Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

NGƯỜI MẸ CẦM SÚNG

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:46' 20-02-2024
Dung lượng: 433.7 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích: 0 người
Thông tin ebook
Tên truyện : Người Mẹ Cầm Súng
Tác giả : Nguyễn Thi
Thể loại : Truyện ký
Nhà xuất bản : Kim Đồng
Tủ sách : Vàng
Năm xuất bản : 2006
Số trang : 292
Kích thước : 12,5 x 20,5cm
Số quyển / 1 bộ : 1
Hình thức bìa : Bìa mềm
Giá bìa : 28.000 VNĐ
---------------------------------Nguồn : http://www.nxbkimdong.com.vn
Chuyển sang ebook (TVE) : santseiya
Ngày hoàn thành : 06/12/2008
Nơi hoàn thành : Hà Nội
http://www.thuvien-ebook.com

Tóm tắt tiểu sử Nhà văn Nguyễn Thi
 

Nhà văn Nguyễn Thi
Ông còn có bút danh khác: Nguyễn Ngọc Tấn. Tên thật Nguyễn
Hoàng Ca. Sinh ngày 15-5-1928, hy sinh ngày 9-5-1968 tại đường
Minh Phụng (nay là đường Nguyễn Thi - thành phố Hồ Chí Minh)
trong cuộc tổng tiến công Mậu Thân. Quê gốc xã Hải Anh, huyện
Hải Hậu, Nam Hà nhưng từ tuổi thiếu niên đã phải phiêu bạt vào Sài
Gòn kiếm sống. Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, đầu quân làm
công tác tuyên huấn và quản lý văn công ở quân khu miền Đông.
Tập kết ra Bắc là đội trưởng đội văn công sư đoàn 330, sau chuyển
về tham gia ban biên tập đầu tiên của Tạp chí Văn nghệ quân đội.
Từ 1962 trở lại chiến trường miền Nam, phụ trách tờ Văn nghệ quân
giải phóng cho đến khi hy sinh.
Là người viết văn xuôi, đồng thời Nguyễn Thi còn là người làm
thơ, vẽ tranh, trình bày báo, soạn nhạc. Ạng được Giải thưởng
Nguyễn Đình Chiểu (1965) với tập truyện Người mẹ cầm súng. Hội
viên hội nhà văn Việt Nam lớp đầu tiên.
Đã xuất bản: Trăng sáng (truyện ngắn, 1960), Đôi bạn (truyện
ngắn, 1962), Người mẹ cầm súng (truyện ký, 1965), Truyện và ký

(1969), Năm tháng
*
*    *
 
Truyện ký - Người Mẹ Cầm Súng
 

I. Căm thù và nghị lực
Tại xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh có một người đàn
bà đã sáu con tên là Nguyễn Thị Út. Dáng người nhỏ gọn, chị có
khuôn mặt tròn và đôi mắt to, sáng. Cô bác lớn tuổi quen gọi chị là
con Út Trầu, vì chị hay ăn trầu. Lại có người đặt danh chị là "Bà
Hồng" vì chị đánh giặc rất giỏi. Xóm giềng theo tục địa phương,
ghép luôn tên chị với tên chồng, cứ kêu là Út Tịch. Mới đây bà con
lại bàn tán một chuyện mới xảy ra về chị.
Một đêm tối trời tháng giáp Tết vừa qua, dân làng đáy ở ngoài
cồn Bần Chát bỗng nghe tiếng đàn bà kêu cứu. Vào mùa nước rong,
sông chảy xiết, sóng to, có lượn lớn bằng con trâu, dân nghèo đi
làm ăn bị chìm ghe, đồ đạc trôi láng sông. Người ta chạy ghe máy ra
giữa dòng, vớt lên được một người đàn bà chỉ có đôi mắt to là còn
tỉnh táo. Trên vai chị, một đứa bé tuổi còn bú, cứng đờ, thở thoi
thóp. Cùng với chị còn có ba đứa nhỏ gái run rẩy, da tím ngắt.
Đó là chị Út Trầu. Hỏi ra mới biết hôm đó nghe tin giặc bố ngoài
bờ sông, chị mướn xuồng chở ít dưa sang Cầu Lộ bán, tiện dịp
thăm dò tình hình giặc ngoài đó ra sao. Giặc chặn đường ban ngày,
chị phải đi đêm. Ra tới giữa sông, sóng lưỡi búa đã bốc nước làm
chìm xuồng chị. Sông Hậu Giang mênh mông, bề ngang bốn ki-lômét, chèo thẳng tay cũng mất ba tiếng. Mấy mẹ con ngụp lặn giữa
trời nước tối đen. Chị Út vai vác đứa con mới đẻ, lội đứng, miệng hò
hét điều khiển ba đứa con gái, đứa nhỏ nhất mới lên tám tuổi, bám
theo mép xuồng còn chìm lờ đờ, thả trôi. Xuồng muốn chìm luôn
xuống đáy sông, chị cố nâng lên. Mọi việc đều phải tỉnh táo, chính
xác. Nếu không khéo, đứa nhỏ trên vai sẽ chết. Quá tay một chút,
cái xuồng cũng có thể chìm luôn. Cứ như vậy, hai tiếng đồng hồ,
sóng lớn, sóng cả đã thua chị.
Lên bờ, thoa bụng con, chị thử sức con bằng cách thọc lét[1] cho
nó cười.
Mấy mẹ trong xóm nói:
- Đàn bà như tao thì sình lên rồi[2]. Nó vậy mà mẹ con còn y.

