở
về Huế, tức là 25 năm sống ở Nam bộ và xê dịch nhiều tỉnh, ông còn
lặn lội sang Xiêm để cầu viện. Nguyễn Ánh cũng là ông vua xuất
ngoại đầu tiên.
Chúa Định Vương Nguyễn Phúc Thuần ( 1765 - 1777 ), là vị
Chúa thứ chín, đã bị quân Tây Sơn bắt được ở tỉnh Long Xuyên và
đem về Sài Gòn hạ sát vào năm 1777.
Đến cuối triều Nguyễn là vua Bảo Đại và bà Nam Phương
Hoàng hậu thì cả hai đều tạ thế tại ngoại quốc, sau khi vua Bảo Đại
bị truất phế khỏi ngôi Hoàng đế triều Nguyễn phong kiến khi cuộc
Cách mạng tháng Tám năm 1945 của nhân dân Việt Nam dưới sự
lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng lên đánh đổ chế độ thực
dân Pháp đang cai trị nước ta do Bảo Đại làm vua bù nhìn của chế
độ thực dân Pháp.
Lý Nhân - Phan Thứ Lang
Nam Phương Hoàng hậu cuối cùng Triều Nguyễn
-4Đất kết sinh mẫu nghi
Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, tập 2, quyển 2. 3 đã viết :
Từ Dụ là huy hiệu của vua Tự Đức truyền đi chiếu tấn phong cho
Lịnh bà. Từ là lòng nhân từ thường yêu. Dụ là rộng rãi. Từ Dụ là
rộng lòng nhân từ thương yêu.
Lịnh bà là Phạm Thị Hằng hay Nguyệt, sinh ngày 19 tháng 5
mùa hạ năm Gia Long thứ 9 ( 1810 ) tại giồng Sơn Quy huyện Tân
Hòa, nay là Gò Công thuộc tỉnh Tiền Giang, con quan Thượng thư
bộ Lễ Phạm Đăng Hưng sau đặng truy tặng tước Đức Quốc công.
Hằng, tên của Lịnh bà trùng với tên của Hán Văn đế được
kiêng húy thay bằng chữ thường. Nguyệt, tên của Lịnh bà được
kiêng húy đọc ra ngoạt.
Tương truyền xứ Gò Công nước thường mặn lắm, các giồng (
dải đất gồ lên cao để ở tiếp liền với ruộng thấp ) đều có giếng nước
ngọt song cũng không được ngọt lắm.
Từ khi Lịnh bà được sanh ra, nước giống giồng Sơn Quy ngày
càng thanh, người uống vào ít có bịnh tật, tiếng đồn khắp nơi, người
lân cận đều đến gánh về dùng.
Còn giồng Sơn Quy thì càng ngày càng cao được bồi thêm
như hình mai rùa. Cây trái ở đây lại tươi tốt dồi dào hơn các nơi
khác.
Những vị kỳ lão ở xứ Gò Công còn nhớ câu:
Lệ thủy trình tường thoại,
Quy khâu trúc phước cơ.
( Nước ngọt trổ điềm lành,
Gò rùa vun nên phước. )
Lúc còn bé, Lịnh bà ham đọc sách, thông hiểu kinh sử, có tính
hiền đức và có nết hạnh. Mẹ của Lịnh bà bổn tính ham văn học,
thường khi biểu người người ta đọc Huấn nữ và Nhị thập tứ hiếu,
nghe lấy làm vui. Mẹ của Lịnh bà muốn Lịnh bà đọc sách, những
phép dạy trong nhà cửa cha rất nghiêm: con cái thì học nữ công và
coi sóc công việc trong nhà. Còn chữ nghĩa thì học cho biết mà thôi.
Lịnh bà được các anh chị dạy chữ nghĩa chút đỉnh, song chưa hiểu
văn lý mạch lạc.
Năm Lịnh bà lên 12 tuổi, thân mẫu bị bệnh thích nằm một mình,
gia nhân không đặng thân cận hầu hạ. Lịnh bà ngày đêm săn sóc
cơm thuốc không bao giờ lìa xa.
Khi thân mẫu mất, Lịnh bà ngày đêm kêu khóc không dứt, giữ
việc tang chế ốm gầy người như kẻ thành nhân. Người xa kẻ gần
nghe như thế đều khen ngợi và lấy làm lạ.
Năm Minh Mạng thứ 4 ( 1823 ) thân phụ của Lịnh bà thất lộc tại
kinh đô. Thuyền chở quan cửu về Gia Định, đi vừa tới ngoài cửa
Cần Giờ bị một trận gió lớn, gẫy lái. Đà công và thủy thủ kinh hãi chỉ
đợi chìm mà chịu chết. Gió lớn sóng to, thuyền nghiêng qua lắc lại.
Và như có vật gì rất lớn lao nâng đỡ ở đ...
 








Các ý kiến mới nhất