NHỮNG BÀI HỌC LỊCH SỬ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 13h:59' 29-02-2024
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 13h:59' 29-02-2024
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
NHỮNG BÀI HỌC LỊCH SỬ
WILL & ARIEL DURANT
NHÀ XUẤT BẢN THẾ GIỚI
Trụ sở chính:
Số 46, Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội
Tel: 0084.4.38253841 - Fax: 0084.4.38269578
Chi nhánh:
Số 7, Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh
Tel: 0084.8.38220102
Email: thegioi@thegioipublishers.vn
marketing@thegioipublishers.vn
Website: www.thegioipublishers.vn
Chịu trách nhiệm xuất bản
GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PHẠM TRẦN LONG
Biên tập: Phạm Bích Ngọc
Biên tập viên omega+: Hoài Nguyên
Thiết kế bìa: Phạm Ngọc Điệp
Trình bày: Quốc Nguyễn
In 1.000 bản, khổ 14 x 20,5 cm tại Công thy Cổ phần In Bắc Sơn
Địa chỉ: 262 đường Phúc Diễn, P. Xuân Phương, Q. Nam Từ
Liêm, Hà Nội.
Số xác nhận ĐKXB: 3662-2022/CXBIPH/04-251/ThG
Quyết định xuất bản số: 1170/QĐ-ThG cấp ngày 20 tháng 10
năm 2022
In xong và nộp lưu chiểu năm 2022. Mã ÍBN: 978-604-365800-2
CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH OMEGA VIỆT NAM (OMEGA PLUS)
VP HN: Tầng 3, số 11A, ngõ 282 Nguyễn Huy Tưởng, Phường
Thanh Xuân Trung, Quận Thanh
Xuân, TP. Hà Nội
Tel : (024) 3722 6234
VP TP. HCM: 138C Nguyễn Đình Chiểu, Phường 6, quận 3, TP.
Hồ Chí Minh
Tel: (028) 38220 334 | 35
Lời ngỏ
B
ạn đọc thân mến!
Cũng giống như nhiều môn khoa học khác, nghiên cứu
lịch sử đòi hỏi phải có cách tiếp cận (phương pháp luận) để lý
giải, cắt nghĩa các hiện tượng lịch sử – các sự kiện xảy ra trong
tiến trình phát triển của một cộng đồng, một dân tộc, thậm chí
của cả loài người. Các cách tiếp cận khác nhau sẽ dẫn đến kết
luận khác nhau và các bài học được rút ra cũng khác nhau.
Các tác giả của Những bài học lịch sử đã chọn cách tiếp cận đi từ
diện rộng: xem xét cả lịch sử loài người; có thể nói, phương pháp
này không hoàn toàn giống cách tiếp cận duy vật lịch sử mà
chúng ta quen thuộc từ trước đến nay. Do vậy, bạn đọc có thể
xem cuốn sách này như một nguồn tham chiếu có phê phán để
làm giàu thêm kho kiến thức của mình.
Trân trọng!
NHÀ XUẤT BẢN THẾ GIỚI
Lời nói đầu
C
húng tôi không có gì nhiều để nói về tập sách là phần
chốt hạ này. Sau khi hoàn tất bộ sách Câu chuyện về văn
minh đến mốc thời gian năm 1789, chúng tôi đã đọc lại
mười tập sách với tư thái chuẩn bị cho đợt phát hành một phiên
bản mới có chỉnh sửa những thiếu sót, sơ suất về thông tin sự
kiện cũng như lỗi bản in. Trong quá trình đó, chúng tôi ghi
nhận lại những sự kiện và lời bình có thể giúp mọi người tỏ
tường các vấn đề hiện tại, các viễn cảnh khả dĩ trong tương lai,
bản chất con người và cách vận hành của các quốc gia. (Các tài
liệu tham khảo xuyên suốt cuốn sách này được trích từ bộ sách
Câu chuyện về văn minh không phải vì đó là văn bản tối
thượng, mà những trích dẫn xuất hiện chỉ để làm sáng tỏ và đưa
ra các ví dụ minh họa). Chúng tôi cố gắng trì hoãn đưa ra kết
luận cho đến khi hoàn tất khảo sát dẫn thuật; nhưng không
nghi ngờ gì, những chất liệu minh họa chúng tôi lựa chọn lại là
kết quả từ việc bản thân đã chịu ảnh hưởng của những quan
điểm hình thành từ trước đó. Do đó mà có tập tiểu luận này. Nội
dung sách lặp lại nhiều ý tưởng mà chúng tôi và nhiều người đi
trước đã từng trình bày. Mục đích của chúng tôi không nhắm
vào sự độc đáo mà là chú trọng tính bao hàm; chúng tôi đưa ra
một cuộc khảo sát về trải nghiệm nhân loại chứ không phải là
khải thị mang tính cá nhân.
Như thường lệ từ trước đến nay, chúng tôi cảm ơn sâu sắc sự
giúp đỡ cũng như lời khuyên của con gái của chúng tôi – Ethel.
Will & Ariel Durant
Chương 1
Do dự
K
hi các nghiên cứu của bản thân dần đi đến hồi kết, một
sử gia phải đối mặt với thách thức: Nghiên cứu của anh
ta có ích lợi gì? Hay nỗ lực công sức của anh ta chỉ đơn
giản là niềm vui thú thuật lại những thăng trầm của các quốc
gia và ý tưởng, kể lại “những câu chuyện buồn về cái chết của
các vị vua?” Anh ta liệu có thấu suốt bản tính con người nhiều
hơn so với một người lăn lộn trường đời mà chẳng cần đọc một
trang sách nào? Anh ta liệu có rút ra được điều gì từ lịch sử để
soi sáng cho chính tình trạng hiện tại của thời đại, hay một dẫn
dắt nào đó cho những đánh giá và chính sách của chúng ta,
cũng như bất cứ sự bảo hộ nào trước những cự tuyệt bất ngờ hay
những thăng trầm đổi thay? Theo dòng sự kiện trong quá khứ,
anh ta có khám phá ra những quy luật trong chuỗi diễn trình
của các sự kiện quá khứ hòng giúp mình tiên liệu hành động
mai sau của nhân loại hay vận mệnh của các nhà nước? Rốt
cuộc, phải chăng “lịch sử không có nghĩa lý gì,”1 i có lẽ nào lịch
sử chẳng dạy chúng ta điều gì, và dĩ vãng mênh mông thực chất
chỉ là một sự diễn tập nhàm chán của những sai lầm ắt sẽ tái
diễn trong tương lai, chẳng qua ở một sân khấu và quy mô lớn
hơn?
i. Lưu ý với bạn đọc: các cước chú trong sách này được đánh dấu bằng chữ
“i, ii…” và do biên tập viên bổ chú. Các đánh dấu bằng số “1, 2, 3…” hay
bằng dấu * đều là của các tác giả dùng để ghi chú tên tác phẩm được dùng
để trích dẫn trong sách này, quý độc giả có thể tham khảo ở phần “Thư
mục tham khảo”, các trang 172-175. (BTV)
Có đôi khi chúng tôi cảm thấy như vậy, và vô số mối nghi hoặc
làm giảm nhuệ khí thực hiện dự án thách thức bản thân này.
Điều đầu tiên phải kể đến đó là làm sao chúng ta biết được thực
hư quá khứ ra sao, kỳ thực những chuyện gì đã xảy ra, hay liệu
chăng lịch sử chẳng qua chỉ là “một câu chuyện ngụ ngôn”
chẳng “mấy ai đồng tình”? Những gì ta biết về bất kỳ sự kiện
nào trong quá khứ nào luôn thiếu khuyết, có thể không chính
xác, bị che mờ bởi các chứng cứ mâu thuẫn và những sử gia
thiên kiến, và có lẽ còn bị xuyên tạc vì chính lòng yêu nước hay
sự sùng kính một người dành cho đảng phái, tôn giáo của bản
thân. “Phần lớn lịch sử là phỏng đoán, còn phần còn lại là định
kiến.”2
Ngay cả một sử gia muốn vượt thoát lên sự thiên vị dành cho
đất nước, chủng tộc, tín ngưỡng hay giai cấp của mình, anh ta
cũng vẫn để lộ những thiên ái thầm kín của chính mình qua
cách lựa chọn tư liệu và câu chữ hàm chứa nhiều sắc thái khác
nhau của anh ta. “Sử gia luôn đơn giản hóa mọi việc một cách
thái quá, và cứ hay hấp tấp chọn ra một thiểu số trong hằng hà
sa số dữ kiện và những gương mặt đại diện cho một đám đông
linh hồn cùng sự kiện mà tính phức tạp, đa chiều của chúng thì
chính bản thân anh ta thậm chí còn chưa chắc có thể nắm bắt
hoặc hiểu hết được.”3 Một lần nữa, những kết luận được rút ra từ
quá khứ dành cho tương lai trở nên càng nguy hiểm hơn vì mức
độ tăng tiến của sự đổi thay đổi. Vào năm 1909, Charles Péguy
cho rằng: “Trong vòng ba mươi năm qua, thế giới thay đổi nhiều
hơn so với khoảng thời gian trước đó tính từ thời Chúa Kitô;”4
và có lẽ một tiến sĩ vật lý trẻ tuổi nào đó hẳn sẽ bổ sung rằng từ
năm 1909 cho đến nay, nền vật lý đã thay đổi nhiều hơn so với
toàn bộ khoảng thời gian trước đó. Mỗi năm – trong thời chiến
thì có khi tính bằng tháng – lại có một phát minh, một phương
cách hay một tình thế mới thúc đẩy chúng ta điều chỉnh hành vi
và lối tư duy. Hơn thế, một yếu tố ngẫu nhiên nào đó, có lẽ là
một biến số tự do, dường như tác động đến hành vi của vật chất
kim loại và con người. Ngày nay, chúng ta không còn đoan chắc
rằng các nguyên tử, chưa kể đến các cá thể sinh vật, sẽ biểu hiện
trong tương lai như cách chúng ta từng nghĩ về sự hồi đáp của
chúng trong quá khứ. Cũng giống như Thiên Chúa của Cowper,
các hạt electron di chuyển theo những cách bí ẩn để thực hiện
những điều kỳ diệu, và một cá tính thất thường hay một tình
thế lạ lùng cũng đủ làm xào xáo trạng thái cân bằng của các
quốc gia, như khi vua Alexander vì say mà chết, và thế là đế chế
non trẻ của ông sụp đổ (năm 323 TCN), hay như khi Frederick
Đại đế thoát khỏi đại họa nhờ vào sự lên ngôi của một Sa hoàng
say mê lối sống Phổ (năm 1762).