Mấy mẹ Khơ-me nói:
- Con đó chuyện gì nó cũng làm như đụng giặc vậy.
Bà Sáu Hò kêu lên:
- Nó uống toa thuốc gì mà gan trời vậy chớ!
- Có uống thuốc gì đâu. Hồi nhỏ cực quá nên bây giờ gan thôi.
Mười hai tuổi từng đánh vợ Hàm Giỏi mà.
Cô bác hay nhập chuyện đời xưa vào chuyện đời nay của chị
như vậy.
Ngày đó, Út mặc quần bố tời[3]. Rận ôi là rận! Lấy chai lăn, nó
kêu như muối rang. Út ở giữ con cho vợ Hàm Giỏi, vừa phải leo cau,
vừa leo dừa. Hai bên hông Út sần sượng, nổi cục. Leo cau tối ngày,
đói, đến lúc đút cơm cho con nó ăn, Út rất thèm. Thịt nạc nó kho
nước dừa béo vàng. Những miếng thịt lưng cá trê nó lòe ra trắng
như bông. Út ăn đại một miếng, ngọt quá, Út làm luôn cả chén, rồi
chén nữa. Chiều thấy con đói, vợi Hàm Giỏi kêu Út lại chửi: - Bộ ông
nội bay hồi đó chết đói thụt lưỡi hả?
Rồi mụ đánh Út, quyết cho lòi thịt, lòi cá ra. Nhưng thịt cá vào
bụng Út rồi, ra sao được? Mụ quất Út một roi, làm Út nằm giãy như
sâu bị bắn. Lúc ngồi dậy, sẵn tay, Út liệng luôn cái chén vào mặt mụ.
Út không hiểu sao lúc đó mình dám làm như vậy. Vợ Hàm Giỏi cao,
mập. Ngay thằng chồng đứng cạnh mụ cũng chỉ như "lóc nói[4] mà
ôm cột dừa". Uy thế của mụ cũng ghê gớm như cái thây mụ. Mỗi lần
ngồi ghe đi góp lúa[5], mụ ngả người ra sau, chỏi chân ra trước, hai
bên ghe chạm hai con khỉ bằng cây ngồi chầu.
Cái chén đập lại của Út làm mụ Hàm Giỏi tím mặt. Mụ nắm tóc
Út, mớ tóc non có chút tị. Út với con dao cau lia vào tay mụ. Mụ vốn
sợ dao, buông ngay. Út phóng ra ngoài.
Bắt đầu ở đợ, Út là một con bé tám tuổi, cởi truồng, ốm nhách.
Đến lúc đánh lại địa chủ, Út mới mười hai tuổi, vẫn ốm nhách,
nhưng lại thêm có một mối thù trong người.

Trốn nhà này đi, Út lại phải đi ở đợ. Một nhúm tuổi, biết làm đâu,
ăn đâu bây giờ. Con gái hội đồng Thanh mướn Út để leo dừa, leo
cau và đổ đờm ho lao. Cho đến ngày cách mạng, rồi kháng chiến.
Một buổi Tây vào bố[6], các anh đàng mình rút, bỏ quên cái máy
chữ. Út mến các anh nên rất thương cái máy. Em lấy dây buộc, lôi
nó lên ngọn dừa, giấu kỹ. Chiều, các anh về, cách mạng còn cái
máy, nhưng đồ đạc và hộp vàng của con gái mụ địa chủ bị Tây lấy
sạch. Chờ các anh đi, nó kêu Út lại chửi:
- Bây giấu đồ cho người ta còn đồ nhà bây bỏ. Quân bây ăn
xong rồi quẹt mỏ như gà.
Nó xấn xổ tới. Từ chiều, thấy các anh đi, biết là thế nào cũng sẽ
bị đòn, Út đã thủ sẵn nắm ớt bột. Con kia lớn gấp ba Út. Nó vừa quơ
cây lên thì nắm ớt bột đã đập vào mặt nó. Lần trước, Út không hiểu
sao mình dám đánh vợ Hàm Giỏi, lần này, Út đã hiểu rằng phải đánh
nó để nó không đánh được mình. Năm ấy, Út mười bốn tuổi. Có
uống thuốc gì đâu! Bị đòn nhiều quá mà cứ phải ngậm ngậm ở trong
lòng nên nó nảy ra cái gan như vậy.
Nhân dịp chìm ghe, nhớ chuyện cũ, ông Sáu Hò, thông tin xã,
đặt tặng Út mấy câu thơ:
Vợ Hàm Giỏi thây to, mặt mốc,
Vợ hội đồng Thanh vai cóc, mình lươn
Đập cho bể mặt bể sườn,
Bản mặt chườn trờn, hết đánh Út chưa!
Út ơi, Út hỡi, bây giờ Chìm ghe, sóng cả, con thơ, giữa dòng.
Sông sâu phải chịu thua cùng...
 

II. Cách mạng đã đem lại cuộc sống và hạnh
phúc
 
Một buổi sáng, các anh bộ đội thấy một em bé gái ốm tong teo,
mặc quần cụt, áo cánh vải xe lửa vá chằng, vết roi đòn còn hằn trên
cổ, đến năn nỉ xin đi theo bộ đội. Các anh hỏi:
Tại sao em xin đi!
Em nói:
Ở đợ cực quá mà.
Đi đánh Tây cũng cực vậy!
Đánh Tây sướng bằng tiên chớ cực gì.
Các anh đều cười, em nói tiếp:
Nó đánh mình, mình đánh lại nó mới sướng chớ. Em ở đợ, chủ
đánh em, em phải chạy.
Em đưa cổ cho các anh coi. Các anh rất thương em nhưng hoàn
cảnh lúc đó đem em theo sao được.
Mấy ngày sau, má, chị Hai, chị Ba của Út đều thôi ở đợ cho hội
đồng Thanh. Một đồng bạc nợ của nhà nó đã có các anh bộ đội trả
giúp. Út, cô bé hụt đi bộ đội lần đầu, theo mẹ về lập chòi, làm mướn.
Út lại leo cau, leo dừa, đồng xu một cây. Chiều về, Út đem tiền
cho má và báo tình hình giặc đã nhìn thấy trong lúc leo dừa cho chú
Chín - một cán bộ bộ đội.
Ba năm sau, cách mạng mở chiến dịch Cầu Kè. Út đem cả tuổi
mười bảy của mình lao vào chiến dịch. Út chạy thư mặt trận, phất
khăn ra hiệu cho chú Chín Luông chỉ huy bộ đội đánh trận Rạch
Cách, chọi đất báo tin cho các anh biết để đánh bọn bót Bến Cát, Út
giết Tây bằng khăn và bằng những cục đất của quê mình.
Một buổi sáng, Út có dè đâu, chú Chín dắt một anh bộ đội mặt
mũi hiền khô đến nhà nói với má:

