Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

CÂU CHUYỆN VỀ NGỌN NÚI BÀ GIÀ MÙ

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 09h:31' 20-02-2024
Dung lượng: 477.0 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
179

Mục lục
1. CÂU CHUYỆN VỀ NGỌN NÚI BÀ GIÀ MÙ
2. Một
3. Hai
4. Ba
5. Bốn
6. Năm
7. Sáu
8. Bảy
9. Tám
10. Chín
11. Mười
12. TRUYỆN NGẮN
13. Rùa trắng
14. Bầy chim chìa vôi
15. Bông hoa nước
16. Xứ sở cây ổi còng
17. Người cha

CÂU CHUYỆN VỀ NGỌN NÚI
BÀ GIÀ MÙ

MỘT
Tôi chưa bao giờ có dịp được đi một chuyến thật xa khỏi làng. Bởi
thế tôi không biết những nơi khác trên thế giới này như thế nào.
Nhưng tôi luôn tin rằng: làng tôi là một làng quê đẹp nhất thế gian.
Có một điều kỳ lạ là trên cánh đồng phẳng lỳ ven sông của làng lại
mọc lên một ngọn núi. Hồi còn sống, bà tôi thường bảo ngọn núi ấy
chỉ mọc lên trong một đêm.
- Bà nhìn thấy à? - Lúc nào tôi cũng hỏi bà tôi câu ấy.
- Bà đẻ ra thì đã thấy ngọn núi rồi. - Bà tôi nói.
- Thế ai nhìn thấy ngọn núi mọc lên? - Tôi lại hỏi.
- Cụ kỵ cháu nhìn thấy.
Tôi chỉ biết bà nội tôi thôi, còn cụ kỵ nhà tôi thì tôi không được nhìn
thấy bao giờ. Tôi chỉ biết những nấm mộ của dòng họ tôi mọc san
sát bên nhau như không bao giờ hết, dưới chân núi mọc đầy hoa
cúc dại vào mùa thu. Dưới chân ngọn núi có một bà già mù sống
cùng một con chó trắng trong một ngôi miếu hoang. Bà già mù
không có con cháu gì và hình như bà cũng chẳng có ai thân thích.
Bà sống với một con chó trắng. Bà làm nghề hái thuốc và trồng ngô,
sắn trên những rẻo đất nhỏ ven chân núi. Thi thoảng bà cũng vào
trong làng để xem bệnh cho một ai đó. Mẹ tôi bảo hồi còn bé, tôi bị
bệnh hen, cứ khi thời tiết thay đổi là tôi nằm bệt trên giường mà thở.
Bà già mù đã đến xem bệnh cho tôi. Rồi bà cho mẹ tôi mấy nắm lá
để mẹ tôi sao vàng sắc nước cho tôi uống. Uống hết mấy nắm lá
của bà, bệnh hen của tôi hoàn toàn biến mất cho đến bây giờ. Nhiều
lần mẹ bảo tôi ra thăm bà vào những ngày nghỉ học để xem bà cần
gì thì giúp. Thế nhưng tôi chưa một lần nào bước vào ngôi miếu
hoang để thăm bà. Đã có đôi ba lần tôi bò đến sát tường ngôi miếu
và hé mắt qua khe hở của cánh cửa sổ nhìn vào bên trong. Trong
ngôi miếu nửa sáng nửa tối, tôi thấy bà già mù ngồi bất động nhìn

ra cửa, đôi mắt bà đục trắng. Bên cạnh bà là con chó trắng. Bỗng
bà từ từ quay mặt về phía tôi. Đôi mắt đục trắng của bà như nhìn
thấy tôi. Tôi không đủ dũng cảm để nhìn thẳng vào đôi mắt bà. Tôi
vùng bỏ chạy. Con chó trắng sủa mấy tiếng và đuổi theo tôi. Tôi
chạy trong nỗi sợ hãi đến ríu cả chân và ngã xuống.
Về con chó trắng của bà già mù, lũ trẻ chúng tôi đã tranh cãi nhau
rất nhiều. Cuối cùng chúng tôi tạm thời thống nhất với nhau rằng:
Con chó trắng đó chính là con ma chó trắng mà người làng tôi vẫn
thường gặp trong những đêm khuya khoắt ở bãi tha ma dưới núi
hay trên con đường chạy ra bờ sông. Con ma chó trắng luôn luôn
thay hình đổi dạng trêu chọc người làng. Có một người đàn bà làng
tôi một lần đi chợ xa về thấy một đứa bé còn đỏ hỏn đặt bên vệ
đường ven chân núi bèn bế lên mang về nhà nuôi. Đi được một
đoạn đường, người đàn bà nghe tiếng rên ư ử bèn nhìn xuống.
Người đàn bà thất kinh nhận ra mình đang bế trên tay một con chó
trắng. Con chó nhe hàm răng nhọn hoắt với nước dãi chảy dòng
dòng và đôi mắt đỏ ngầu nhìn người đàn bà. Sợ quá, người đàn bà
quăng con chó xuống và bỏ chạy. Sau đêm ấy, người đàn bà lên
cơn sốt và trở thành người mắc bệnh tâm thần. Chuyện người đàn
bà mắc bệnh tâm thần chỉ là một trong bao nhiêu chuyện về ma chó
trắng. Theo người làng tôi bà già mù có thể biết mọi chuyện trong
quá khứ và tương lai. Bà nội tôi bảo đó là bà bói mù. Còn chị tôi
đang học trên phố huyện gọi bà là nhà tiên tri. Nhưng câu chuyện
về một kho báu được chôn giấu trong một cái hang trên ngọn núi
mà suốt đời này qua đời khác bao nhiêu người tốn công tốn của tìm
kiếm kho báu ấy mà không thấy là câu chuyện luôn luôn ám ảnh lũ
trẻ con chúng tôi nhiều hơn cả. Hầu như đứa nào cũng mơ tìm thấy
kho báu ấy. Những buổi tối không phải học bài, chúng tôi thường tụ
tập quanh gốc đa đầu làng chơi trận giả. Và lúc nào cũng như lúc
nào, chúng tôi lại ngồi tựa gốc đa sau khi chơi chán mọi trò và nói
chuyện với nhau về kho báu ấy.
- Kho báu chứa gì ở trong nhỉ? - Thằng Phàn Phệch hỏi.
- Vàng chứ còn gì. - Một đứa nào nói.