Lẽ tất nhiên, chép sửi không thể là một môn khoa học. Nó vừa là
một bộ môn kỹ thuật, vừa là một nghệ thuật, đồng thời là một
triết lý: là một môn kỹ thuật thông qua việc tìm hiểu các thông
tin xác thực, là một nghệ thuật bởi nó cố sắp xếp mớ thông tin
hỗn độn thành một trật tự có ý nghĩa, là một triết lý bởi nó đi
tìm các quan điểm và sự giác ngộ khai sáng. “Hiện tại chính là
quá khứ tích lũy đưa đến hành động, còn quá khứ lại là hiện tại
được trải ra để mở ra sự hiểu biết”5 – chí ít là chúng tôi tin và
mong như vậy. Trong triết học, ta nhìn nhận một phần trong
ánh sáng soi tỏ của tổng thể. Còn trong “triết lý sử học”, chúng
ta nhìn nhận chính khoảnh khắc hiện tại thông qua sự soi rọi
của quá khứ. Trong cả hai trường hợp, đây là một lời khuyên
hướng đến sự hoàn hảo; ta thừa hiểu rằng, có một cái nhìn bao
trùm toàn bộ thực chất chỉ là ảo tưởng. Chúng ta không biết
được toàn bộ lịch sử nhân loại; có lẽ còn nhiều nền văn minh
khác tồn tại trước cả nền văn minh Sumer và Ai Cập mà chúng
ta chỉ mới bắt đầu khai quật! Vì vậy, chúng tôi phải tiến hành
q ậ
ậy
g
p
công việc này với lượng kiến thức cục bộ, và tạm hài lòng với các
khả năng mình phỏng đoán được. Trong sử học, cũng như trong
các môn khoa học và chính trị, tính tương đối là yếu tố chi phối
tối hậu, và mọi công thức hay khuôn mẫu đều phải được nghi
vấn. “Lịch sử cười khẩy trước mọi nỗ lực ép buộc dòng chảy của
nó thuận theo bất kỳ mô thức lý thuyết hay lối mòn luận lý nào.
Nó đập tan mọi sự khái quát hóa và phá vỡ tất cả các quy tắc của
chúng ta; lịch sử kỳ dị như vậy đấy.”6 Biết đâu, chính trong
những giới hạn này, lịch sử lại dạy cho chúng ta đức kiên nhẫn
để có thể chịu đựng thực tại và tôn trọng ảo mộng của nhau.
i. Nguyên bản dùng historiography, một từ mang nghĩa bao hàm cả việc
ghi chép nhằm thiết lập được một bản đồ về lịch sử hay những gì từng xảy
ra, để quan sát quá khứ ở dạng thức một bức tranh toàn cảnh xen lẫn với
cách nhìn nhận theo tuyến tính thời gian. (BTV)
Nhân loại chỉ là một khoảnh khắc trong suốt bề dày thời gian
của vũ trụ, một vị khách tạm dừng chân trên trái đất, một bào
tử của một chủng loài, một hậu duệ của chủng tộc, một phức
hợp bao gồm thể xác, tinh thần và tính cách, một phần tử trong
mỗi gia đình và cộng đồng, một tín đồ hoặc một kẻ hoài nghi
của một đức tin nào đó, một đơn vị đóng góp vào nền kinh tế, và
có lẽ là một công dân của một quốc gia hay một quân nhân
trong quân đội. Bởi vì lẽ đó, chúng ta cần cậy nhờ các lĩnh vực
tương ứng như thiên văn học, địa lý, địa chất học, sinh học, dân
tộc học, tâm lý học, hệ giá trị đạo đức, tôn giáo, kinh tế, chính trị
và các cuộc chiến tranh để làm rõ những điều lịch sử dạy cho
chúng ta về bản chất, hành vi và tương lai của nhân loại. Lẽ tất
nhiên, gom góp hàng trăm thế kỷ sự kiện lịch sử để đúc kết
trong một trăm trang giấy kết luận liều lĩnh là một hành động
không tưởng mà chỉ ai khờ khạo mới dám làm. Dẫu vậy, chúng
tôi quyết định vẫn tiến hành.
Chương 2
Lịch sử và trái đất
N
ếu phải định nghĩa lịch sử – một khối phức tạp do bản
chất đối lập của nó – thì chúng tôi xin định nghĩa lịch sử
là các sự kiện hoặc ghi chép về quá khứ. Lịch sử nhân
loại chỉ là một chấm nhá lên trong không gian, và bài học đầu
tiên của nó chính là đức khiêm tốn. Vào bất kỳ lúc nào, một ngôi
sao chổi cũng có thể bay qua sát sườn quả địa cầu nhỏ bé của
chúng ta và làm đảo lộn mọi thứ, bóp ngạt từ người đến bọ
trong khói và sức nóng; hoặc giả, một mảnh của mặt trời rực rỡ
kia có thể văng ra (cũng như giả thiết hành tinh chúng ta chính
là một mảnh vỡ mặt trời trong một khoảnh khắc vô tận nào đó)
và rơi xuống đầu chúng sinh, ôm trọn mọi thứ trong vòng tay
hủy diệt và chấm dứt mọi buồn đau trên thế gian này. Trong
bước tiến của nhân loại, chúng ta chấp nhận tất cả những rủi ro
này và ngạo nghễ đáp lại vũ trụ như Pascal từng nói: “Kể cả khi
bị vũ trụ vùi nát, con người vẫn cao quý hơn vũ trụ bởi ta biết rõ
rằng mình đang chết. Còn vũ trụ nào hay biết gì về chiến thắng
của nó.”7
Lịch sử phụ thuộc vào địa chất. Mỗi ngày biển xâm lấn đất liền
hoặc đất liền lấn biển ở một nơi nào đó; những thành phố biến
mất dưới làn nước cùng các thánh đường đã chìm sâu dưới lòng
đại dương gióng lên những hồi chuông u sầu. Những ngọn núi
trồi lên hoặc sụp xuống theo nhịp điệu của quá trình tạo thành
và xói mòn; nước sông khi thì dâng lên biến thành lũ, khi thì
cạn khô, khi lại đổi dòng; thung lũng biến thành sa mạc, và eo
đất biến thành eo biển. Trong con mắt nhà địa chất học, bề mặt
của quả địa cầu dịch chuyển như một dịch thể lỏng, và con
người di chuyển trên bề mặt ấy cũng bấp bênh hệt như cái cách
Thánh Peter lướt trên mặt nước mà đến với Chúa Kitô vậy.
Khí hậu không còn kiểm soát chúng ta ngặt nghèo như
Montesquieu và Buckle từng giả định, nhưng nó vẫn giới hạn
chúng ta. Trí khôn có thể giúp ta vượt qua các bất lợi về địa
chất: con người có thể tưới tiêu và điều hòa không khí cho sa
mạc Sahara; san bằng hoặc vượt qua những đỉnh núi, biến
những quả đồi thành ruộng bậc thang để canh tác nho; con
người có thể xây dựng các thành phố nổi để vượt đại dương,
hoặc chế tạo những con chim sắt khổng lồ để đi trên không.
Nhưng chỉ một trận lốc xoáy trong một giờ đồng hồ đã có thể
hủy hoại một thành phố mà con người phải mất cả thế kỷ mới
dày công dựng lên được; và một tảng băng trôi có thể lật đổ và
cắt ngang một “tòa lâu đài nổi”, khiến hàng ngàn người đi đến
định mệnh vĩ đại tất nhiên của mình. Chỉ cần mưa nhỏ giọt là cả
một nền văn minh bị chôn vùi dưới làn cát như ở Trung Á;
nhưng mưa trút dữ dội thì cả một nền văn minh lại bị rừng già
bóp nghẹt như ở Trung Mỹ. Ở các vùng đất trù phú, chỉ cần
nhiệt độ trung bình tăng thêm hai mươi độ là nền văn minh
nhân loại ngay lập tức rơi vào cảnh lầm than và đi thụt lùi.
Trong vùng khí hậu bán nhiệt đới, một quốc gia với dân số nửa
tỷ người có thể sinh sôi như kiến, nhưng chính sức nóng tàn hại
có thể khiến quốc gia ấy liên tục là mục tiêu chinh phạt của các
chiến binh đến từ những vùng khí hậu dễ chịu hơn. Qua nhiều
thế hệ, con người càng ngày càng chế ngự thành thục hơn quả
đất này, nhưng số phận an bài rằng đến tận cùng ai rồi cũng sẽ
chỉ còn là nắm xương tàn trong lòng đất mà thôi.
Địa lý là cái ma trận khuôn đúc nên lịch sử – vừa là người mẹ
dung dưỡng cũng vừa là ngôi nhà hà khắc của lịch sử. Sông, hồ,
ốc đảo và đại dương thu hút những người đến an cư lạc nghiệp ở
ven bờ của chúng, bởi nước chính là huyết mạch của một cơ thể
sống và của các thành phố, và cung cấp những tuyến đường
mậu dịch, vận chuyển ít tốn kém. Ai Cập là “tặng vật của sông
Nile,” còn vùng Lưỡng Hà đã xây dựng nhiều nền văn minh tiếp
nối nhau “giữa các con sông” và dọc theo nhánh các kênh đào
của các con sông này. Ấn Độ (India) chính là đứa con của dòng
Indus (hay sông Ấn), dòng Brahmaputra và dòng Ganges. Trung
Hoa lại nặng nợ với những dòng đại trường giang có xu hướng
“đi lang thang” (như chính chúng ta): chúng thường xuyên chảy
tràn ra khỏi lòng sông và làm màu mỡ thêm cho những khu lân
cận với phù sa của mình. Nước Ý lại tô điểm cho các thung lũng
sông Tiber, sông Arno và sông Po. Nước Áo thì phát triển dọc
theo sông Danube, nước Đức dọc theo sông Elbe và sông Rhine,
và nước Pháp dọc theo sông Rhone, sông Loire và sông Seine.
Các thành phố cổ đại Petra và Palmyra từng được các ốc đảo
trong sa mạc nuôi dưỡng.