- Con Út nó đã lớn. Tôi lựa được thằng nầy tướng tá coi cũng
được, chị gả cho nó đi.
Út chạy một hơi ra bờ sông, ngồi.
Anh bộ đội đó tên là Tịch, người Khơ-me. Sau đó cả tiểu đội anh
Tịch đến đóng nhà Út, Út rủ bạn gái tới nhảy cò, nhảy u, đánh banh,
vật lộn cho anh Tịch chê, vì đàn bà con gái mà chơi những trò đó thì
quá lắm! Nhưng anh Tịch vẫn không chê.
Trong trận đánh bót Chuông Nô, thấy Út tay không, anh Tịch hỏi:
- Hồi nào tới giờ cô có biết chọi lựu đạn không?
Út nói không. Anh cho Út một trái, rồi làm điệu bộ dạy Út chọi, rất
giỏi. Út nghĩ: anh này đánh giặc ngon đây!
Bót Chuông Nô bị diệt, anh Tịch vác ra một vác súng. Út mừng
hoa mắt, đón lấy từng cây xếp xuống xuồng. Út hỏi:
- Trước anh có ở đợ không?
- Sao không! Mới bỏ bò theo chú Chín đi bộ đội đây.
Pháo giặc bắn như giã gạo. Chiến dịch còn dài. Anh Tịch lại đi.
Út chở súng về. Miểng pháo rơi quanh người lụp bụp.
Bộ đội ta hạ đồn Bắc-sa-ma, bao bót Bến Cát, đánh tàu. Tàu giặc
bắn như vãi cát. Trận này, Út cùng chị Chương, cô bạn ở đợ ngày
trước, bò ra dưới làn đạn giặc, lấy cây súng nồi của anh em ta rút
còn để sót lại. Cây súng tốt quá, anh Tịch và các anh bộ đội đã từng
nhảy vào đồn, đổ máu ra mới lấy được nó. Hai chị em è ạch lôi cây
súng dưới sình.[7]
Chiều hôm ấy, nó được trao trả tận tay bộ đội.
Nửa chừng chiến dịch, bỗng có tin anh Tịch hy sinh. Chưa phải
là vợ, cũng chưa biết yêu, nhưng Út khóc anh Tịch, thù thằng Tây
lắm. Út đi trinh sát, thấy tàu nó vô sông Cầu Kè, Út chạy băng băng
về báo. Nó bắn moọc-chê đuổi theo. Mỗi lần nghe éo éo trên đầu, Út
chỉ hụp xuống một chút, lại chạy. Thương anh Tịch quá, Út không
biết sợ chết là gì. Bộ đội được tin ra dàn kịp. Trận ấy, tàu sắt giặc bị

thương tháo chạy. Tây chết ục ục dưới sông. Một chiếc tàu cây[8] bị
súng "ống trúm"[9] của ta thổi thủng một lỗ bằng cái nia. Út la:
- Trám đất sét, kéo nó về để dành độc lập chạy chơi!
Tưởng nói chơi, chẳng dè các anh làm thật. Chiếc tàu được kéo
về, gỡ hết máy, chỉ còn cái bộng. Đứng dưới tàu, Út nghĩ hoài không
biết mình đã trả thù được cho anh Tịch hay chưa!
Chiến dịch hết. Đột nhiên, anh Tịch trở về. Thì ra, ở đời, con
người ta trùng tên là chuyện thường. Út trở thành cô dâu. Ngày
cưới, vui hơn Tết. Út ra điều kiện với chồng: hễ theo giặc là thôi
nhau luôn, còn đánh lộn chết bỏ cũng không thôi nhau! Anh Tịch gật.
Bộ đội kéo đến đầy một chùa. Má của Út lên ngồi ghế danh dự. Út
mặc áo mới. Chú Chín, người chỉ huy cao nhất quận Cầu Kè, ra xin
thưa với má mấy lời...
Chị Hai của Út nói:
- Phải tao biết đằng mình nổi dậy, tao nhín để bây giờ hãy lấy
chồng.
Má khóc:
- Tao có ngờ đâu đời nó bây giờ lại được vậy...
Út lên nói cảm tưởng:
- Tôi vừa được đi đánh giặc, lại vừa được chồng...
Sau đó trẻ con hát nghêu ngao lời các anh bộ đội dạy:
Ai đi chiến dịch Cầu Kè,
Về giồng Tam Ngãi, giang ghe xóm chùa,
Hỏi thăm cô Út ngây thơ,
Ngày xưa cực khổ, bây giờ thì sao?...
 