- Nhiều không? Phàn Phệch hỏi với một bộ mặt ngơ ngẩn như đang
quá mê mẩn.
- Hàng tấn.
- Tao chỉ cần một cân.
- Mày cần vàng để làm gì?
- Mua bi ve.
Có lẽ không ai mê bi ve như Phàn Phệch. Một ông chú của Phàn
Phệch làm việc trên tỉnh cho Phàn Phệch một viên bi ve nhiều màu.
Nó khâu một cái túi từ một miếng vải để đựng viên bi. Riêng viên bi
đó nó không bao giờ dùng để chơi với chúng tôi. Nó giữ viên bi chỉ
để ngắm. Một trong những công việc mê mải hết tháng này năm nọ
của bọn trẻ chúng tôi là mài bi. Chúng tôi thường đến chân núi tìm
những viên sỏi hoặc đá khá tròn về và mài thành bi. Có lần mẹ tôi
bảo "Chúng mày cứ mài bi nhiều như thế này rồi sẽ hết cả quả núi".
Phàn Phệch có thể ngồi cả ngày mài những hòn cuội hay những
viên đá xanh thành bi. Hai cái túi áo của nó lúc nào cũng sệ xuống
vì những hòn bi. Sau câu trả lời của Phàn Phệch, một đứa lên tiếng:
- Thế thì mày mua được một tấn bi ve.
- Nhiều thế cơ à? Phàn Phệch mơ màng rồi nói tiếp. - Nhưng làm
thế nào mà tìm thấy kho báu.
- Bà tao bảo bà già mù biết đường vào kho báu ấy. - Tôi nói.
- Thật à? - Bọn trẻ cùng cất tiếng hỏi.
- Thật. - Tôi trả lời với một giọng quan trọng.
- Sao bà ấy không lấy vàng mà bán nhỉ?
- Để làm gì? - Phàn Phệch lại hỏi.
- Để mua gạo chứ làm gì. Bà ấy toàn ăn côn trùng.

- Khiếp thế.
- Bà ấy có phép gọi côn trùng bay về và bắt ăn thịt.
- Hay bà ấy là ma?
- Ma làm sao mà sống chung với chó được. Mẹ tớ bảo ma sợ chó
lắm. Làng nào mà không nuôi chó thì tối đến ma về bắt cả làng.
- Thế bà ấy là gì?
Thường là sau câu hỏi ấy chúng tôi đều im lặng. Chẳng đứa nào trả
lời được câu hỏi ấy. Chúng tôi trở về nhà. Những buổi tối như thế tôi
thường khó ngủ hơn. Tôi nằm im lặng trên chiếc phản gỗ đã bị mọt
nhiều chỗ và lắng nghe tiếng chó sủa xa gần trong đêm.
Khi bà nội tôi còn nhỏ thì đã có một bà già mù sống dưới chân núi.
Đến khi mẹ tôi sinh ra và lớn lên cũng vẫn có bà già mù sống cùng
con chó trắng. Và đến khi tôi sinh ra, lớn lên tôi cũng lại thấy bà già
mù sống ở đó. Những câu chuyện của người làng tôi về bà già mù
luôn quyến rũ chúng tôi bằng cả nỗi sợ hãi. Có người bảo bà không
ăn cơm như mọi người mà chỉ ăn côn trùng để sống. Đã có lần, có
những đứa trẻ liều lĩnh lẻn vào ngôi miếu khi bà già mù đi vắng để
mở nắp vung cái nồi đất dùng nấu ăn của bà xem có phải bà ăn côn
trùng không. Nhưng cuộc thám hiểm của lũ trẻ bị thất bại vì con chó
trắng phát hiện. Bọn trẻ đã chạy bán sống bán chết mới thoát được
cuộc săn đuổi của con chó trắng. Và thế là bí mật về việc ăn côn
trùng của bà già mù vẫn là bí mật. Tôi thực sự không làm sao hiểu
được những câu chuyện về bà già mù. Tôi hỏi mẹ:
- Thế bà già mù bây giờ có phải là bà già mù ngày xưa không mẹ?
- Bà già mù ngày trước chết rồi. - Mẹ tôi cười - Ai mà sống dai được
như vậy.
- Bà già mù này là con bà già mù kia à?