Khi dân số Hy Lạp phát triển vượt mức cho phép của diện tích
đất đai, người Hy Lạp bắt đầu tạo lập các thuộc địa dọc theo bờ
biển Địa Trung Hải (“như ếch quanh bờ ao”– Plato) và dọc theo
bờ biển Euxine, tức Hắc Hải. Trong vòng hai nghìn năm – từ
trận Salamis (năm 480 TCN) đến trận đại bại của Hạm đội Tây
Ban Nha (năm 1588) – bờ biển Bắc Địa Trung Hải và Nam Địa
Trung Hải trở thành hai cực đối trọng mà các hậu duệ của nòi
da trắng muốn thâu tóm hòng thể hiện quyền lực thống trị.
Nhưng kể từ năm 1492, các chuyến hải hành của Colombus và
Vasco Da Gama đã mời gọi con người hãy can đảm ra khơi xa, từ
đó mới có sự thách thức vị thế độc tôn của vùng Địa Trung Hải;
các thành bang Genoa, Pisa, Florence và Venice dần suy tàn, và
thời đại Phục hưng dần phai; các quốc gia bên bờ Đại Tây Dương
bỗng trỗi dậy và rốt cuộc nhân rộng quyền lực bá vương của
mình trên khắp một nửa thế giới. Về điều này, George Berkeley
đã nhận xét vào năm 1730: “Đế chế có khuynh hướng mở rộng
về phía Tây.” Liệu các đế quốc phương Tây có tiếp tục bành
trướng qua phía bên kia Thái Bình Dương, đem các kỹ thuật
công nghệ và thương mại trao cho Trung Hoa, như đã từng làm
với nước Nhật trước đây? Có lẽ nào chính sự đông dân của các
quốc gia phương Đông, khi đã có được trình độ khoa học kỹ
thuật mới du nhập, chính là nơi mang đến sự tàn lụi của các đế
quốc phương Tây?
Sự phát triển của máy bay một lần nữa làm thay đổi bản đồ văn
minh. Giao thương theo đường thủy sẽ giảm dần, mà thay vào
đó người và hàng hóa sẽ bay trực tiếp đến nơi muốn đến. Các
quốc gia như Anh và Pháp sẽ dần mất đi lợi thế thương mại đến
từ hình thế địa lý thuận lợi với đường bờ biển rộng lớn. Các quốc
gia như Nga, Trung Quốc và Brazil, vốn bất lợi bởi diện tích đất
liền rộng lớn trong khi đường bờ biển hạn chế thì từ nay sẽ khởi
sắc nhờ đường hàng không. Thu nhập chính của các thành phố
ven biển sẽ thu được ít hơn từ dịch vụ chuyển tiếp hàng hóa hai
chiều từ tàu thủy lên xe lửa, vốn là một ngành rất thô sơ và
chậm tiến. Khi đường biển cuối cùng nhường chỗ cho đường
hàng không trong lĩnh vực vận tải và chiến tranh, thì đó được
xem là một trong những cuộc cách mạng cơ bản đầu tiên của
lịch sử.
Sức ảnh hưởng của các yếu tố địa lý giảm dần theo sự phát triển
của công nghệ kỹ thuật. Đặc tính và đường biên của địa hình có
thể đem lại cơ hội cho nông nghiệp, khai thác khoáng sản,
thương mại, nhưng chỉ có trí tưởng tượng và óc sáng kiến của
các nhà lãnh đạo, cộng với sự cần lao của những người ủng hộ
thì mới có thể biến các tiềm năng thành hiện thực; phải có một
sự kết hợp tương tự mới có thể khiến một văn hóa vượt qua
trăm ngàn khó khăn để thành hình (như Israel hiện nay). Chính
con người, không phải trái đất, mới tạo ra nền văn minh.
Chương 3
Sinh học và lịch sử
L
ịch sử là một mảnh của sinh học: vốn dĩ đời sống con
người chỉ là một phần nhỏ trong chuỗi thăng trầm của
muôn vạn sinh vật trên mặt đất và dưới biển. Có đôi khi,
lang thang một mình trong khu rừng vào một ngày mùa hạ, ta
nghe hay thấy được sự dịch chuyển của hàng trăm loài đang
bay, nhảy, leo, bò trườn, chui rúc. Khi nhác thấy bóng người,
muông thú giật mình vội chạy đi: chim thì bay tán loạn, cá thì
tản ra lẩn dưới khe sâu. Đột nhiên, ta nhận ra loài người chính là
thiểu số nguy hiểm trên hành tinh vốn công bằng này, và trong
khoảnh khắc đó, với cách phản ứng đa dạng của “cư dân” chốn
này, ta cảm nhận rõ mình là những kẻ không mời mà đến xâm
phạm vào môi trường sống của chúng. Theo đó, tất cả những
biên niên sử và thành tựu của toàn nhân loại bỗng trở nên
khiêm tốn khi được đặt vào bề dày lịch sử và khía cạnh của sự
sống muôn hình vạn trạng. Tất cả sự cạnh tranh kinh tế, xung
đột để chinh phục bạn tình, tất cả sự đói khát, yêu đương, sầu
muộn và chinh chiến xem ra chẳng khác gì sự tìm kiếm, giao
phối, những vươn lên và chịu đựng đang âm ỉ dưới thân cây đổ
hay chiếc lá, dưới nước hoặc trên các nhánh cây kia.
Vậy nên, các quy luật sinh học cũng là những bài học căn bản
của lịch sử. Chúng ta là đối tượng chịu sự chi phối của các tiến
trình và thử thách tiến hóa, của quy luật đấu tranh sinh tồn và
“cá lớn nuốt cá bé”. Giả như ai đó trong số chúng ta có vẻ thoát
khỏi quy luật đấu tranh hoặc những thử thách này thì đó là nhờ
tập thể đã đứng ra chở che cho mỗi cá thể; nhưng chính tập thể
ấy phải đương đầu và vượt qua những thử thách sinh tồn.
Và bài học sinh học đầu tiên của lịch sử đó chính là sự sống là
một cuộc cạnh tranh. Cạnh tranh không chỉ cần thiết trong đời
sống thương mại, mà nó chính là sự sống của hoạt động trao
đổi: hòa bình khi lương thực đầy rẫy, nhưng cạnh tranh khốc
liệt khi số miệng ăn vượt quá lượng thức ăn. Các con vật ăn thịt
nhau không chút chần chừ; loài người văn minh thì triệt tiêu
lẫn nhau theo đúng tiến trình luật pháp. Sự hợp tác là có thực,
nó tăng dần theo sự phát triển của xã hội nhưng thực chất lại
chỉ là một công cụ và dạng thức khác của sự cạnh tranh mà thôi.
Ta hợp tác trong nội bộ các tập thể của ta – gia đình, cộng đồng,
câu lạc bộ, nhà thờ, đảng phái, “chủng tộc”, hoặc quốc gia – để
củng cố vị thế và sức mạnh của mỗi nhóm tập thể so với các
nhóm đối thủ. Trong cạnh tranh, các nhóm cũng mang những
phẩm chất giống như các cá thể: hám lợi, hiếu chiến, thiên kiến,
kiêu hãnh. Quốc gia của chúng ta bao chứa những cá thể hệt
như bản sao của bản thân ta, ta cấu thành từ cái gì thì quốc gia
của ta cũng cấu thành từ cái ấy, chỉ là quốc gia mô phỏng bản
tính của mỗi chúng ta một cách đậm nét hơn, mỗi hành động
thiện ác của quốc gia diễn ra ở một quy mô khủng khiếp hơn.
Chúng ta tham lam, thích thâu tóm, hăng máu là bởi trong
huyết quản vẫn in đậm dấu của những cuộc săn đuổi và chiến
đấu để sinh tồn của tổ tiên qua nhiều thiên niên kỷ, hoặc những
khi phải ăn đến sình bụng vì biết bao giờ mới lại săn được một
con mồi khác. Chiến tranh là hình thức “ăn uống” của một quốc
gia. Chiến tranh thúc đẩy sự hợp tác bởi hợp tác chính là hình
thức cạnh tranh cao nhất. Cho đến khi các quốc gia trở thành
thành viên của một nhóm lợi ích lớn và có khả năng bảo vệ hiệu
quả hơn, thì mỗi một quốc gia vẫn tiếp tục “hành động” như
những cá thể và gia đình thời tiền sử.
Bài học sinh học thứ nhì của lịch sử chính là: sự sống là một
cuộc chọn lọc. Trong tranh giành thức ăn, bạn tình và quyền
thống trị, một số sinh vật thành công trong khi số khác thất bại.
Trong nỗ lực đấu tranh sinh tồn, vài cá nhân được trang bị tốt
hơn kẻ khác để vượt qua những thử thách tồn tại. Tạo hóa (ở
đây có nghĩa là toàn bộ thực tại và các tiến trình của nó) thì làm
gì biết đến Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ hay Tuyên ngôn
Nhân quyền của Cách mạng Pháp, nên đã sinh ra mỗi người
trong chúng ta chẳng tự do cũng chẳng bình đẳng: chúng ta là
những đối tượng thừa hưởng những di truyền về mặt vật lý và
tinh thần, chịu sự chi phối của phong tục tập quán và truyền
thống của tập thể. Mỗi người được ban tặng sức khỏe và thể lực,
năng lực trí tuệ và cá tính, phẩm hạnh đa dạng, khác nhau. Tạo
hóa yêu thích sự khác biệt bởi đó là chất liệu cho tiến trình chọn
lọc tự nhiên và tiến hóa. Ngay cả một cặp song sinh trông thì có
thể giống như khuôn đúc nhưng lại khác nhau trong nhiều
chiều kích. Chẳng có hai hạt đậu nào lại giống nhau hoàn toàn.
Sự bất bình đẳng không chỉ tự nhiên và bẩm sinh mà còn tăng
trưởng cùng sự phát triển phức tạp của nền văn minh. Những
bất bình đẳng di truyền lại càng đẻ ra nhiều sự bất bình đẳng
nhân tạo khác trong xã hội. Các phát minh hay khám phá mới
đều là do một vài cá nhân kiệt xuất chớp lấy thời cơ mà tạo ra,
khiến cho kẻ mạnh thì càng mạnh, mà người yếu thì càng yếu.
Sự phát triển kinh tế chú trọng vào chuyên môn hóa cao, tập
trung vào các khả năng khác biệt hóa và đa dạng, và vì thế mà
giá trị của mỗi người là khác nhau và không đồng nhất đối với
một tập thể. Nếu hiểu rõ và sâu sát những người anh em đồng
loại, ta có thể chọn ra 30% trong số họ nhưng số này khi kết hợp
với nhau thì lại sở hữu tất cả kỹ năng, khả năng tương đương
toàn bộ nhóm còn lại. Sự sống và lịch sử diễn ra đích xác như
vậy, nó vốn phải chịu sự chi phối của một nỗi bất công có uy lực
khủng khiếp như Thiên Chúa của Calvin.