III. Trong bước khó khăn
 
Cưới xong, anh Tịch đi chiến đấu. Út ở nhà trồng dưa, lúc nào có
công tác thì chú Chín tới kêu đi. Hai năm sau, Út mười chín tuổi.
Sông bao lớn Út cũng không sợ. Út còn ao ước có một cây dừa nào
cao tới trời để leo lên ngọn theo dõi địch. Út đi bán bánh tận nhà
giam Cầu Kè, trao kế hoạch của chú Chín cho cơ sở cứu một đồng
chí huyện ủy viên bị bắt. Đồng chí đó thoát, nhưng sau đó ít lâu, Út
được tin buồn: chú Chín hy sinh.
Út khóc, kêu anh Tịch cùng đi trả thù. Lúc đó, huyện nhà đang
gặp khó khăn. Giặc đóng bót tràn lan. Sông Hậu Giang ngày nào
cũng có xác người chết. Đêm đêm, Tây đem anh em mình ra bắn ở
cầu sắt. Người làm việc trong xã chỉ còn lơ thơ. ạng Chín Đông, chủ
tịch xã, phải lánh trong chùa. Hàng ngày, Út đi bán mì nấu và nước
mía ở chợ Cầu Kè, Út đã bỏ súng sáu vào thúng mì, mang vào giữa
chợ, giao cho anh em giết thằng quận Hùm, trả thù cho chú Chín.
Việc bại lộ, thù chú Chín chưa trả, lại bị giặc rượt bắt ráo riết. Cuộc
sống hình như bị co hẹp lại, nhưng cái quyền đánh Tây thì vẫn còn
nguyên vẹn. Út tìm được một tấm hình Bác Hồ in trong tấm bằng
khen, cắt ra, giấu kỹ. Bác Hồ ở xa, Út chưa gặp Bác nhưng có Bác
thì cách mạng nhất định sẽ thành công.
Bị giặc lùng bắt, Út bồng đứa con mới đẻ lưu lạc lên Sa Đéc. ở
đó, chị lại móc được với cơ sở nội tuyến, đi tìm anh em mình vô phá
cầu, lấy bót Cai Châu. Thấy chị lạ, anh em trên đó không tin, chị đưa
tấm hình Bác Hồ ra. Đồng chí chỉ huy nhìn Út từ đầu đến chân. Út
nghèo thật, quần phèn, đầu không nón. Đồng chí đó cầm tấm hình
Bác Hồ lâu lắm, rồi hỏi:
- Chị nói thiệt chớ?
Út gật, đôi mắt sáng long lanh. Cầu Cai Châu bị đốt, đồn giặc bị
san bằng, Út lại bồng con trở về Tam Ngãi.
Tây thua to ở miền Bắc, Nam Bộ ùn ùn trỗi dậy. Du kích Tam
Ngãi bung ra, giải phóng xã nhà.

Đình chiến. Các anh bộ đội, đội nón lưới có gắn sao, kéo về đầy
nhà Út. Vợ chồng Út tiễn anh em đi tập kết, ra tận ngã ba Chà Bang.
Có bao nhiêu tiền, chị may đồ tặng anh em hết.
Út chưa lường hết được những khó khăn của người ở lại, nhưng
chị nghĩ: Trước mình đã dám đánh nó thì bây giờ chẳng có gì đáng
sợ nó.
Một buổi sáng, Út mang khoai đi chợ bán. Thằng ấn, một thằng
phản bội dắt lính tới bắt anh Tịch. Được tin, chị bỏ khoai, bồng con,
cũng chưa vội đi thăm chồng mà tìm ngay thằng ấn, chửi vào mặt
nó:
- Mày ăn của tao còn dính kẽ răng mà đã vội quẹt mỏ dắt lính bắt
chồng tao!
Bà con kéo tới. Thằng ấn cao lớn, mặt tái, đứng chết trân giữa
lộ. Đôi mắt Út dữ quá.
Chị lại bồng con vào dinh quận. Qua mả chú Chín, chị vái:
- Chú Chín, anh em mình đi tập kết vắng, nhưng còn chú, chú
phù hộ cho vợ chồng con.
Tới trước dinh quận, chị la:
- Thằng ấn khai chồng tôi làm công an xung phong giết quận
Hùm. Nhưng giết quận Hùm hỏi có gì là sai mà mấy ông bắt?
     Bà con kéo tới thật đông. Thằng quận mới đến nhậm chức,
phải ra. Út lại la:
- Quận Hùm là quân giết người, cả hai dãy phố chợ đều biết. Bây
giờ nó còn sống nhăn ở Sài Gòn. Sao mấy ông không bắt nó mà đi
bắt chồng tôi?
Thằng quận nói như ngậm sỏi:
- Gần đây vợ chồng mày có nối với Cộng sản không?
- Vợ chồng tôi nối với cục đất, với cái gánh trên vai, Cộng sản
làm sao ai biết đâu mà nối.

Chiều hôm đó, nó phải thả anh Tịch. Út ngồi ngoài hè, bồng con,
nhìn chồng ăn cơm, nghĩ: Chưa hết khó đâu! Những cái gì sẽ xảy ra
với vợ chồng Út trong thời gian tới? Út sẽ phải làm gì? Chưa biết. Út
đã trải qua nhiều cực khổ. Bây giờ cực hơn nữa chị cũng không sợ.
Hồi nào tới giờ Út có bao giờ được sướng? Nhưng bọn giặc mong
Út cúi đầu khuất phục như đời ở đợ ngày xưa thì "xin lỗi", không
được đâu! Út nói với chồng:
- Còn cái lai[10] quần cũng đánh!
 

IV. Cách mạng ở trong lòng mình
 
Đang cho con bú. Út bỗng nghe thấy tiếng gì như tiếng người
ngáy trên nóc nhà. Trời đất tối đen. Anh Tịch đi vắng. Đặt con
xuống, chị cầm lấy cái đòn gánh. Đến gần cái giàn gác góc nhà,
tiếng ngáy rõ hơn. Út chọc lên. Một con người cựa mình, rồi nhảy
xuống.
- Anh Hai!
Anh Hai ra hiệu cho Út im lặng. Đó là anh Hai Tấn, một cán bộ
cách mạng, giặc lùng bắt cả năm nay. Út vui mừng, vừa la:
- Anh còn sống thiệt hả, anh Hai?
- Tôi còn đây.
Anh cho Út biết anh đã theo anh Tịch về đây ở mấy bữa nay,
nhưng còn bí mật, chưa dám ra mắt Út, Út hỏi:
- Đằng mình vẫn còn phải không anh?
- Còn chớ đi đâu mà mất?
- Thiệt hả anh?
Út muốn reo lên. Anh Hai phải ngăn lại. Út giận anh Tịch lắm.
Sáng, anh Tịch đi đặt câu về, chị nói, muốn khóc:
     - Tôi đánh lại địa chủ, bị nó lột trần truồng, chạy về gặp anh,
giờ anh coi tôi thiếu hiểu hơn anh hả?
Anh Tịch phải năn nỉ mãi. Cũng bởi Út hay nói lô la thẳng ruột
ngựa, nên anh ấy sợ. Út biết vậy.
Anh Tịch dừng lại buồng thật kín. Ngày ngày Út đi chợ, nấu cơm
bưng tới tận chỗ cho anh Hai ăn. Bọn lính tới nhà rà rê, Út mua
rượu, gà xách sang nhà bên cạnh, dụ nó sang bên đó. Giặc bố liên
miên. Ruộng đất cách mạng cho, nó cướp lại hết. Vào nhà ai, chúng
muốn đào đâu, cạy đâu cũng phải chịu. Đêm đêm, chúng tự do bao
xóm, bắt người, tra tấn. Chúng thảy[11] vào nhà Út tấm bảng sơn