- Là con, nhưng không phải bà ấy đẻ ra. Bà già mù không có chồng.
Bà ấy xin một đứa bé mù ở bên kia sông về nuôi.
- Sao bà ấy lại không nuôi một đứa bé không mù? - Tôi băn khoăn
hỏi.
- Mẹ cũng không biết, nhưng có lẽ bà ấy mù nên bà ấy thương
những đứa bé mù.
- Bà nội nói bà già mù ấy biết được kho báu chôn trong lòng núi, có
thật thế không mẹ?
- Mẹ cũng nghe người ta bảo thế. Bao nhiêu người gạ gẫm bà già
mù mách họ nơi chôn kho báu, họ hứa cho bà cả một đống tiền.
Nhưng bà già mù không chỉ cho ai cả. Nghe đâu bà nói với những
người đã đến gặp bà rằng: Bà sẽ chỉ cho một người biết kho báu ấy,
nhưng không phải họ.
- Ai sẽ được bà ấy chỉ cho kho báu? - Tôi hỏi và hồi hộp đợi câu trả
lời của mẹ.
- Mẹ cũng không biết, mà biết đâu người đó lại chẳng là con.
Mẹ tôi cười và xoa đầu tôi. Sau câu nói của mẹ, tôi bàng hoàng
sung sướng. Chiều ấy tôi lang thang đến chân núi. Nhưng không
dám bước đến gần ngôi miếu hoang. Tôi thường mơ những giấc
mơ về bà già mù ăn côn trùng. Tôi mơ thấy bà huơ hai tay lên trời
và hú dài. Ngay lập tức côn trùng từ núi bay về làm tối đen cả bầu
trời. Cả ngôi miếu hoang nơi bà già mù ở tràn ngập côn trùng. Đủ
loại côn trùng bò lổm ngổm trên nền miếu. Bà già mù vừa gầm gừ
vừa bắt những con con trùng bỏ vào miệng nhai rau ráu. Tôi mơ
thấy chúng tôi tìm được cái hang chứa kho báu. Vàng chất đầy
trong hang. Từ đống vàng một thứ ánh sáng như lửa tỏa ra rừng
rực. Đứa nào cũng phải lấy tay che mắt vì chói. Phàn Phệch nhảy
bổ vào đống vàng và vội vàng nhặt một thỏi vàng bỏ vào túi. Bỗng
nó kinh hoàng nhận ra một ngón tay của nó đã rụng xuống. Ngón
tay ngoe nguẩy như một con giun rồi chui xuống đất. Sau phút kinh
hoàng nó lại nhặt một thỏi vàng khác bỏ vào túi.

Cũng giống như lần trước, một ngón tay khác của nó lại rụng xuống
nền đất và ngoe nguẩy. "Vứt vàng đi, vứt vàng đi". Một đứa kêu lên.
Phàn Phệch kinh hãi nhìn bàn tay của nó đã rụng mất hai ngón. Nó
hấp tấp lấy một thỏi vàng trong túi ra và ném trả vào đống vàng. Từ
dưới đất, một ngón tay của nó chui lên và vụt dính vào bàn tay nó.
Tất cả lũ trẻ chúng tôi bàng hoàng trước cảnh tượng ấy. "Vứt vàng
đi, vứt vàng đi". Tất cả chúng tôi kêu lên. Phàn Phệch vội móc túi
lấy thỏi vàng còn lại vứt đi. Một ngón tay lại từ đất chui lên và dính
vào bàn tay nó. Phàn Phệch giơ bàn tay lên. Bàn tay nó đã lành lặn
như cũ. Mồm nó méo xệch và rồi bật khóc hu hu. Nó quay đầu chạy
ra khỏi hang. Lũ trẻ chúng tôi hoảng sợ chạy theo.
Sau những giấc mơ như thế, ngọn núi càng trở nên bí ẩn với chúng
tôi. Nhưng với những đứa trẻ chúng tôi, càng bí ẩn bao nhiêu thì sự
tò mò của chúng tôi tăng lên bấy nhiêu. Chúng tôi từng bàn với
nhau tiến hành khám phá kho báu khi chúng tôi nghỉ hè. Năm nào
nghỉ hè chúng tôi cũng lang thang suốt ngày trên núi. Lâu nay, ngọn
núi làng tôi cũng đã là một thế giới bí ẩn và kỳ diệu với chúng tôi.
Trên núi có rất nhiều tổ ong. Những tổ ong to như một cái quạt mo
treo lơ lửng trên cành cây. Mỗi một tổ ong ấy đủ cho chúng tôi có
một bữa tiệc đã đời với sáp ong và ong non. Rồi quả tóc tiên, quả
vú bò, quả gáo... Chúng tôi từng nấp dưới những gốc cây vào cuối
chiều để xem bầy chim trở đập cánh như có bão trên những vòm lá.
Chúng tôi đã từng ngắm nhìn mê mải những quả trứng nhiều màu
trong các tổ chim vào mùa đẻ trứng. Nhất là vào khi lũ chim non ra
đời. Thằng Phàn Phệch đã có lần bắt trộm đầy hai túi áo chim non.
Chúng tôi phát hiện ra điều ấy vì những con chim bố, chim mẹ bay
quần đảo trên đầu Phàn Phệch và kêu căm giận. Thỉnh thoảng có
con chim bố và chim mẹ gì đó lao xuống đầu Phàn Phệch. Nó bỏ
chạy. Bầy chim đuổi theo. Chúng tôi bắt Phàn Phệch phải trả lại
những con chim non về tổ của chúng.
- Mày bắt chim non làm gì? - Một đứa hỏi:
- Tao bắt để nuôi - Phàn Phệch nói.
- Mày không sợ ma chim mổ mắt à?

- Tao đếch sợ.
Nhưng ngay sau đó Phàn Phệch im lặng. Tôi tin chắc nó sợ ma
chim. Làng tôi ai cũng biết ối chuyện ma chim. Ma chim bay chập
chờn trong đêm. Người lớn hay mang chuyện ma chim ra để dọa
những đứa trẻ nheo nhẻo khóc đêm. "Nhắm mắt lại ngủ đi kẻo ma
chim mổ vào mắt đấy". Tôi chưa bao giờ nhìn thấy ma chim. Nhưng
tôi đã nghe thấy tiếng chim kêu của con chim lợn. Bà tôi bảo: "Hễ
chim lợn kêu ở đâu là ở đó có người chết". Bởi thế mỗi lần nghe
tiếng chim lợn thét lên trong đêm, tôi lại hỏi bà: "Làng mình ai chết
hở bà?". Bà tôi bảo: "Không có ai chết cả". Tuy bà tôi nói vậy nhưng
tôi vẫn nơm nớp sợ nhỡ bà tôi chết thì sao. Và tôi vừa sợ vừa ghét
con chim lợn.
Cuối cùng thì Phàn Phệch cũng trả lại mấy con chim non về tổ của
chúng. Nhưng nó vẫn giấu một con trong túi quần mang về. Những
con chim bố mẹ đã theo Phàn Phệch về tận nhà. Chúng sà đậu trên
mái nhà Phàn Phệch kêu đến khản giọng. Đêm ấy chúng ở lại trên
cây dâu da nhà thằng Phàn Phệch và kêu suốt đêm. Nghe chim
kêu, bà thằng Phàn Phệch nói: "Mấy con chim này là ma hay sao
mà kêu ghê thế", Phàn Phệch thấy sợ, nó hỏi: "Có ma chim thật hở
bà?". Bà nó đang mơ mơ màng màng ngủ, nói: "Có". Thế là Phàn
Phệch không dám ngủ. Cuối cùng nó mang con chim non, mở hé
cửa vứt ra ngoài sân. Sáng hôm sau thức dậy chạy ra sân. Nó thấy
con chim non nằm chết trên sân bị kiến bu đầy. Từ ngày ấy, chẳng
bao giờ Phàn Phệch bắt trộm chim nữa.