Tạo hóa cười khẩy trước mối lương duyên giữa tự do và bình
đẳng vốn chỉ có thể tồn tại trong thế giới không tưởng của loài
người. Bởi lẽ tự do và bình đẳng mãi mãi là hai kẻ thù truyền
kiếp, khi cái này mạnh lên thì cái kia ắt phải suy yếu. Khi con
người sở hữu quyền tự do thì sự bất bình đẳng tự nhiên giữa họ
cũng sẽ gia tăng theo cấp số nhân, như đế quốc Anh và Hoa Kỳ
trong thời kỳ tự do mậu dịch đậm chất laissez-faire vào thế kỷ
XIX. Muốn kiểm soát sự bất bình đẳng thì ta phải hy sinh tự do,
như trường hợp nước Nga từ sau năm 1917. Ngay cả khi bị kìm
nén, tình trạng bất bình đẳng vẫn gia tăng; chỉ những ai có khả
năng kinh tế dưới mức trung bình mới có ước mong về bình
đẳng, còn những ai ý thức được khả năng vượt trội của mình thì
chỉ mong mỏi tự do; và rốt cuộc, nhóm có tài năng sẽ thắng thế.
Những thế giới bình đẳng không tưởng về mặt sinh học là một
thế giới ắt sẽ diệt vong, và điều tốt nhất mà các nhà triết học
hảo tâm ước ao cùng lắm chỉ có thể là quyền bình đẳng gần như
đầy đủ về mặt pháp luật và cơ hội giáo dục. Một xã hội mà ở đó
tất cả các khả năng tiềm tàng được phép phát triển và hoạt động
đúng chức năng sẽ có ưu thế sinh tồn so với những nhóm cạnh
tranh khác. Và khi mà khoảng cách giữa các quốc gia không còn
nữa khiến cho xung đột leo thang gay gắt, thì sự cạnh tranh này
sẽ càng trở nên cam go hơn.
Bài học sinh học thứ ba của lịch sử chính là sự sống phải sinh
sản. Tạo hóa không có chỗ cho những sinh vật, biến thể hay các
quần thể không có năng lực sinh sôi nảy nở. Tạo hóa tập trung
vào số lượng như yếu tố tiền đề để chọn lọc phẩm chất. Tạo hóa
ham thích con đàn cháu đống và hăng say với cuộc đấu tranh
sinh tồn nhằm chọn ra vài cá thể tồn tại; và không nghi ngờ gì,
tạo hóa hài lòng chứng kiến cuộc đua của hàng ngàn tinh trùng
bơi đến thụ tinh cho một noãn trứng. Tạo hóa quan tâm đến
chủng loài hơn là cá thể và cũng chẳng phân biệt giữa văn minh
hay mọi rợ. Tạo hóa không quan tâm đến việc tỷ lệ sinh sản cao
đi đôi với một nền văn minh thấp, còn tỷ lệ sinh sản thấp thì đi
đôi với một nền văn minh cấp tiến. Tạo hóa (ở đây mang hàm
nghĩa bao gồm tất cả tiến trình sinh sản, biến thể, cạnh tranh,
chọn lọc và sinh tồn) cho rằng một quốc gia với tỷ lệ sinh sản
thấp sẽ thường xuyên bị chinh phạt bởi những quốc gia hùng
cường với dân số sản sinh đông hơn. Cũng giống như người xứ
Gaule chống chọi lại được quân Đức với sự trợ giúp của các binh
đoàn La Mã dưới thời Ceasar, và với sự trợ giúp của quân đội Anh
và Mỹ trong thời hiện đại. Khi La Mã suy tàn, dân Frank ở Đức
liền ùa vào và biến xứ Gaul thành nước Pháp. Giả sử Anh hay Mỹ
sụp đổ, thì nước Pháp – với dân số gần như không đổi trong suốt
thế kỷ XIX – sẽ rất có thể bị lật đổ một lần nữa.
Khi dân số nhân loại trở nên đông vượt mức nguồn cung lương
thực, Tạo hóa có ngay ba tác nhân để lập lại thế quân bình: nạn
đói, dịch bệnh và chiến tranh. Trong tác phẩm nổi tiếng Essay
on Population (Luận về Dân số, xuất bản năm 1788), Thomas
Malthus lý giải rằng nếu không có những cách kiểm soát định
kỳ này, tỷ lệ sinh sẽ vượt xa tỷ lệ tử, đến một mức mà chỉ cần
dân số gia tăng thêm thì sẽ khiến sự phát triển của chuỗi thức
ăn hoàn toàn bị vô hiệu hóa. Mặc dù là một tu sĩ và là một người
đầy hảo ý, Malthus cũng chỉ ra rằng những hình thức trợ cấp
cho người nghèo chỉ khuyến khích họ kết hôn sớm và sinh con
thiếu kiểm soát, và rốt cuộc chỉ trầm trọng hóa vấn đề thêm mà
thôi. Trong lần xuất bản thứ hai năm 1803, Malthus khuyên
mọi người nên kiêng quan hệ tình dục trừ phi họ thật sự muốn
có con cái, nhưng ông lại không chấp nhận những phương pháp
phòng tránh thai khác. Lời khuyên này họa chăng chỉ có bậc
thánh nhân mới thực hiện được, biết vậy nên Malthus dự đoán
rằng sự cân bằng giữa số miệng ăn và nguồn thức ăn trong
tương lai sẽ được kiểm soát thông qua nạn đói, bệnh dịch và
chiến tranh, giống như thời xưa vậy.
Những tiến bộ về nông nghiệp và phương thức ngừa thai trong
thế kỷ XIX rõ ràng đã bác bỏ lập luận của Malthus: ở Anh, Hoa
Kỳ, Đức và Pháp, nguồn cung thực phẩm đã theo kịp đà sinh sản,
mức sống tăng cao khiến mọi người kết hôn muộn hơn và số
nhân khẩu trong gia đình vì thế mà giảm theo. Số người tiêu thụ
càng tăng thì số người sản xuất cũng tăng: càng nhiều bàn tay
lao động thì càng thêm nhiều vùng miền nuôi trồng lương thực
thực phẩm. Việc Canada và Hoa Kỳ xuất khẩu hàng triệu giạ lúa
mì trong khi trong nước không hề xảy ra nạn đói hay dịch bệnh
chừng như là câu trả lời sống động nhất dành cho Malthus. Nếu
áp dụng những kiến thức nông nghiệp hiện tại khắp mọi nơi thì
hành tinh này có thể nuôi sống gấp đôi dân số thế giới hiện tại.
Lẽ tất nhiên, Malthus sẽ đáp trả rằng giải pháp này đơn giản chỉ
trì hoãn cơn đại họa mà thôi. Độ màu mỡ của đất đai cũng có
giới hạn. Mọi tiến bộ canh tác nông nghiệp không sớm thì muộn
cũng sẽ trở nên vô ích khi số sinh vượt quá số tử. Trong khi đó, y
học, các biện pháp giữ gìn vệ sinh, và công tác từ thiện sẽ vô
hiệu hóa quá trình chọn lọc tự nhiên, giữ cho những cá thể yếu
kém tiếp tục tồn tại và nhân giống. Để đáp lại luận điệu này,
những người giương cao ngọn cờ hy vọng cho rằng tại những
quốc gia mà việc sinh sản thừa mứa đang đe dọa thế giới thì
chính những tiến bộ công nghiệp hóa, đô thị hóa, chế độ giáo
dục và mức sống nâng cao ở những nơi này sẽ có tác dụng làm
giảm tỷ lệ sinh. Việc tương tự cũng đã từng diễn ra ở châu Âu và
Bắc Mỹ. Cho tới khi đạt được điểm cân bằng giữa sản xuất và
sinh sản, thì một lời khuyên cho nhân loại là hãy phổ biến kiến
thức và công cụ phòng tránh thai. Lý tưởng mà nói, việc kiến
tạo dòng dõi chỉ nên là đặc quyền của những cá thể khỏe mạnh,
không phải là phó sản của kích thích tình dục.
Có bằng chứng nào cho thấy các biện pháp phòng tránh thai làm
thoái hóa nòi giống không – rằng nó làm giảm thiểu trí tuệ của
những quốc gia cho phép sử dụng các biện pháp này? Có vẻ
nhóm người thông minh đã phòng tránh thai nhiều hơn nhóm
người thường. Qua mỗi thế hệ, dường như công sức của những
nhà giáo dục đều đổ sông đổ biển trước sức sinh sản của nhóm
người thiếu hiểu biết. Nhưng cái chúng ta gọi là trí thông minh
phần lớn là kết quả của giáo dục, cơ hội, kinh nghiệm của mỗi cá
nhân. Và không có bằng chứng nào cho thấy các năng lực trí tuệ
đó được di truyền qua bộ gen. Cho dù là con cái của tiến sĩ đi
chăng nữa thì cũng phải đi học và trải qua thời niên thiếu lầm
lỗi, phải nghe những lời răn dạy giáo điều và bị khủng hoảng
niềm tin; ta cũng không thể nói được có bao nhiêu năng lực và
tố chất thiên tài tiềm ẩn trong các nhiễm sắc thể của những cá
nhân nghèo khó kém may mắn. Về khía cạnh sinh học, lúc vừa
hạ sinh thì thể lực, thể chất có lẽ quý hơn dòng dõi trí tuệ.
Nietzsche cho rằng dòng giống tốt nhất ở Đức chảy trong huyết
quản những người làm nông, còn lũ triết gia không phải là chất
liệu tốt nhất để nhân giống tạo ra một chủng tộc.
Kế hoạch hóa gia đình đã góp một phần nào đó trong lịch sử Hy
Lạp và La Mã. Thật nực cười khi biết rằng Julius Caesar từng ban
thưởng cho những người La Mã (năm 59 TCN) nào đông con, và
cấm những người phụ nữ hiếm muộn đi kiệu hoặc đeo đồ trang
sức. Hoàng đế Augustus lại tái áp dụng chiến dịch vô ích này 40
năm sau đó. Các biện pháp phòng tránh thai tiếp tục được sử
dụng rộng rãi trong giới thượng lưu, trong khi đó, nhóm dân ở
phía Bắc của nước Đức, Hy Lạp và Trung Đông di cư vào ...