"Nhà tôi không chứa Việt cộng", bắt mua treo trong nhà. Anh Hai
vẫn ở đó. Đêm đêm, anh cùng anh Tịch đi công tác. Út ở nhà nằm
võng, đưa con, nghe ngóng, chờ cửa với một nỗi mừng vô hạn, vì
cách mạng của mình vẫn tiếp tục, hai vợ chồng Út vẫn được làm
việc. Cái công việc mà nếu phải ngưng lại một lúc nào đó thì cả hai
vợ chồng sẽ cảm thấy lẻ loi, trơ trọi, buồn khổ biết chừng nào.
ít lâu sau, anh Hai đổi chỗ ở. Lâu lắm Út không được tin gì về
anh. Một buổi chiều, đang lục cơm nguội cho con, Út bỗng thấy bọn
lính lôi anh Hai đi ngang. Út sững sờ, cái muỗng trong tay rơi xuống
đất. Anh Hai bị nó trói chéo cánh, ngực bầm đen. Anh không nhìn
Út, nhưng lại mỉm cười như chào. Nước mắt Út trào ra. Anh Tịch đi
vắng. Mình phải làm gì đây? Chị suy nghĩ mà chết đứng trong ruột.
Tới đầu xóm, bọn lính kéo vào một nhà dân, nhậu. Chúng cười
giỡn ầm ĩ. Ngoài đường chỉ có anh Hai Tấn bị trói ngồi đó và một
đám lính gác dở say. Bỏ con nằm nhà, Út mò đến. Gần tới nơi, Út
bỗng nghe thấy tiếng giặc hô hoán và bắn ầm ĩ. Anh Hai chạy được
rồi! Út mừng, trống ngực đập tưng tưng. Giặc bắt cả xóm ra đốt
đuốc, nổi trống mõ, bao giáp vòng, vạch từng kẽ lá đi tìm. Út nghĩ
anh Hai chạy ra chỗ đó chứ không đâu cả. Chỗ đó, trước đây, Út
biết rồi.
Chạy một hơi lên xóm Đậu, vòng xuống Rạch Bờ, Út mượn
xuồng đâm sang ngang. Chị vừa bơi vừa vái "ông Bổn" cho chị cứu
được anh Hai, chị sẽ ăn chay mười ngày. Đằng kia, bọn lính vẫn ra
sức tìm kiếm, bắn đùng đùng.
Cặp xuồng vào bờ, Út mò mẫm vạch tìm từ bụi cây này tới bụi
khác. Trời tối đen. ạ rô, cóc kèn cào trên mặt. Út ghé sát mặt xuống
đất vừa trườn vừa gọi:
- Anh Hai! Anh Hai! Vợ Tịch đây! Vợ Tịch đây!
Không thấy tiếng trả lời. Út trườn vào trong:
- Vợ thằng Tịch đây! Anh Hai! Anh ở đâu?
     Tiếng gọi nhẹ như hơi thở, nhưng lại mang theo một sức sống
tha thiết, mãnh liệt dâng lên trên bờ sông lạnh lẽo, khuya khoắt.

Súng giặc nổ càng gần, Út lại gọi, giọng nghẹn lại:
- Anh Hai! Anh ở đâu? Vợ Tịch đây! Vợ Tịch đây!
Từ trong bụi, tiếng anh Hai vọng ra, rất nhỏ:
- Vợ Tịch hả? Anh đây nè...
Anh bò ra. Người lạnh run. Thân thể trần trụi không còn một
mảnh vải. Út lột khăn đưa cho anh choàng. Thương anh quá, Út
đứng chết trân.
Út đưa anh qua cơ sở bên Cồn. Từ đó, anh xuống Cần Thơ.
Nhiều việc đang chờ anh dưới đó. Lúc tạm biệt anh dặn Út một câu:
- Cách mạng không ở đâu xa, ở ngay trong lòng mình.
Cũng là câu anh dặn cả bà con Tam Ngãi. Hửng sáng về đến
vàm, Út vẫn còn nghiệm câu nói đó. Câu nói như có phép làm cho
anh Hai đã đi xa mà vẫn thấy như gần.
 