HAI
Những ngày nghỉ hè năm nay vẫn đến như mọi năm nhưng chúng
tôi thấy thời gian chậm chạp vô cùng. Bởi năm nay bọn trẻ chúng tôi
có một kế hoạch đặc biệt. Đó là kế hoạch truy tìm kho báu. Những
buổi tối đầu hạ thật tuyệt vời. Trời đầy sao. Những ngọn gió thổi qua
sông mang hơi nước làm những đêm đầu hạ mát mẻ và rộng lớn.
Từ những vòm cây lớn trên núi, tiếng ve râm ran vọng về. Chương
trình bắt ve đêm trên núi năm nay đối với chúng tôi ít hấp dẫn hơn.
Sau bữa cơm tối, chúng tôi tập trung dưới gốc cây đa đầu làng.
Đêm nay chúng tôi tiến hành một phi vụ đặc biệt. Chẳng là quanh
ngôi miếu cổ, bà già mù trồng rất nhiều dưa gang. Những quả dưa
mỡ màng nằm như những con lợn bột. Dưa gang chấm với muối ớt
thì quả là một món ngon không để đâu cho hết.
Khi đến gần ngôi miếu bà già mù ở, chúng tôi nhận thấy trước cửa
miếu có một ngọn đèn.
- Bà già mù thắp đèn làm gì nhỉ? - Một đứa hỏi.
- Tối thì phải thắp đèn chứ còn gì. - Một đứa trả lời.
- Nhưng bà già mù thì có đèn hay không cũng chẳng sao. - Đứa kia
cãi lại.
- Ừ nhỉ.
Lời giải thích ấy làm cho cả lũ chúng tôi im lặng một lúc. Rồi một
đứa lên tiếng: "Chúng mình thử đến đó xem sao đi. Nhưng chúng
mày phải bò thật khẽ. Con ma chó mà biết thì có mà chạy đằng
trời". Khi đến gần vườn sắn thì chúng tôi bắt đầu bò. Cả bọn bò nối
nhau dọc những luống sắn. Ngôi miếu mỗi lúc một rõ. Và chúng tôi
nhận ra bà già mù đang ngồi giữa sân trước cửa miếu. Trước mặt
bà là ngọn đèn bão và một cái chậu sành. Mặt bà ngước lên cao.
Nhưng hai tay bà liên tục nhặt cái gì đó trong chiếc chậu sành. Bọn
trẻ chúng tôi không ai bảo ai đều nhổm dậy nhìn về phía sân miếu.

Bỗng Phàn Phệch cất giọng thì thào pha một chút sợ hãi: "Hình như
bà ấy đang làm phép bắt côn trùng". Câu nói của Phàn Phệch làm
chúng tôi bỗng run lên. Con chó trắng đang quanh quẩn bên bà già
mù bỗng ngẩng đầu nhìn về phía chúng tôi đánh hơi và khẽ gầm gừ
trong họng. Bà già mù vỗ nhè nhẹ lên đầu con chó. Có đứa nào
định bỏ chạy. Tôi vội nói khẽ: "Không được chạy, chạy con chó nó
biết đấy. Ngồi im". Tất cả bọn trẻ không dám nhúc nhích. Một lúc
sau, khi đã bình tĩnh lại, chúng tôi căng mắt nhìn. Cho đến lúc này,
qua ánh đèn chúng tôi mới nhận ra rất nhiều từ đâu đó bay về và
lao vào cái chậu sành để trước mặt bà già mù. Câu chuyện về bà
già mù phù phép gọi côn trùng bay về để ăn thịt rõ ràng là không
phải người làng tôi bịa đặt. Tối nay, chính mắt tôi đã chứng kiến
cảnh tượng hãi hùng này. Nghĩ đến đó, tôi thấy người lạnh toát.
Trong ánh đèn sáng trước ngôi miếu hoang dưới chân núi âm u,
hình ảnh bà già mù hiện lên như một mụ phù thủy. Lúc đó, hình như
tôi nghe thấy tiếng rung cánh của côn trùng bạt qua vườn sắn. Tôi
ngước nhìn lên đỉnh núi trong đêm âm u và đầy bí ẩn. Và lúc này, tôi
lại nhớ đến thằng Sấn bạn tôi. Nó đi chặt củi trên núi và không thấy
về. Bố mẹ và họ hàng thằng Sấn đã đi tìm nó trong suốt hai năm
nay mà không thấy. Có người nói nó bị hổ vồ. Nhưng tôi bảo ngọn
núi làng tôi không có hổ. Vì đấy là ngọn núi mọc lên ngay ở đồng
bằng cách dãy núi phía chùa Hương xa. Lại có người nói nó bị ma
rừng ám không biết đường về nhà và biến thành người rừng chuyên
sống bằng quả tóc tiên và quả vú bò. Nhưng bố tôi lúc nào cũng bác
bỏ những lời đồn đại đó. Bố tôi cam đoan nó bị rơi xuống khe núi
nào đó. Nhiều đêm tôi ngồi trên hiên nhà nhìn về phía ngọn núi và
thầm mong nó đột ngột trở về. Nhưng hai năm đã trôi qua vẫn
không ai nhìn thấy bóng hình nó. Chỉ những lời đồn về nó mỗi ngày
một nhiều. Có lần mẹ nó lên núi nghe thấy tiếng nó gọi mẹ. Mẹ
thằng Sấn chạy khắp núi dưới những tán cây rậm rạp nhưng không
tìm thấy nó mà chỉ nghe tiếng nó thôi. Mẹ thằng Sấn nghe thấy tiếng
nó bảo mẹ mang cho nó cái áo không nó rét lắm. Mẹ nó trở về sắm
sửa áo rét và các đồ cúng lên núi cúng cho nó. Mẹ nó treo chiếc áo
trên một cành cây để nó đến lấy mà mặc. Ngày hôm sau, mẹ thằng
Sấn lên núi thì không thấy chiếc áo treo ở đó nữa. Mẹ nó khóc rống
lên và nói: "Sấn ơi, con cần gì cứ bảo mẹ, mẹ mua cho con". Rồi có
người làng lên núi về nói tận mắt nhìn thấy thằng Sấn mặc cái áo rét