WILL & ARIEL DURANT
NHÀ XUẤT BẢN THẾ GIỚI
Trụ sở chính:
Số 46, Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội
Tel: 0084.4.38253841 - Fax: 0084.4.38269578
Chi nhánh:
Số 7, Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh
Tel: 0084.8.38220102
Email: thegioi@thegioipublishers.vn
marketing@thegioipublishers.vn
Website: www.thegioipublishers.vn
Chịu trách nhiệm xuất bản
GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PHẠM TRẦN LONG
Biên tập: Phạm Bích Ngọc
Biên tập viên omega+: Hoài Nguyên
Thiết kế bìa: Phạm Ngọc Điệp
Trình bày: Quốc Nguyễn
In 1.000 bản, khổ 14 x 20,5 cm tại Công thy Cổ phần In Bắc Sơn
Địa chỉ: 262 đường Phúc Diễn, P. Xuân Phương, Q. Nam Từ
Liêm, Hà Nội.
Số xác nhận ĐKXB: 3662-2022/CXBIPH/04-251/ThG
Quyết định xuất bản số: 1170/QĐ-ThG cấp ngày 20 tháng 10
năm 2022
In xong và nộp lưu chiểu năm 2022. Mã ÍBN: 978-604-365800-2
CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH OMEGA VIỆT NAM (OMEGA PLUS)
VP HN: Tầng 3, số 11A, ngõ 282 Nguyễn Huy Tưởng, Phường
Thanh Xuân Trung, Quận Thanh
Xuân, TP. Hà Nội
Tel : (024) 3722 6234
VP TP. HCM: 138C Nguyễn Đình Chiểu, Phường 6, quận 3, TP.
Hồ Chí Minh
Tel: (028) 38220 334 | 35
Lời ngỏ
B
ạn đọc thân mến!
Cũng giống như nhiều môn khoa học khác, nghiên cứu
lịch sử đòi hỏi phải có cách tiếp cận (phương pháp luận) để lý
giải, cắt nghĩa các hiện tượng lịch sử – các sự kiện xảy ra trong
tiến trình phát triển của một cộng đồng, một dân tộc, thậm chí
của cả loài người. Các cách tiếp cận khác nhau sẽ dẫn đến kết
luận khác nhau và các bài học được rút ra cũng khác nhau.
Các tác giả của Những bài học lịch sử đã chọn cách tiếp cận đi từ
diện rộng: xem xét cả lịch sử loài người; có thể nói, phương pháp
này không hoàn toàn giống cách tiếp cận duy vật lịch sử mà
chúng ta quen thuộc từ trước đến nay. Do vậy, bạn đọc có thể
xem cuốn sách này như một nguồn tham chiếu có phê phán để
làm giàu thêm kho kiến thức của mình.
Trân trọng!
NHÀ XUẤT BẢN THẾ GIỚI
Lời nói đầu
C
húng tôi không có gì nhiều để nói về tập sách là phần
chốt hạ này. Sau khi hoàn tất bộ sách Câu chuyện về văn
minh đến mốc thời gian năm 1789, chúng tôi đã đọc lại
mười tập sách với tư thái chuẩn bị cho đợt phát hành một phiên
bản mới có chỉnh sửa những thiếu sót, sơ suất về thông tin sự
kiện cũng như lỗi bản in. Trong quá trình đó, chúng tôi ghi
nhận lại những sự kiện và lời bình có thể giúp mọi người tỏ
tường các vấn đề hiện tại, các viễn cảnh khả dĩ trong tương lai,
bản chất con người và cách vận hành của các quốc gia. (Các tài
liệu tham khảo xuyên suốt cuốn sách này được trích từ bộ sách
Câu chuyện về văn minh không phải vì đó là văn bản tối
thượng, mà những trích dẫn xuất hiện chỉ để làm sáng tỏ và đưa
ra các ví dụ minh họa). Chúng tôi cố gắng trì hoãn đưa ra kết
luận cho đến khi hoàn tất khảo sát dẫn thuật; nhưng không
nghi ngờ gì, những chất liệu minh họa chúng tôi lựa chọn lại là
kết quả từ việc bản thân đã chịu ảnh hưởng của những quan
điểm hình thành từ trước đó. Do đó mà có tập tiểu luận này. Nội
dung sách lặp lại nhiều ý tưởng mà chúng tôi và nhiều người đi
trước đã từng trình bày. Mục đích của chúng tôi không nhắm
vào sự độc đáo mà là chú trọng tính bao hàm; chúng tôi đưa ra
một cuộc khảo sát về trải nghiệm nhân loại chứ không phải là
khải thị mang tính cá nhân.
Như thường lệ từ trước đến nay, chúng tôi cảm ơn sâu sắc sự
giúp đỡ cũng như lời khuyên của con gái của chúng tôi – Ethel.
Will & Ariel Durant
Chương 1
Do dự
K
hi các nghiên cứu của bản thân dần đi đến hồi kết, một
sử gia phải đối mặt với thách thức: Nghiên cứu của anh
ta có ích lợi gì? Hay nỗ lực công sức của anh ta chỉ đơn
giản là niềm vui thú thuật lại những thăng trầm của các quốc
gia và ý tưởng, kể lại “những câu chuyện buồn về cái chết của
các vị vua?” Anh ta liệu có thấu suốt bản tính con người nhiều
hơn so với một người lăn lộn trường đời mà chẳng cần đọc một
trang sách nào? Anh ta liệu có rút ra được điều gì từ lịch sử để
soi sáng cho chính tình trạng hiện tại của thời đại, hay một dẫn
dắt nào đó cho những đánh giá và chính sách của chúng ta,
cũng như bất cứ sự bảo hộ nào trước những cự tuyệt bất ngờ hay
những thăng trầm đổi thay? Theo dòng sự kiện trong quá khứ,
anh ta có khám phá ra những quy luật trong chuỗi diễn trình
của các sự kiện quá khứ hòng giúp mình tiên liệu hành động
mai sau của nhân loại hay vận mệnh của các nhà nước? Rốt
cuộc, phải chăng “lịch sử không có nghĩa lý gì,”1 i có lẽ nào lịch
sử chẳng dạy chúng ta điều gì, và dĩ vãng mênh mông thực chất
chỉ là một sự diễn tập nhàm chán của những sai lầm ắt sẽ tái
diễn trong tương lai, chẳng qua ở một sân khấu và quy mô lớn
hơn?
i. Lưu ý với bạn đọc: các cước chú trong sách này được đánh dấu bằng chữ
“i, ii…” và do biên tập viên bổ chú. Các đánh dấu bằng số “1, 2, 3…” hay
bằng dấu * đều là của các tác giả dùng để ghi chú tên tác phẩm được dùng
để trích dẫn trong sách này, quý độc giả có thể tham khảo ở phần “Thư
mục tham khảo”, các trang 172-175. (BTV)
Có đôi khi chúng tôi cảm thấy như vậy, và vô số mối nghi hoặc
làm giảm nhuệ khí thực hiện dự án thách thức bản thân này.
Điều đầu tiên phải kể đến đó là làm sao chúng ta biết được thực
hư quá khứ ra sao, kỳ thực những chuyện gì đã xảy ra, hay liệu
chăng lịch sử chẳng qua chỉ là “một câu chuyện ngụ ngôn”
chẳng “mấy ai đồng tình”? Những gì ta biết về bất kỳ sự kiện
nào trong quá khứ nào luôn thiếu khuyết, có thể không chính
xác, bị che mờ bởi các chứng cứ mâu thuẫn và những sử gia
thiên kiến, và có lẽ còn bị xuyên tạc vì chính lòng yêu nước hay
sự sùng kính một người dành cho đảng phái, tôn giáo của bản
thân. “Phần lớn lịch sử là phỏng đoán, còn phần còn lại là định
kiến.”2
Ngay cả một sử gia muốn vượt thoát lên sự thiên vị dành cho
đất nước, chủng tộc, tín ngưỡng hay giai cấp của mình, anh ta
cũng vẫn để lộ những thiên ái thầm kín của chính mình qua
cách lựa chọn tư liệu và câu chữ hàm chứa nhiều sắc thái khác
nhau của anh ta. “Sử gia luôn đơn giản hóa mọi việc một cách
thái quá, và cứ hay hấp tấp chọn ra một thiểu số trong hằng hà
sa số dữ kiện và những gương mặt đại diện cho một đám đông
linh hồn cùng sự kiện mà tính phức tạp, đa chiều của chúng thì
chính bản thân anh ta thậm chí còn chưa chắc có thể nắm bắt
hoặc hiểu hết được.”3 Một lần nữa, những kết luận được rút ra từ
quá khứ dành cho tương lai trở nên càng nguy hiểm hơn vì mức
độ tăng tiến của sự đổi thay đổi. Vào năm 1909, Charles Péguy
cho rằng: “Trong vòng ba mươi năm qua, thế giới thay đổi nhiều
hơn so với khoảng thời gian trước đó tính từ thời Chúa Kitô;”4
và có lẽ một tiến sĩ vật lý trẻ tuổi nào đó hẳn sẽ bổ sung rằng từ
năm 1909 cho đến nay, nền vật lý đã thay đổi nhiều hơn so với
toàn bộ khoảng thời gian trước đó. Mỗi năm – trong thời chiến
thì có khi tính bằng tháng – lại có một phát minh, một phương
cách hay một tình thế mới thúc đẩy chúng ta điều chỉnh hành vi
và lối tư duy. Hơn thế, một yếu tố ngẫu nhiên nào đó, có lẽ là
một biến số tự do, dường như tác động đến hành vi của vật chất
kim loại và con người. Ngày nay, chúng ta không còn đoan chắc
rằng các nguyên tử, chưa kể đến các cá thể sinh vật, sẽ biểu hiện
trong tương lai như cách chúng ta từng nghĩ về sự hồi đáp của
chúng trong quá khứ. Cũng giống như Thiên Chúa của Cowper,
các hạt electron di chuyển theo những cách bí ẩn để thực hiện
những điều kỳ diệu, và một cá tính thất thường hay một tình
thế lạ lùng cũng đủ làm xào xáo trạng thái cân bằng của các
quốc gia, như khi vua Alexander vì say mà chết, và thế là đế chế
non trẻ của ông sụp đổ (năm 323 TCN), hay như khi Frederick
Đại đế thoát khỏi đại họa nhờ vào sự lên ngôi của một Sa hoàng
say mê lối sống Phổ (năm 1762).