V. Đã lớn khôn hơn
 
Út sanh đứa con thứ hai. Như mọi người đàn bà Tam Ngãi khác,
chị nuôi con, thương chồng, làm rẫy mướn, hàng ngày phải xấn xả
chống lại những cái gì đe dọa, chết chóc do giặc phủ lên xóm mình
nhà mình. Trong tiếng ru con, trong những lúc nhìn ra sông, người
đàn bà nghèo nào cũng đều có ý mong mỏi, chờ đợi, không nói với
ai, nhưng lại như nói với tất cả, là thời thế này nhất định phải thay
đổi, phải khác đi. Rồi tự nhiên, người ta bắt nhớ đến hồi chín năm.
Lòng người lại sôi lên, có một sự khuấy động nào đó mà những
người đàn bà thùy mị nhất, ít nói nhất cũng không thể ngồi yên
được.
Út treo thang thuốc ở đầu giường, nói với chồng:
- Bữa nay chúng nó bắt anh đi làm khu trù mật, anh cứ vận vào
thang thuốc này mà làm tới cho tôi.
Thằng đại diện tới. Út nhai cơm phun cùng nhà. Hai đứa nhỏ bị
mẹ ngắt, khóc om sòm. Anh Tịch vin vào cảnh vợ bệnh, con thơ,
không đi. Cả xóm đều làm theo Út, không ai đi.
Thằng đại diện bắt cả xóm phải hầm[12] gạch, chở đi khu. Hầm
xong, Út nói với nó:
- Cầu xóm mới bắc, chưa có mang cá. Ba cái gạch nầy chở đi
khu thì hai cái mang cá nầy để cho ai? Sẵn gạch đây ta trám vào,
cầu bắc xong, ông có việc quan ông đi một hơi từ Bà Mi về Cây
Sanh cho nó khỏe, khỏi xuống xe.
Thằng đại diện ra ngắm nghía một hồi, rồi gật. Đàn ông khỏi phải
chở gạch đi khu, bà con trong xóm được lợi cây cầu.
Từng chút một, Út giữ chặt lòng mình với cách mạng như vậy.
Năm đó, 1959, Tam Ngãi nghèo lắm, đất đai chui dần vào tay những
bọn như Hàm Giỏi. Giặc rêu rao chúng đã bắt được người này, giết
được người kia. Tam Ngãi đói. Khoai tháng bảy cũng không đủ ăn.

Nhà không còn hột gạo. Út bồng con theo chồng xuống Kế Sách làm
mắm.
Một hôm anh Tám Táo, người mới vượt ngục ra, công tác ở Kế
Sách đến nhà Út chơi, than:
- Mình binh vận được sáu thùng đạn, nó đã mang ra ngoài rào
bót rồi mà không sao vô lấy được.
Út vừa cho con ăn, vừa nói:
- Tôi lấy cho!
Chị mượn lưỡi hái, bơi xuồng đến bót, kêu:
- Ông xếp ơi, cho tôi cắt cỏ nghe!
Cắt cỏ thì sạch bót, nó cho ngay. Út men theo rào. Mấy thằng
lính ghẹo: "On Sro-lanh boòng-tê? "[13] rồi cười rộ lên. Út trả lời: "Tê"
[14] nhưng mắt Út vẫn không rời hàng rào. Vào tới đây, Út mới thấy
gay go. Lấy đạn ra, bị lộ, nó cũng bắn. Gặp bọn lính phản vận, mình
vô lấy, nó cũng bắn. Nhưng phải lấy. Đằng mình sắp nổi dậy. Một
thùng đạn lấy được lúc này là cả tỉnh được nhờ. Ngồi cắt cỏ từ sáng
tới trưa, chịu cho bọn lính chọc ghẹo, Út mới tìm ra dấu vết. Lần
lượt, cả sáu thùng đạn được Út ôm lẫn với cỏ, xếp xuống xuồng,
chở về.
Từ giã Kế Sách, Út cùng chồng trở về Tam Ngãi với một xuồng
lỉnh kỉnh gạo, mắm, đồ làm cá và tất cả những gì thu vén được của
một người đàn bà tần tảo. Thêm vào đó, một đứa con mới ra đời.
Nhưng trên hết vẫn là chút việc cách mạng mà Út vừa làm được
trong lúc đi làm ăn xa. Giờ đây, trên đường về, sự sung sướng đó
càng trở nên náo nức hơn vì Út được tin quê nhà đã bắt đầu đồng
khởi.
Về tới nhà, anh Tịch nhào đi du kích. Út lại đi trinh sát, lại leo lên
ngọn dừa, giống như hồi xưa. Chỉ khác là bây giờ nhìn được xa
hơn, chắc hơn. Trận Bạch Chiếc, Út ra dấu cho các anh diệt cái ghe
thằng cảnh sát, giết năm thằng, lấy súng. Rồi trận Vườn Dơi. (Đó là
cái vườn đầy dơi quạ của nhà tổng Lâm). Sáng hôm ấy, Út đi chợ,
bỗng thấy giặc từ ba mặt đổ vô, đếm được ba trăm thằng. Út chạy

vô nhà dân, mượn xe đạp phóng về. Chỉ kịp vứt cái xe ở cửa chùa,
Út chỉ hướng giặc sẽ đi và đề nghị anh em mình đón đánh. Trận đó,
mình đánh từ sáng tới chiều. Mỗi lần cái cù ngoéo của thằng chỉ huy
giặc huơ lên, Út lại thấy bọn lính bò lên như vịt xiêm. Đến lúc bị
mình bắn chết, nó cũng giãy lên như vịt xiêm bị cắt cổ vậy. Mấy lúc
Út nhảy lên, mấy lần các anh nắm giò lôi lại. Có một anh bị thương
buông cây trung liên, Út chạy lên, chụp lấy súng.
Đánh xong, Út quay trở lại thăm dò. Tất cả có chín chục thằng
vừa chết vừa bị thương nằm ngoài đồng. Lần đầu tiên, Út thấy giặc
chết nhiều như vậy. Đáng kiếp những ngày nó muốn bắn ai thì bắn,
bỏ tù ai thì bỏ. Út nhận xét rằng đằng mình đã nổi dậy tựa như hồi
đánh Tây, nhưng bây giờ mình khôn hơn, bản thân Út cũng đã trở
thành người mẹ ba con rồi còn gì!
 