mẹ nó mua cho trèo cây thoăn thoắt cùng với bầy khỉ. Tôi mang
chuyện đó hỏi bố, bố tôi bảo có thể đấy là một con khỉ tinh nghịch
lấy chiếc áo mẹ thằng Sấn treo ở cành cây mặc vào. Khỉ là một loại
động vật rất hay bắt chước người. Lũ khỉ núi nhìn thấy người làng
cuốc đất. Khi người làng nghỉ trưa bỏ lại cuốc trên vạt ruộng chân
núi, lũ khỉ mò xuống và chí chóe tranh nhau cầm cuốc để cuốc
ruộng. Tôi tin lời bố tôi và tôi cũng tin cả những lời đồn của người
làng. Chính vì thế mà những câu chuyện về ngọn núi và những gì
liên quan tới ngọn núi luôn luôn hiện lên trong tôi kỳ bí và huyền ảo.
Và bây giờ, nhìn cảnh bà già mù đang phù phép gọi côn trùng bay
về tôi càng tin tất cả những gì tôi nghe kể về mọi chuyện xung
quanh ngọn núi.
Khi tôi đang nhìn bà già mù và miên man những chuyện trong đầu
thì một đứa trong bọn tôi kêu lên: "Tao buồn đái lắm. Tao về đây".
Nói xong nó vùng đứng dậy và bỏ chạy. Con chó trắng lao về phía
vườn sắn sủa dữ dội. Tất cả bọn trẻ cũng vùng bỏ chạy. Chúng tôi
chen nhau chạy như bị ma đuổi. Bọn trẻ chạy khỏi vườn sắn và
băng qua cánh đồng về phía cây đa đầu làng. Chúng tôi nằm vật
xuống thảm cỏ dưới gốc đa. Tất cả chúng tôi im lặng. Trong đầu
chúng tôi đang hình dung lại cảnh bà già mù phù phép gọi côn trùng
trong núi bay về.
Khi tôi trở về thì mẹ tôi đang ngồi sàng gạo giữa sân. Thấy tôi mẹ
hỏi:
- Đi đâu về mà không ở nhà giã gạo giúp mẹ?
- Con nhìn thấy bà già mù phù phép gọi côn trùng đấy. - Tôi thì
thầm.
- Lũ trẻ con chúng mày toàn chuyện nhảm. Rửa chân tay rồi vào đi
ngủ.
- Con nói thật đấy. - Tôi cãi mẹ.
Mẹ tôi tiếp tục sàng gạo và không nói gì. Tôi rửa chân tay và leo lên
giường đi ngủ. Lại một đêm tôi trằn trọc. Tôi nằm nghĩ lan man bao

nhiêu chuyện. Chuyện nào cũng làm tôi khó hiểu. Nếu bà tôi còn
sống thì bà tôi sẽ giải thích cho tôi những chuyện ấy. Chuyện gì ở
chốn quê này bà tôi cũng biết. Nhưng chuyện bà tôi biết nhiều nhất
là chuyện ma. Hồi bà tôi còn sống, đêm đêm bà vừa nhai trầu vừa
kể đủ thứ chuyện ma cho tôi nghe. Và lúc nào cũng vậy, tôi ôm bà
trong nỗi sợ hãi mơ hồ và ngủ thiếp đi trong tiếng kể đều đều ngái
ngủ của bà. Nhưng những câu chuyện ma của bà thường liên quan
đến người làng tôi. Một trong những người ấy là cô ruột tôi. Cô mất
năm mười sáu tuổi. Một buổi chiều trước khi cưới mấy ngày, cô tôi
lên núi lấy mấy bó mây cho bà tôi để đan nong nia. Tối về cô tôi
cảm lạnh và mất. Mấy chục năm sau bà tôi vẫn mơ thấy cô tôi hiện
về xin bà bán thúng thóc mua cho cô cái áo mới. Hồi còn sống, cô
bảo bà: "Khi nào con cưới, u phải bán thúng thóc mua cho con cái
áo". Nhưng bà tôi chưa kịp mua cho cô chiếc áo thì cô mất. Suốt đời
cô tôi phải mặc áo rách. Đến khi chết cũng chẳng được mặc manh
áo lành. Chính vì thế mà bà tôi thương cô và ân hận mãi. Cứ đến
ngày giỗ cô, bà tôi đều mua cái áo hàng mã để đốt gửi cho cô. Vào
ngày rằm tháng Bảy, làng tôi thường tổ chức nấu cháo đổ vào bồ đề
lá đa cho người làng đã chết về ăn. Thuở xưa, người làng tôi chết
già hay chết trẻ đều trong cảnh đói khát. Chiều rằm, bà tôi nấu một
nồi cháo và sai tôi đổ vào những bồ đề lá đa cắm từ cửa ngõ nhà tôi
ra tận đường làng dẫn đến khu nghĩa địa dưới chân núi. Tôi khi đổ
cháo, thế nào tôi cũng húp trộm vài bồ đề lá đa cháo loãng. Tôi cứ
nghĩ cô tôi phải húp bao nhiêu bồ đề lá đa cháo mới hết đói. Những
buổi chiều như thế, trong tiếng trống thì thùng từ đình làng vọng lại,
trong những ngọn gió mùa hạ thi thoảng thổi về, trong một khoảnh
khắc tôi như nhìn thấy cô tôi thấp thoáng trở về con đường đất từ
nghĩa địa chạy vào làng để húp cháo lá đa và lấy chiếc áo hàng mã
rồi đứng nhìn về ngôi nhà rất lâu và buồn bã bỏ đi cho tới rằm tháng
Bảy năm sau.
- Cháu nhìn thấy cô Mùi đấy bà ạ. Tôi nói với bà tôi.
- Thế là cô cháu yêu cháu nhất nhà đấy. - Bà tôi vừa ngoáy trầu
trong chiếc cối trầu bằng đồng vừa nói.