Lẽ tất nhiên, chép sửi không thể là một môn khoa học. Nó vừa là
một bộ môn kỹ thuật, vừa là một nghệ thuật, đồng thời là một
triết lý: là một môn kỹ thuật thông qua việc tìm hiểu các thông
tin xác thực, là một nghệ thuật bởi nó cố sắp xếp mớ thông tin
hỗn độn thành một trật tự có ý nghĩa, là một triết lý bởi nó đi
tìm các quan điểm và sự giác ngộ khai sáng. “Hiện tại chính là
quá khứ tích lũy đưa đến hành động, còn quá khứ lại là hiện tại
được trải ra để mở ra sự hiểu biết”5 – chí ít là chúng tôi tin và
mong như vậy. Trong triết học, ta nhìn nhận một phần trong
ánh sáng soi tỏ của tổng thể. Còn trong “triết lý sử học”, chúng
ta nhìn nhận chính khoảnh khắc hiện tại thông qua sự soi rọi
của quá khứ. Trong cả hai trường hợp, đây là một lời khuyên
hướng đến sự hoàn hảo; ta thừa hiểu rằng, có một cái nhìn bao
trùm toàn bộ thực chất chỉ là ảo tưởng. Chúng ta không biết
được toàn bộ lịch sử nhân loại; có lẽ còn nhiều nền văn minh
khác tồn tại trước cả nền văn minh Sumer và Ai Cập mà chúng
ta chỉ mới bắt đầu khai quật! Vì vậy, chúng tôi phải tiến hành
q ậ
ậy
g
p
công việc này với lượng kiến thức cục bộ, và tạm hài lòng với các
khả năng mình phỏng đoán được. Trong sử học, cũng như trong
các môn khoa học và chính trị, tính tương đối là yếu tố chi phối
tối hậu, và mọi công thức hay khuôn mẫu đều phải được nghi
vấn. “Lịch sử cười khẩy trước mọi nỗ lực ép buộc dòng chảy của
nó thuận theo bất kỳ mô thức lý thuyết hay lối mòn luận lý nào.
Nó đập tan mọi sự khái quát hóa và phá vỡ tất cả các quy tắc của
chúng ta; lịch sử kỳ dị như vậy đấy.”6 Biết đâu, chính trong
những giới hạn này, lịch sử lại dạy cho chúng ta đức kiên nhẫn
để có thể chịu đựng thực tại và tôn trọng ảo mộng của nhau.
i. Nguyên bản dùng historiography, một từ mang nghĩa bao hàm cả việc
ghi chép nhằm thiết lập được một bản đồ về lịch sử hay những gì từng xảy
ra, để quan sát quá khứ ở dạng thức một bức tranh toàn cảnh xen lẫn với
cách nhìn nhận theo tuyến tính thời gian. (BTV)
Nhân loại chỉ là một khoảnh khắc trong suốt bề dày thời gian
của vũ trụ, một vị khách tạm dừng chân trên trái đất, một bào
tử của một chủng loài, một hậu duệ của chủng tộc, một phức
hợp bao gồm thể xác, tinh thần và tính cách, một phần tử trong
mỗi gia đình và cộng đồng, một tín đồ hoặc một kẻ hoài nghi
của một đức tin nào đó, một đơn vị đóng góp vào nền kinh tế, và
có lẽ là một công dân của một quốc gia hay một quân nhân
trong quân đội. Bởi vì lẽ đó, chúng ta cần cậy nhờ các lĩnh vực
tương ứng như thiên văn học, địa lý, địa chất học, sinh học, dân
tộc học, tâm lý học, hệ giá trị đạo đức, tôn giáo, kinh tế, chính trị
và các cuộc chiến tranh để làm rõ những điều lịch sử dạy cho
chúng ta về bản chất, hành vi và tương lai của nhân loại. Lẽ tất
nhiên, gom góp hàng trăm thế kỷ sự kiện lịch sử để đúc kết
trong một trăm trang giấy kết luận liều lĩnh là một hành động
không tưởng mà chỉ ai khờ khạo mới dám làm. Dẫu vậy, chúng
tôi quyết định vẫn tiến hành.
Chương 2
Lịch sử và trái đất
N
ếu phải định nghĩa lịch sử – một khối phức tạp do bản
chất đối lập của nó – thì chúng tôi xin định nghĩa lịch sử
là các sự kiện hoặc ghi chép về quá khứ. Lịch sử nhân
loại chỉ là một chấm nhá lên trong không gian, và bài học đầu
tiên của nó chính là đức khiêm tốn. Vào bất kỳ lúc nào, một ngôi
sao chổi cũng có thể bay qua sát sườn quả địa cầu nhỏ bé của
chúng ta và làm đảo lộn mọi thứ, bóp ngạt từ người đến bọ
trong khói và sức nóng; hoặc giả, một mảnh của mặt trời rực rỡ
kia có thể văng ra (cũng như giả thiết hành tinh chúng ta chính
là một mảnh vỡ mặt trời trong một khoảnh khắc vô tận nào đó)
và rơi xuống đầu chúng sinh, ôm trọn mọi thứ trong vòng tay
hủy diệt và chấm dứt mọi buồn đau trên thế gian này. Trong
bước tiến của nhân loại, chúng ta chấp nhận tất cả những rủi ro
này và ngạo nghễ đáp lại vũ trụ như Pascal từng nói: “Kể cả khi
bị vũ trụ vùi nát, con người vẫn cao quý hơn vũ trụ bởi ta biết rõ
rằng mình đang chết. Còn vũ trụ nào hay biết gì về chiến thắng
của nó.”7
Lịch sử phụ thuộc vào địa chất. Mỗi ngày biển xâm lấn đất liền
hoặc đất liền lấn biển ở một nơi nào đó; những thành phố biến
mất dưới làn nước cùng các thánh đường đã chìm sâu dưới lòng
đại dương gióng lên những hồi chuông u sầu. Những ngọn núi
trồi lên hoặc sụp xuống theo nhịp điệu của quá trình tạo thành
và xói mòn; nước sông khi thì dâng lên biến thành lũ, khi thì
cạn khô, khi lại đổi dòng; thung lũng biến thành sa mạc, và eo
đất biến thành eo biển. Trong con mắt nhà địa chất học, bề mặt
của quả địa cầu dịch chuyển như một dịch thể lỏng, và con
người di chuyển trên bề mặt ấy cũng bấp bênh hệt như cái cách
Thánh Peter lướt trên mặt nước mà đến với Chúa Kitô vậy.
Khí hậu không còn kiểm soát chúng ta ngặt nghèo như
Montesquieu và Buckle từng giả định, nhưng nó vẫn giới hạn
chúng ta. Trí khôn có thể giúp ta vượt qua các bất lợi về địa
chất: con người có thể tưới tiêu và điều hòa không khí cho sa
mạc Sahara; san bằng hoặc vượt qua những đỉnh núi, biến
những quả đồi thành ruộng bậc thang để canh tác nho; con
người có thể xây dựng các thành phố nổi để vượt đại dương,
hoặc chế tạo những con chim sắt khổng lồ để đi trên không.
Nhưng chỉ một trận lốc xoáy trong một giờ đồng hồ đã có thể
hủy hoại một thành phố mà con người phải mất cả thế kỷ mới
dày công dựng lên được; và một tảng băng trôi có thể lật đổ và
cắt ngang một “tòa lâu đài nổi”, khiến hàng ngàn người đi đến
định mệnh vĩ đại tất nhiên của mình. Chỉ cần mưa nhỏ giọt là cả
một nền văn minh bị chôn vùi dưới làn cát như ở Trung Á;
nhưng mưa trút dữ dội thì cả một nền văn minh lại bị rừng già
bóp nghẹt như ở Trung Mỹ. Ở các vùng đất trù phú, chỉ cần
nhiệt độ trung bình tăng thêm hai mươi độ là nền văn minh
nhân loại ngay lập tức rơi vào cảnh lầm than và đi thụt lùi.
Trong vùng khí hậu bán nhiệt đới, một quốc gia với dân số nửa
tỷ người có thể sinh sôi như kiến, nhưng chính sức nóng tàn hại
có thể khiến quốc gia ấy liên tục là mục tiêu chinh phạt của các
chiến binh đến từ những vùng khí hậu dễ chịu hơn. Qua nhiều
thế hệ, con người càng ngày càng chế ngự thành thục hơn quả
đất này, nhưng số phận an bài rằng đến tận cùng ai rồi cũng sẽ
chỉ còn là nắm xương tàn trong lòng đất mà thôi.
Địa lý là cái ma trận khuôn đúc nên lịch sử – vừa là người mẹ
dung dưỡng cũng vừa là ngôi nhà hà khắc của lịch sử. Sông, hồ,
ốc đảo và đại dương thu hút những người đến an cư lạc nghiệp ở
ven bờ của chúng, bởi nước chính là huyết mạch của một cơ thể
sống và của các thành phố, và cung cấp những tuyến đường
mậu dịch, vận chuyển ít tốn kém. Ai Cập là “tặng vật của sông
Nile,” còn vùng Lưỡng Hà đã xây dựng nhiều nền văn minh tiếp
nối nhau “giữa các con sông” và dọc theo nhánh các kênh đào
của các con sông này. Ấn Độ (India) chính là đứa con của dòng
Indus (hay sông Ấn), dòng Brahmaputra và dòng Ganges. Trung
Hoa lại nặng nợ với những dòng đại trường giang có xu hướng
“đi lang thang” (như chính chúng ta): chúng thường xuyên chảy
tràn ra khỏi lòng sông và làm màu mỡ thêm cho những khu lân
cận với phù sa của mình. Nước Ý lại tô điểm cho các thung lũng
sông Tiber, sông Arno và sông Po. Nước Áo thì phát triển dọc
theo sông Danube, nước Đức dọc theo sông Elbe và sông Rhine,
và nước Pháp dọc theo sông Rhone, sông Loire và sông Seine.
Các thành phố cổ đại Petra và Palmyra từng được các ốc đảo
trong sa mạc nuôi dưỡng.