VI. "Nghe đây! Loa báo đầu giồng: đàn bà đoạt
bót, tay không mới tài!"
 
Đó là hai câu thơ ông Sáu Hò đặt cho tổ gọi loa của ấp để mở
đầu một bản tin. Nguyên do như thế này:
ạng Chín Đà, cán bộ Mặt trận, nói với Út:
- Thím có lời lẽ, đi phụ với bà con đấu tranh.
Mười lần đi, mười lần Út bị đánh. Một lần, thằng quận hỏi:
- Con nào đầu đảng?
Thằng lính đằng sau trả lời thằng quận bằng cách thúc mũi súng
vào lưng Út. Lần khác, thằng quận hỏi:
- Chồng mày đâu?
Út trả lời:
- Đi lính trên Sa Đéc.
- Sao không đi theo chồng làm vợ lính chân giày chân dép?
- Vợ cũng không bằng mẹ. Mẹ của lính cũng bị quan bắt ngồi
phơi nắng ngoài kia.
Út chỉ cho thằng lính Độ thấy bà mẹ nó đang ngồi ngoài sân.
Thằng quận đánh Út một trận bằng roi mây. Lúc đó, chị đang có
thai đứa con thứ tư. Về, Út nói với ông Chín Đà:
- Tôi bị đòn từ tám tuổi. Tôi không sợ đòn. Nếu không nhớ
đường lối, chắc tôi đánh nó rồi.
ạng Chín chuyển sang giao cho Út thăm dò bót Tám Thế. Bót
Tám Thế đóng ở giữa giáp ranh hai xã Tam Ngãi, An Phú Tân,
khống chế cả hai bên, hỗ trợ cho bọn địa chủ Cầu Kè lấy thuế, thu
tô.
Chiều chiều Út rủ Phượng, Œn, hai cô gái đẹp nhất xóm ra rà rê
trong đám dưa cạnh bót. Cũng tính thả giỡn sóng[15] với nó, nếu

được thì giật súng.
Bọn lính thằng nào cũng giống thằng nào, thấy gái là kéo ra. Út
về báo với ông Chín:
     - Đám nầy "háo chua" lắm, bót nầy lấy được.
Út về nói với chồng:
- Tôi nhứt định lấy cái bót này, nhưng lỡ phải đem thân ra cho nó
giỡn hớt, giày vò, anh chịu không?
Anh Tịch nói:
- Em làm sao được cứ làm.
Anh chân tình như vậy. Út thấy thương chồng vô cùng. Mình hy
sinh thân mình được rồi, nhưng anh ấy là chồng... Làm sao xẻ được
nỗi đau lòng ấy của anh để Út xin gánh chịu một mình. Út nhớ đến
chú Chín Luông, thầm cám ơn chú đã kiếm cho mình một người
chồng thật tốt.
Đêm ấy, Út hỏi chồng lần nữa. Anh nhìn Út, cười. Nụ cười hiền
hậu và ánh mắt đầy tình thương như mỗi lần anh trở về sau một trận
đánh. Út yên tâm đi công tác. Chiều nào chị cũng rủ Phượng, Œn ra
đám dưa, bỏ giùm hột. Cô Phượng, gốc người Khơ-me, trắng trẻo,
cô gái không mở
miệng thì thôi, mở miệng là cười. Cô Œn có duyên ngầm, nói
chuyện rất khéo. Cả hai cô đều gan, không biết sợ là gì. Út phụ
trách Tám Thế, lớn tuổi, xếp bót. Hai cô gái phụ trách hai thằng lính.
Chiều về, ba người lại báo cáo với ông Chín. ạng Chín gom ý lại,
ngồi suy tính, rồi hướng dẫn ngày mai nên nói gì.
Cả mười hai thằng giặc đều hám hơi Út và hai cô gái. Dưa bỏ
hột xong, hết cớ để ra, ba người xoay ra cắt cỏ quanh đám dưa. Cắt
xong, mang xuống sông để bỏ, nhà có bò đâu mà cho ăn. Lúc cả ba
người sắp ngả theo mình thì dưa lên cao. Chủ đám dưa không cho
ba người vào, họ nói dưa gặp hơi đàn bà, thúi gốc. Út nói với Tám
Thế:

- Chừng nào tiện, mấy anh bắn ba phát súng báo hiệu kêu mấy
em vô bót chơi nghe.
Tám Thế làm thật. Ngày nào cũng đuổi vợ đi chợ. Ba người vào
được bót.
Công việc đang chạy, đùng một cái, má cô Phượng không cho đi.
Bà không thích Út đến rủ con bà đi làm những điều "kỳ cục". Út đến
năn nỉ:
- Nhà tôi bốn đời thù giặc, thím không tin tôi sao?
Út phải chạy đi viện cả ông Chín Đà tới nói.
Cuộc tấn công lại tiếp tục.
Nhưng Tám Thế vẫn không chịu giao bót cho ta. Út nghĩ: "Tao đã
nói lấy bót là lấy, đâu có chịu thua mày!" Út cùng với hai cô về bàn
với ông Chín, tổ chức một bữa nhậu ở một nhà cạnh bót.
Tám Thế có tật nhậu vô nửa ly là Long Xuyên y nói ra Châu Đốc.
Tiệc nửa chừng, Út nói:
- Anh Tám à, người ta nói làm lớn láu ăn, đúng à. Sao anh không
kêu anh em ra nhậu?
Y kêu hết bọn lính ra, chỉ chừa một thằng gác kho súng ở
chuồng cu. Ba anh du kích cải trang đi ngang. Út giả đò kêu vô luôn.
Bọn lính bắt đầu say. Đã đến lúc phải đánh rồi mà ruột Út rối như tơ,
không biết làm sao kêu được thằng gác chuồng cu xuống. Để cho
Phượng, Œn kềm chúng, Út lẻn lại bót, kêu:
- Anh gác à, lấy thêm rượu cho ông sếp.
Nó không chịu xuống. Út lại nói:
- Anh không xuống thì chỉ chỗ tôi lấy cho.
- Chị không lấy được.
- Sao không? Bót này, trên Tám Thế, dưới tôi, chớ còn ai nữa.
Út nghĩ: "Tao có hy sinh thì bốn con tao nhân dân nuôi chớ không
lo gì!" Thằng gác bị chọc giận, xuống. Út giả lả, vừa cười vừa tuột