- Làm sao mà cô Mùi biết được cháu. Cô chết từ lúc cháu chưa đẻ
cơ mà? - Tôi hỏi.
- Người chết nhưng còn hồn. Hồn vẫn về thăm người sống. Vì cô
cháu yêu cháu nên mới để cho cháu nhìn thấy. Cô cháu sẽ phù hộ
cho cháu.
- Thế cô không phải là ma chứ bà? - Tôi lo lắng hỏi.
- Hồn xấu thì thành ma. Hồn tốt thì vẫn là người. - Bà tôi thở dài. Chỉ có điều là người sống ở cõi âm.
Tôi cứ nghĩ miên man về bà tôi, cô tôi rồi nghĩ đến thằng Sấn.
Thằng Sấn khi còn sống rất tốt với tôi. Nó hay lấy chuối nhà nó
mang cho bọn trẻ chúng tôi. Riêng tôi nó luôn giành cho tôi quả
chuối to nhất. Thi thoảng nó lại cho tôi một viên bi nó mài tròn xoe
và có những vân đá rất đẹp. Tôi nghĩ về thằng Sấn và từ từ chìm
vào giấc ngủ.
Trong mơ tôi gặp thằng Sấn. Tôi kinh hãi nhận thấy mặt nó dập nát
và bê bết máu. Thằng Sấn buồn bã nhìn tôi và nói:
- Tớ chết rồi.
- Bố mẹ cậu tìm cậu hơn hai năm nay. - Tôi thổn thức nói.
- Bố mẹ không tìm thấy tớ vì tớ rơi xuống một khe núi hẹp. - Sấn
nói.
- Sao cậu lại bị rơi xuống đó? - Tôi vội hỏi.
- Tớ trèo lên vách núi xem tổ chim đại bàng đất. Có một tổ đại bàng
đất ở đấy, đẹp lắm. Bỗng tớ tuột chân rơi xuống.
- Cậu rơi xuống chỗ nào? - Tôi hỏi.
- Chỗ mà tớ và cậu đã trèo lên đó một lần lấy trúc làm cần câu ấy
mà, có nhớ không? - Sấn hỏi.

- Nhớ rồi, tớ nhớ rồi. - Tôi vội nói.
- Cậu lên đó đưa tớ về nhé. Tớ ở trên đó một mình buồn lắm. Cậu
nhận lời không?
Sấn hỏi và đợi tôi trả lời. Tôi nhìn vào mắt nó và thấy nó rất buồn.
Tôi ứa nước mắt gật gật đầu. Thế rồi nó biến mất.

BA
Cuối cùng thì kế hoạch truy tìm kho báu của chúng tôi cũng được
thực hiện. Bọn trẻ chúng tôi tập trung từ rất sớm dưới gốc đa đầu
làng. Chúng tôi mang theo một chiếc thuổng để đào măng và một
cái đèn pin. Ngoài ra chúng tôi còn mang theo ba ống tre đựng
nước uống và thức ăn gồm sắn luộc và chuối nhà Phàn Phệch. Mục
tiêu đầu tiên của chúng tôi là một cái hang ở lưng chừng núi. Cái
hang này chúng tôi đã từng thấy nhưng chưa một lần chui vào đó.
Quanh cửa hang ở lưng chừng núi. Cái hang này chúng tôi đã từng
thấy nhưng chưa một lần chui vào đó. Quanh cửa hang bị phủ gần
như lấp hết bởi các bụi cây dại. Thực ra, trong mùa hè năm ngoái,
chúng tôi đã định chui vào hang. Nhưng đứa này đùn đẩy đứa kia
vào trước. Cuối cùng thì chẳng đứa nào dám chui vào cả. Hình như
người làng tôi cũng chưa có ai chui vào cái hang đó làm gì. Chúng
tôi nghe người lớn nói trong hang có một cặp rắn có mào. Có người
bảo đó là cặp rắn thần. Người làng tôi lên núi đã có lần nhìn thấy
cặp rắn thần uốn lượn múa trước cửa hang. Cái mào trên đầu rắn
phát ra một thứ ánh sáng xanh.
Chúng tôi dừng lại trước cửa hang. Một đứa lên tiếng: "Đứa nào
vào hang trước". Sau câu hỏi đó, tất cả bọn trẻ im bặt và liếc nhìn
nhau. Rồi đứa này đùn đẩy đứa kia. Và thế là một cuộc cãi nhau nổ
ra. Phàn Phệch thấy thế tức quá vung tay đang cầm cái đèn pin và
nói: "Chúng mày hèn bỏ mẹ. Không đứa nào dám vào trước thì tao
vào. Tất cả đi theo tao. Đứa nào bỏ cuộc thì cả bọn không cho chơi
nữa". Nói xong, nó tiến đến cửa hang và vạch những bụi cây dại
bước vào. Bọn trẻ vẫn đứng bên ngoài nhìn theo Phàn Phệch. Phàn
Phệch quay lại gắt: "Theo tao, đứng đây làm gì?". Lúc này chúng tôi
mới bước vào hang. Cái hang tối om và phả ra một mùi nằng nặng.
Phàn Phệch bật đèn pin và soi vào hang. Lúc này chúng tôi mới
nhận thấy lòng hang rất rộng.
- Có thấy rắn mào không? - Một đứa nào đó thì thào.