Khi dân số Hy Lạp phát triển vượt mức cho phép của diện tích
đất đai, người Hy Lạp bắt đầu tạo lập các thuộc địa dọc theo bờ
biển Địa Trung Hải (“như ếch quanh bờ ao”– Plato) và dọc theo
bờ biển Euxine, tức Hắc Hải. Trong vòng hai nghìn năm – từ
trận Salamis (năm 480 TCN) đến trận đại bại của Hạm đội Tây
Ban Nha (năm 1588) – bờ biển Bắc Địa Trung Hải và Nam Địa
Trung Hải trở thành hai cực đối trọng mà các hậu duệ của nòi
da trắng muốn thâu tóm hòng thể hiện quyền lực thống trị.
Nhưng kể từ năm 1492, các chuyến hải hành của Colombus và
Vasco Da Gama đã mời gọi con người hãy can đảm ra khơi xa, từ
đó mới có sự thách thức vị thế độc tôn của vùng Địa Trung Hải;
các thành bang Genoa, Pisa, Florence và Venice dần suy tàn, và
thời đại Phục hưng dần phai; các quốc gia bên bờ Đại Tây Dương
bỗng trỗi dậy và rốt cuộc nhân rộng quyền lực bá vương của
mình trên khắp một nửa thế giới. Về điều này, George Berkeley
đã nhận xét vào năm 1730: “Đế chế có khuynh hướng mở rộng
về phía Tây.” Liệu các đế quốc phương Tây có tiếp tục bành
trướng qua phía bên kia Thái Bình Dương, đem các kỹ thuật
công nghệ và thương mại trao cho Trung Hoa, như đã từng làm
với nước Nhật trước đây? Có lẽ nào chính sự đông dân của các
quốc gia phương Đông, khi đã có được trình độ khoa học kỹ
thuật mới du nhập, chính là nơi mang đến sự tàn lụi của các đế
quốc phương Tây?
Sự phát triển của máy bay một lần nữa làm thay đổi bản đồ văn
minh. Giao thương theo đường thủy sẽ giảm dần, mà thay vào
đó người và hàng hóa sẽ bay trực tiếp đến nơi muốn đến. Các
quốc gia như Anh và Pháp sẽ dần mất đi lợi thế thương mại đến
từ hình thế địa lý thuận lợi với đường bờ biển rộng lớn. Các quốc
gia như Nga, Trung Quốc và Brazil, vốn bất lợi bởi diện tích đất
liền rộng lớn trong khi đường bờ biển hạn chế thì từ nay sẽ khởi
sắc nhờ đường hàng không. Thu nhập chính của các thành phố
ven biển sẽ thu được ít hơn từ dịch vụ chuyển tiếp hàng hóa hai
chiều từ tàu thủy lên xe lửa, vốn là một ngành rất thô sơ và
chậm tiến. Khi đường biển cuối cùng nhường chỗ cho đường
hàng không trong lĩnh vực vận tải và chiến tranh, thì đó được
xem là một trong những cuộc cách mạng cơ bản đầu tiên của
lịch sử.
Sức ảnh hưởng của các yếu tố địa lý giảm dần theo sự phát triển
của công nghệ kỹ thuật. Đặc tính và đường biên của địa hình có
thể đem lại cơ hội cho nông nghiệp, khai thác khoáng sản,
thương mại, nhưng chỉ có trí tưởng tượng và óc sáng kiến của
các nhà lãnh đạo, cộng với sự cần lao của những người ủng hộ
thì mới có thể biến các tiềm năng thành hiện thực; phải có một
sự kết hợp tương tự mới có thể khiến một văn hóa vượt qua
trăm ngàn khó khăn để thành hình (như Israel hiện nay). Chính
con người, không phải trái đất, mới tạo ra nền văn minh.
Chương 3
Sinh học và lịch sử
L
ịch sử là một mảnh của sinh học: vốn dĩ đời sống con
người chỉ là một phần nhỏ trong chuỗi thăng trầm của
muôn vạn sinh vật trên mặt đất và dưới biển. Có đôi khi,
lang thang một mình trong khu rừng vào một ngày mùa hạ, ta
nghe hay thấy được sự dịch chuyển của hàng trăm loài đang
bay, nhảy, leo, bò trườn, chui rúc. Khi nhác thấy bóng người,
muông thú giật mình vội chạy đi: chim thì bay tán loạn, cá thì
tản ra lẩn dưới khe sâu. Đột nhiên, ta nhận ra loài người chính là
thiểu số nguy hiểm trên hành tinh vốn công bằng này, và trong
khoảnh khắc đó, với cách phản ứng đa dạng của “cư dân” chốn
này, ta cảm nhận rõ mình là những kẻ không mời mà đến xâm
phạm vào môi trường sống của chúng. Theo đó, tất cả những
biên niên sử và thành tựu của toàn nhân loại bỗng trở nên
khiêm tốn khi được đặt vào bề dày lịch sử và khía cạnh của sự
sống muôn hình vạn trạng. Tất cả sự cạnh tranh kinh tế, xung
đột để chinh phục bạn tình, tất cả sự đói khát, yêu đương, sầu
muộn và chinh chiến xem ra chẳng khác gì sự tìm kiếm, giao
phối, những vươn lên và chịu đựng đang âm ỉ dưới thân cây đổ
hay chiếc lá, dưới nước hoặc trên các nhánh cây kia.
Vậy nên, các quy luật sinh học cũng là những bài học căn bản
của lịch sử. Chúng ta là đối tượng chịu sự chi phối của các tiến
trình và thử thách tiến hóa, của quy luật đấu tranh sinh tồn và
“cá lớn nuốt cá bé”. Giả như ai đó trong số chúng ta có vẻ thoát
khỏi quy luật đấu tranh hoặc những thử thách này thì đó là nhờ
tập thể đã đứng ra chở che cho mỗi cá thể; nhưng chính tập thể
ấy phải đương đầu và vượt qua những thử thách sinh tồn.
Và bài học sinh học đầu tiên của lịch sử đó chính là sự sống là
một cuộc cạnh tranh. Cạnh tranh không chỉ cần thiết trong đời
sống thương mại, mà nó chính là sự sống của hoạt động trao
đổi: hòa bình khi lương thực đầy rẫy, nhưng cạnh tranh khốc
liệt khi số miệng ăn vượt quá lượng thức ăn. Các con vật ăn thịt
nhau không chút chần chừ; loài người văn minh thì triệt tiêu
lẫn nhau theo đúng tiến trình luật pháp. Sự hợp tác là có thực,
nó tăng dần theo sự phát triển của xã hội nhưng thực chất lại
chỉ là một công cụ và dạng thức khác của sự cạnh tranh mà thôi.
Ta hợp tác trong nội bộ các tập thể của ta – gia đình, cộng đồng,
câu lạc bộ, nhà thờ, đảng phái, “chủng tộc”, hoặc quốc gia – để
củng cố vị thế và sức mạnh của mỗi nhóm tập thể so với các
nhóm đối thủ. Trong cạnh tranh, các nhóm cũng mang những
phẩm chất giống như các cá thể: hám lợi, hiếu chiến, thiên kiến,
kiêu hãnh. Quốc gia của chúng ta bao chứa những cá thể hệt
như bản sao của bản thân ta, ta cấu thành từ cái gì thì quốc gia
của ta cũng cấu thành từ cái ấy, chỉ là quốc gia mô phỏng bản
tính của mỗi chúng ta một cách đậm nét hơn, mỗi hành động
thiện ác của quốc gia diễn ra ở một quy mô khủng khiếp hơn.
Chúng ta tham lam, thích thâu tóm, hăng máu là bởi trong
huyết quản vẫn in đậm dấu của những cuộc săn đuổi và chiến
đấu để sinh tồn của tổ tiên qua nhiều thiên niên kỷ, hoặc những
khi phải ăn đến sình bụng vì biết bao giờ mới lại săn được một
con mồi khác. Chiến tranh là hình thức “ăn uống” của một quốc
gia. Chiến tranh thúc đẩy sự hợp tác bởi hợp tác chính là hình
thức cạnh tranh cao nhất. Cho đến khi các quốc gia trở thành
thành viên của một nhóm lợi ích lớn và có khả năng bảo vệ hiệu
quả hơn, thì mỗi một quốc gia vẫn tiếp tục “hành động” như
những cá thể và gia đình thời tiền sử.
Bài học sinh học thứ nhì của lịch sử chính là: sự sống là một
cuộc chọn lọc. Trong tranh giành thức ăn, bạn tình và quyền
thống trị, một số sinh vật thành công trong khi số khác thất bại.
Trong nỗ lực đấu tranh sinh tồn, vài cá nhân được trang bị tốt
hơn kẻ khác để vượt qua những thử thách tồn tại. Tạo hóa (ở
đây có nghĩa là toàn bộ thực tại và các tiến trình của nó) thì làm
gì biết đến Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ hay Tuyên ngôn
Nhân quyền của Cách mạng Pháp, nên đã sinh ra mỗi người
trong chúng ta chẳng tự do cũng chẳng bình đẳng: chúng ta là
những đối tượng thừa hưởng những di truyền về mặt vật lý và
tinh thần, chịu sự chi phối của phong tục tập quán và truyền
thống của tập thể. Mỗi người được ban tặng sức khỏe và thể lực,
năng lực trí tuệ và cá tính, phẩm hạnh đa dạng, khác nhau. Tạo
hóa yêu thích sự khác biệt bởi đó là chất liệu cho tiến trình chọn
lọc tự nhiên và tiến hóa. Ngay cả một cặp song sinh trông thì có
thể giống như khuôn đúc nhưng lại khác nhau trong nhiều
chiều kích. Chẳng có hai hạt đậu nào lại giống nhau hoàn toàn.
Sự bất bình đẳng không chỉ tự nhiên và bẩm sinh mà còn tăng
trưởng cùng sự phát triển phức tạp của nền văn minh. Những
bất bình đẳng di truyền lại càng đẻ ra nhiều sự bất bình đẳng
nhân tạo khác trong xã hội. Các phát minh hay khám phá mới
đều là do một vài cá nhân kiệt xuất chớp lấy thời cơ mà tạo ra,
khiến cho kẻ mạnh thì càng mạnh, mà người yếu thì càng yếu.
Sự phát triển kinh tế chú trọng vào chuyên môn hóa cao, tập
trung vào các khả năng khác biệt hóa và đa dạng, và vì thế mà
giá trị của mỗi người là khác nhau và không đồng nhất đối với
một tập thể. Nếu hiểu rõ và sâu sát những người anh em đồng
loại, ta có thể chọn ra 30% trong số họ nhưng số này khi kết hợp
với nhau thì lại sở hữu tất cả kỹ năng, khả năng tương đương
toàn bộ nhóm còn lại. Sự sống và lịch sử diễn ra đích xác như
vậy, nó vốn phải chịu sự chi phối của một nỗi bất công có uy lực
khủng khiếp như Thiên Chúa của Calvin.