cây súng trên vai nó:
- Anh đưa tôi gác cho, vô lấy rượu đi...
Thằng lính giữ lại. Út giả đò lôi ra, rồi bất thần giằng mạnh một
cái, cây súng gọn trong tay.
- Đầu hàng thì sống! Giơ tay lên.
Thằng lính ngơ ngác, mặt tái xám:
- Thiệt sao chị Út?
- Không giơ tay tao bắn!
Thằng lính giơ vội tay lên như bị phỏng. Út bắt nó đứng ra một
góc rào để cho nó không rượt được mình rồi thót lên chuồng cu, ra
hiệu cho anh em mình phục bên ngoài vô lấy bót. Bọn lính tay
không, nhậu ở đằng kia, ta chỉ việc bao lại, chong súng vào bụng trói
dắt về. Bót Tám Thế bị diệt gọn không nổ một phát súng. Dọc
đường về, ba tên lính nhìn ba "người yêu" của mình, mặt mũi như
chó ăn vụng bột.
     Tám Thế có hai đời vợ. Vợ lớn của y đã bỏ đi lấy lão từ đốt
đèn cầy cho bàn thờ "chúa" ở bót nhà thờ Bà Mi. Vợ sau này mới
lấy, y để sống chung trong bót. Mụ này đã mấy lần ghen đến tắc cổ
với Út. Đánh xong, Út kêu cả hai vợ chồng lại nói:
- Tôi vì dân giết giặc đã xong, nhiệm vụ tôi làm tròn, giờ chồng
chị tôi trả chị.
Vợ Tám Thế đỏ mặt, líu ríu:
- Dạ, em biết rồi...
Út nói vậy để cho mụ yên tâm thôi chớ mụ hiểu sao nổi câu "vì
dân giết giặc".
 

VII. Có ai đánh giặc mà chờ sanh xong mới
đánh?
 
Con Bé, con gái lớn của Út, đã tám tuổi. Nó ốm nhách, mà
nhanh, cha mẹ đi công tác, ba em ở nhà nó bao[16] hết. Nó chạy đầu
này ru đứa nhỏ ngủ, chạy đầu kia lôi đứa lớn đi tắm. Nhà hết gạo,
nó dắt em sang ăn cơm bên hàng xóm. Những việc gì nó không làm
nổi: sửa lại mái nhà dột, hoặc bện lại cặp dây võng, người mẹ về
làm cho nó. Mỗi buổi mẹ về, nó lại biết thêm vài việc.
Út có một đàn con như vậy. Bây giờ chị lại đang có thai.
Mỗi lần cầm lấy súng, lòng Út lại chộn rộn như người làm không
hết việc. Bót Tám Thế vừa bị diệt, giặc lại quay sang đóng bót mới ở
ấp Ba. Mặt mũi chúng chườn ườn ra đó, không đánh chúng không
yên. Chính vì vậy nên Út về nhà một lát, lại muốn đi. Ru con được
vài câu, chị lại trao nó cho con Bé. Chiều hôm trước, nhân dân cho
Út hay bọn lính bót ấp Ba mới lãnh lương, tám thằng đi chơi chợ
Cầu Kè, chiều nay nó sẽ về. Út báo cáo với ông Chín. ạng Chín lựa
mấy anh du kích thiệt ngon, cùng Út ra đón đánh. Sau khi đạp xe đi
rảo nắm tình hình, Út quay về dặn anh em:
- Đánh xong bọn này khoan rút. Chờ bọn hiến binh xuống tiếp
viện, đánh nữa. Nó còn năm thằng để tiếp viện thôi.
Nổ súng, Út cũng ngồi đó, mặc dù tay không. Thấy tám thằng
giặc còn bắn hoài, Út nóng lắm. Chợt anh bắn trung liên tự tạo bị
thương tay. Út vụt lên chụp súng. Súng đụng hàm sanh làm Út muốn
đứt lưỡi. Út hô lớn:
- Hỏa lực xiên hông đâu, tạt lên!
Út bắn một phát, một thằng chết nhảy dựng, Út lại la:
- Nó "lâm thôn"[17] rồi! Đánh tới, anh em ơi!
Tất cả đều la rần rần. Bọn giặc đâm hoảng. Chúng tạt xuống mé
vườn. Anh em nằm đó lại nã vào hông chúng, gục thêm ba thằng
nữa. Còn một thằng toan chọi lựu đạn. Út nhảy lên thọc cây trung

liên tự do vào ngực nó. Nó giơ tay. Thực ra cây súng của Út bị kẹt từ
nãy rồi.
Thu súng xong, Út vừa giở trầu ra ăn, thì anh em nghe lầm lệnh
ai, rút mất. Một lát, năm thằng hiến binh xuống lấy xác. Út tay không,
ngồi trong bụi, dòm ra, tức muốn nổ mắt.
Trận đó, mười hai thằng lính vừa đến thay thế bọn lính bót Tám
Thế lại bị chụm hết sáu.
Thằng quận trưởng Cầu Kè tức, bổ sung thêm sáu thằng khác.
Nó cương quyết đóng lại bót ấp Ba. Đích thân nó ngồi xe gíp, có xe
nồi đồng hộ tống, vô thăm bót hàng ngày. Cấp trên quyết định đánh
nó tại chòm Dừa.
Trận này, cái thai đã lớn rồi nhưng Út cũng đòi đi. ạng Ba Tê,
mới thay ông Chín Đà, nói:
- Bụng dạ vầy mà đi đâu?
Út trả lời:
- Tôi có bụng vầy nhưng tôi khỏe. Mấy anh đào giùm công sự.
Súng nổ mặc tôi.
Nằn nì mãi không được, Út muốn khóc.
Đến lúc xung phong, anh em thấy một người nhỏ con, bới tóc,
nhảy tưng tưng đằng trước, họ mới biết có "Út Tịch" đi theo. Út cũng
...
 
Gửi ý kiến