- Mày đừng nói gì nữa.- Phàn Phệch gắt.
Tiếng Phàn Phệch vang ồm ồm trong hang. Sau đó. Chúng tôi nghe
có tiếng động phía trong hang đá. Bọn trẻ dừng bước, mắt nhìn ngó
sợ hãi. Phàn Phệch như không để ý đến chuyện gì cả. Nó bước
từng bước tự tin vào phía tôi. Nó rọi đèn pin xem, xét y như một nhà
thám hiểm. Bọn trẻ chúng tôi rón rén bước sau. Bỗng nó dừng lại và
kêu lên: "Nhìn kìa". Chúng tôi nhìn theo ánh đèn pin của nó và nhận
ra chỗ nền hang rải đầy sỏi. Những viên sỏi nhiều màu tròn như
những viên bi. Phàn Phệch bước nhanh đến và ngồi xuống. Nó cầm
một viên sỏi đưa lên ngắm nhìn.
- Sao ở đây lại có nhiều sỏi đẹp thế này nhỉ? - Phàn Phệch hỏi.
- Chắc có người nhặt sỏi bỏ vào đây. - Một đứa nói.
- Tao sẽ mang hết chỗ sỏi này về để mài bi - Phàn Phệch nói - Thôi
đi tiếp.
Nhưng trước khi đi tiếp, Phàn Phệch chọn mấy hòn sỏi rất trong có
màu đẹp bỏ vào túi. Đi được một đoạn thì chúng tôi phát hiện ra có
một cái bếp trên nền hang. Ba hòn đá được kê làm bếp. Và trên nền
hang vẫn còn một ít tàn tro và một vài mẩu củi cháy dở đã mục. Cả
bọn xúm quanh chiếc bếp.
- Sao lại có bếp ở đây nhỉ? - Một đứa hỏi.
- Như thế là đã có người vào đây. - Một đứa nhận xét. - Hay đó là
những người cũng đi tìm kho báu.
- Nếu thế thì họ đã lấy hết vàng rồi còn gì. - Phàn Phệch nói với
giọng thất vọng.
- Cứ đi tiếp xem sao. - Một đứa nói.
- Đi đi. - Cả bọn lên tiếng.
Chúng tôi lại tiếp tục đi vào phía trong. Phàn Phệch soi đèn pin lên
nóc hang và bất chợt chúng tôi nhận ra có muôn vàn những chấm

sáng bám trên nóc hang đá. Những chấm sáng chập chờn.
- Cái gì thế kia. - Một đứa thảng thốt kêu khẽ.
- Tao không biết. - Giọng Phàn Phệch thực sự hồi hộp.
Phàn Phệch tắt đèn. Hang đá tối om. Những chấm sáng biến mất.
Và khi Phàn Phệch bật đèn soi lên thì những chấm sáng kia lại hiện
lên. "Cái gì thế nhỉ?". Lúc này thì giọng Phàn Phệch thực sự đã run
lắm. Bọn trẻ chúng tôi đứng nép vào nhau. Phàn Phệch lấy viên sỏi
từ trong túi ra và ném về phía những chấm sáng đó. Những tiếng
kêu chin chít vang lên và như một cơn bão ùa ra những con vật có
cánh đen xì cùng một mùi hôi khó chịu. Bọn trẻ kinh hoàng kêu rú
lên và quay đầu lao ra phía cửa hang. Một con vật bay đập vào mặt
tôi cùng tiếng kêu rít lên. Tôi choáng váng ngã xuống nền hang. Một
đứa nào thấy đạp lên cả lưng tôi. Tôi quáng quàng đứng dậy và
nhìn theo phía ánh đèn pin của Phàn Phệch mà chạy. Bọn trẻ chạy
ra phía cửa trong sự hoảng loạn. Khi tất cả đã ra khỏi hang, chúng
tôi tụ tập ở một đoạn cách xa miệng hang. Đứa nào đưa ấy mặt cắt
không còn một giọt máu. Khi chúng tôi vẫn đang trong cơn hoảng
sợ không hiểu cái gì đã xảy ra thì Phàn Phệch bỗng rú lên cười. Tôi
kinh hãi nhìn Phàn Phệch cười và nghĩ đến người đàn bà bị ma chó
ám trở thành tâm thần. Phàn Phệch cười đến khi mệt quá lăn ra đất
nằm thở.
- Sao mày lại cười? - Tôi hỏi
- Chúng mày có biết con gì trong hang không? - Phàn Phệch nói và
tự trả lời. - Lũ dơi núi đấy.
Cả bọn chúng tôi lúc này mới ớ người ra. Đúng là dơi núi thật. Tôi
đã từng được ăn thịt dơi núi nướng. Ôi! Thế mà trước đó tôi đinh
ninh đó là những con ma chim. Một số người làng tôi cũng thường
lên núi bắt dơi để ăn. Tôi đã xem bố tôi làm thịt những con dơi núi
sạch sẽ rồi ướp với củ sả giã nhỏ với ớt rồi lấy thanh tre tươi kẹp
vào và nướng trên bếp than củi lõi ngô. Những con dơi nướng tỏa
mùi thơm làm tôi chảy cả nước dãi. Và lúc này, sau cơn hoảng sợ
tôi lại thấy thèm được ăn món thịt dơi nướng.