Tạo hóa cười khẩy trước mối lương duyên giữa tự do và bình
đẳng vốn chỉ có thể tồn tại trong thế giới không tưởng của loài
người. Bởi lẽ tự do và bình đẳng mãi mãi là hai kẻ thù truyền
kiếp, khi cái này mạnh lên thì cái kia ắt phải suy yếu. Khi con
người sở hữu quyền tự do thì sự bất bình đẳng tự nhiên giữa họ
cũng sẽ gia tăng theo cấp số nhân, như đế quốc Anh và Hoa Kỳ
trong thời kỳ tự do mậu dịch đậm chất laissez-faire vào thế kỷ
XIX. Muốn kiểm soát sự bất bình đẳng thì ta phải hy sinh tự do,
như trường hợp nước Nga từ sau năm 1917. Ngay cả khi bị kìm
nén, tình trạng bất bình đẳng vẫn gia tăng; chỉ những ai có khả
năng kinh tế dưới mức trung bình mới có ước mong về bình
đẳng, còn những ai ý thức được khả năng vượt trội của mình thì
chỉ mong mỏi tự do; và rốt cuộc, nhóm có tài năng sẽ thắng thế.
Những thế giới bình đẳng không tưởng về mặt sinh học là một
thế giới ắt sẽ diệt vong, và điều tốt nhất mà các nhà triết học
hảo tâm ước ao cùng lắm chỉ có thể là quyền bình đẳng gần như
đầy đủ về mặt pháp luật và cơ hội giáo dục. Một xã hội mà ở đó
tất cả các khả năng tiềm tàng được phép phát triển và hoạt động
đúng chức năng sẽ có ưu thế sinh tồn so với những nhóm cạnh
tranh khác. Và khi mà khoảng cách giữa các quốc gia không còn
nữa khiến cho xung đột leo thang gay gắt, thì sự cạnh tranh này
sẽ càng trở nên cam go hơn.
Bài học sinh học thứ ba của lịch sử chính là sự sống phải sinh
sản. Tạo hóa không có chỗ cho những sinh vật, biến thể hay các
quần thể không có năng lực sinh sôi nảy nở. Tạo hóa tập trung
vào số lượng như yếu tố tiền đề để chọn lọc phẩm chất. Tạo hóa
ham thích con đàn cháu đống và hăng say với cuộc đấu tranh
sinh tồn nhằm chọn ra vài cá thể tồn tại; và không nghi ngờ gì,
tạo hóa hài lòng chứng kiến cuộc đua của hàng ngàn tinh trùng
bơi đến thụ tinh cho một noãn trứng. Tạo hóa quan tâm đến
chủng loài hơn là cá thể và cũng chẳng phân biệt giữa văn minh
hay mọi rợ. Tạo hóa không quan tâm đến việc tỷ lệ sinh sản cao
đi đôi với một nền văn minh thấp, còn tỷ lệ sinh sản thấp thì đi
đôi với một nền văn minh cấp tiến. Tạo hóa (ở đây mang hàm
nghĩa bao gồm tất cả tiến trình sinh sản, biến thể, cạnh tranh,
chọn lọc và sinh tồn) cho rằng một quốc gia với tỷ lệ sinh sản
thấp sẽ thường xuyên bị chinh phạt bởi những quốc gia hùng
cường với dân số sản sinh đông hơn. Cũng giống như người xứ
Gaule chống chọi lại được quân Đức với sự trợ giúp của các binh
đoàn La Mã dưới thời Ceasar, và với sự trợ giúp của quân đội Anh
và Mỹ trong thời hiện đại. Khi La Mã suy tàn, dân Frank ở Đức
liền ùa vào và biến xứ Gaul thành nước Pháp. Giả sử Anh hay Mỹ
sụp đổ, thì nước Pháp – với dân số gần như không đổi trong suốt
thế kỷ XIX – sẽ rất có thể bị lật đổ một lần nữa.
Khi dân số nhân loại trở nên đông vượt mức nguồn cung lương
thực, Tạo hóa có ngay ba tác nhân để lập lại thế quân bình: nạn
đói, dịch bệnh và chiến tranh. Trong tác phẩm nổi tiếng Essay
on Population (Luận về Dân số, xuất bản năm 1788), Thomas
Malthus lý giải rằng nếu không có những cách kiểm soát định
kỳ này, tỷ lệ sinh sẽ vượt xa tỷ lệ tử, đến một mức mà chỉ cần
dân số gia tăng thêm thì sẽ khiến sự phát triển của chuỗi thức
ăn hoàn toàn bị vô hiệu hóa. Mặc dù là một tu sĩ và là một người
đầy hảo ý, Malthus cũng chỉ ra rằng những hình thức trợ cấp
cho người nghèo chỉ khuyến khích họ kết hôn sớm và sinh con
thiếu kiểm soát, và rốt cuộc chỉ trầm trọng hóa vấn đề thêm mà
thôi. Trong lần xuất bản thứ hai năm 1803, Malthus khuyên
mọi người nên kiêng quan hệ tình dục trừ phi họ thật sự muốn
có con cái, nhưng ông lại không chấp nhận những phương pháp
phòng tránh thai khác. Lời khuyên này họa chăng chỉ có bậc
thánh nhân mới thực hiện được, biết vậy nên Malthus dự đoán
rằng sự cân bằng giữa số miệng ăn và nguồn thức ăn trong
tương lai sẽ được kiểm soát thông qua nạn đói, bệnh dịch và
chiến tranh, giống như thời xưa vậy.
Những tiến bộ về nông nghiệp và phương thức ngừa thai trong
thế kỷ XIX rõ ràng đã bác bỏ lập luận của Malthus: ở Anh, Hoa
Kỳ, Đức và Pháp, nguồn cung thực phẩm đã theo kịp đà sinh sản,
mức sống tăng cao khiến mọi người kết hôn muộn hơn và số
nhân khẩu trong gia đình vì thế mà giảm theo. Số người tiêu thụ
càng tăng thì số người sản xuất cũng tăng: càng nhiều bàn tay
lao động thì càng thêm nhiều vùng miền nuôi trồng lương thực
thực phẩm. Việc Canada và Hoa Kỳ xuất khẩu hàng triệu giạ lúa
mì trong khi trong nước không hề xảy ra nạn đói hay dịch bệnh
chừng như là câu trả lời sống động nhất dành cho Malthus. Nếu
áp dụng những kiến thức nông nghiệp hiện tại khắp mọi nơi thì
hành tinh này có thể nuôi sống gấp đôi dân số thế giới hiện tại.
Lẽ tất nhiên, Malthus sẽ đáp trả rằng giải pháp này đơn giản chỉ
trì hoãn cơn đại họa mà thôi. Độ màu mỡ của đất đai cũng có
giới hạn. Mọi tiến bộ canh tác nông nghiệp không sớm thì muộn
cũng sẽ trở nên vô ích khi số sinh vượt quá số tử. Trong khi đó, y
học, các biện pháp giữ gìn vệ sinh, và công tác từ thiện sẽ vô
hiệu hóa quá trình chọn lọc tự nhiên, giữ cho những cá thể yếu
kém tiếp tục tồn tại và nhân giống. Để đáp lại luận điệu này,
những người giương cao ngọn cờ hy vọng cho rằng tại những
quốc gia mà việc sinh sản thừa mứa đang đe dọa thế giới thì
chính những tiến bộ công nghiệp hóa, đô thị hóa, chế độ giáo
dục và mức sống nâng cao ở những nơi này sẽ có tác dụng làm
giảm tỷ lệ sinh. Việc tương tự cũng đã từng diễn ra ở châu Âu và
Bắc Mỹ. Cho tới khi đạt được điểm cân bằng giữa sản xuất và
sinh sản, thì một lời khuyên cho nhân loại là hãy phổ biến kiến
thức và công cụ phòng tránh thai. Lý tưởng mà nói, việc kiến
tạo dòng dõi chỉ nên là đặc quyền của những cá thể khỏe mạnh,
không phải là phó sản của kích thích tình dục.
Có bằng chứng nào cho thấy các biện pháp phòng tránh thai làm
thoái hóa nòi giống không – rằng nó làm giảm thiểu trí tuệ của
những quốc gia cho phép sử dụng các biện pháp này? Có vẻ
nhóm người thông minh đã phòng tránh thai nhiều hơn nhóm
người thường. Qua mỗi thế hệ, dường như công sức của những
nhà giáo dục đều đổ sông đổ biển trước sức sinh sản của nhóm
người thiếu hiểu biết. Nhưng cái chúng ta gọi là trí thông minh
phần lớn là kết quả của giáo dục, cơ hội, kinh nghiệm của mỗi cá
nhân. Và không có bằng chứng nào cho thấy các năng lực trí tuệ
đó được di truyền qua bộ gen. Cho dù là con cái của tiến sĩ đi
chăng nữa thì cũng phải đi học và trải qua thời niên thiếu lầm
lỗi, phải nghe những lời răn dạy giáo điều và bị khủng hoảng
niềm tin; ta cũng không thể nói được có bao nhiêu năng lực và
tố chất thiên tài tiềm ẩn trong các nhiễm sắc thể của những cá
nhân nghèo khó kém may mắn. Về khía cạnh sinh học, lúc vừa
hạ sinh thì thể lực, thể chất có lẽ quý hơn dòng dõi trí tuệ.
Nietzsche cho rằng dòng giống tốt nhất ở Đức chảy trong huyết
quản những người làm nông, còn lũ triết gia không phải là chất
liệu tốt nhất để nhân giống tạo ra một chủng tộc.
Kế hoạch hóa gia đình đã góp một phần nào đó trong lịch sử Hy
Lạp và La Mã. Thật nực cười khi biết rằng Julius Caesar từng ban
thưởng cho những người La Mã (năm 59 TCN) nào đông con, và
cấm những người phụ nữ hiếm muộn đi kiệu hoặc đeo đồ trang
sức. Hoàng đế Augustus lại tái áp dụng chiến dịch vô ích này 40
năm sau đó. Các biện pháp phòng tránh thai tiếp tục được sử
dụng rộng rãi trong giới thượng lưu, trong khi đó, nhóm dân ở
phía Bắc của nước Đức, Hy Lạp và Trung Đông di cư vào ...
 








Các ý kiến mới nhất