- Thế còn cái bếp trong hang là của ai? - Tôi hỏi Phàn Phệch.
- Có lẽ của những người đi tìm kho báu - Phàn Phệch nói.
Lời giải thích của Phàn Phệch cũng có lý. Chúng tôi cũng từng được
nghe nói có nhiều người đã đi tìm kho báu trên ngọn núi này. Mấy
năm trước tôi thấy có một nhóm người từ nơi khác đến dựng một
cái lều nhỏ trên núi. Nhưng người này nói đi bắt rắn. Nhưng bố tôi
bảo họ tìm kiếm cái gì đấy chứ không phải bắt rắn. Còn chuyện
những người đi tìm kho báu trên ngọn núi này từ ngày xửa ngày
xưa thì nhiều lắm. Hồi còn sống, bà tôi kể rằng có một đoàn người
đến ngọn núi này tìm kho báu. Theo lời đồn, họ tin rằng bà già mù
sống trong ngôi miếu hoang biết được đường đến kho báu. Bọn
người này đã dụ dỗ bà già mù chỉ đường cho chúng. Bà già mù đã
kiên quyết từ chối. Thế là chúng đã đánh đập bà vô cùng tàn nhẫn.
Trước khi bọn người đó rời khỏi ngôi miếu hoang để đi tìm cái hang
chứa kho báu thì bà già mù gượng ngồi dậy, ngửa mặt cười khanh
khách và nói: "Các ngươi là những kẻ tham lam và độc ác. Các
ngươi sẽ bị trừng phạt". Nghe bà già mù nói vậy, bọn người đạp bà
ngã vật xuống và bỏ đi. Nhưng mấy ngày sau, người ta nhìn thấy
bọn người đi tìm kho báu ấy da thịt như thối rữa từ trên núi về phía
ngôi miếu hoang. Khi đến trước cửa ngôi miếu, bọn người dập mặt
xuống đất kêu khóc xin bà già mù tha tội và cứu chúng. Bà già mù
nấu một nồi nước lá và bảo chúng tắm rửa. Và sau ba lần tắm thứ
nước lá ấy, da thịt bọn tìm kho báu trở lại lành lặn. Bọn người xin bà
cho ở lại để hầu hạ bà. Nhưng bà nói với chúng hãy trở về quê
quán để hầu hạ mẹ già của chúng. Bọn người dập đầu vâng theo.
Tôi đã hỏi bố tôi về câu chuyện ấy. Bố tôi bảo chuyện ấy có thật.
"Bà già mù có phép hở bố?". Tôi hỏi bố tôi như thế. Bố tôi cười và
nói với tôi rằng: "Trên núi có một thứ cây có hoa màu sắc vô cùng
sặc sỡ nhưng phấn hoa rất độc. Nếu phấn hoa dính vào người thì
da thịt sẽ bị lở loét. Bà già mù biết thứ hoa đó và cũng biết dùng loại
lá thuốc để chữa khỏi bệnh loét da do phấn hoa. Chính bà đã từng
chữa cho những người làng không may bị phấn hoa dính vào. Bà là
bà lang chữa bệnh bằng lá rừng chứ chẳng có phép bùa gì". Bố tôi
bảo bà già mù biết tất cả cây cỏ trên núi. Người làng cũng đồn rằng

khi ở trong ngôi miếu thì bà già mù, nhưng cứ lên núi thì mắt bà lại
sáng trở lại. Nếu không thế thì bà làm sao mà biết những cây thuốc
mọc ở đâu. Khi tôi đang mải nghĩ về câu chuyện liên quan đến bọn
người tìm kho báu thì một đứa lên tiếng:
- Này, tớ nghĩ hay cái bếp trong hang là của thằng Sấn. Nó đốt củi
để nướng sắn đấy.
Câu nói ấy làm bọn trẻ đứa nằm đứa ngồi đều đứng bật dậy.
- Thằng Sấn chết rồi cơ mà. - Một đứa cãi.
- Tớ tin là nó chưa chết. Người ta vẫn nhìn thấy nó mặc chiếc áo mẹ
nó mua trèo lên cây cùng bầy khỉ.
- Thằng Sấn chết rồi. - Tôi nói - Tớ biết. Có một đêm tớ mơ thấy nó
hiện về. Nó bảo tớ hãy lên núi mang nó về. Nó ở trên ấy một mình
buồn lắm. Nó trèo lên vách núi xem tổ chim đại bàng đất và bị ngã
xuống khe.
- Đấy là cậu mơ thôi. Bố mẹ nó tìm nó khắp núi đã hơn hai năm rồi
có thấy đâu.
- Nếu nó ngã xuống cái khe ấy thì bố mẹ nó khó biết lắm. - Tôi nói.
- Cậu biết khe ấy à? - Một đứa hỏi.
- Tớ biết - Tớ và nó hay lên đó lấy trúc làm cần câu, có một khóm
trúc rất đẹp.
- Bây giờ cậu định làm gì? - Một đứa hỏi. - hay là mách cho bố mẹ
nó biết.
- Chắc đâu mà mách - Phàn Phệch lúc này mới lên tiếng. - Chúng ta
lên đó thử xem. Nếu thấy nó thì về báo cho bố mẹ nó biết.
Tất cả đồng ý với Phàn Phệch. Phàn Phệch chỉ tay về phía trước và
nói với tôi: ...
 
Gửi ý kiến