KHOẢNH KHẮC THẬT LÒNG CỦA SOPHIE

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 13h:51' 15-01-2024
Dung lượng: 3.4 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 13h:51' 15-01-2024
Dung lượng: 3.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
KHOẢNH KHẮC THẬT LÒNG CỦA SOPHIE
First News
Chịu trách nhiệm xuất bản:
Giám đốc - Tổng Biên tập
ĐINH THỊ THANH THỦY
Chịu trách nhiệm bản thảo:
TRẦN BAN
Biên tập: Nguyễn Văn Sướng
Bìa: Nguyễn Hùng
Trình bày: Bích Trâm
Sửa bản in: Nguyễn Nguyên
Tác giả: Ken Spillman
Minh họa: James Tan
NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
62 Nguyễn Thị Minh Khai - Q.1 - TP.HCM
ĐT: 38225340 - 38296764 - 38247225 - Fax: 84.8.38222726
Email: tonghop@nxbhcm.com.vn
Sách online: www.nxbhcm.com.vn / Ebook: www.sachweb.vn
NHÀ SÁCH TỔNG HỢP 1
62 Nguyễn Thị Minh Khai, Q.1, TP.HCM - ĐT: 38 256 804
NHÀ SÁCH TỔNG HỢP 2
86 - 88 Nguyễn Tất Thành, Q.4, TP.HCM - ĐT: 39 433 868
Thực hiện liên kết
Công ty TNHH Văn hóa Sáng tạo Trí Việt (First News)
11H Nguyễn Thị Minh Khai, P. Bến Nghé, Q.1, TP. HCM
In lần thứ 1, số lượng 4.000 cuốn, khổ 14,5 x 20,5 cm tại Công
ty Cổ phần In Vườn Lài (106 Đào Duy Từ, P. 5, Q. 10, TP. HCM).
Xác nhận đăng ký xuất bản số 4637-2016/CXBIPH/04328/THTPHCM ngày 19/12/2016 - QĐXB số 1630/QĐ THTPHCM-2016 ngày 21/12/2016. In xong và nộp lưu chiểu
quý I/2017. ISBN: 978-604-58-5915-5.
THÂN GỬI QUÝ PHỤ HUYNH
VÀ QUÝ THẦY CÔ GIÁO,
C
húng ta vẫn thường lấy làm ngạc nhiên rằng đôi khi
những điều tưởng chừng như nhỏ bé, bình dị và hết sức
đơn giản lại có thể có ảnh hưởng rất lớn đến con trẻ.
Trong bộ sách này, tác giả Ken Spillman hoàn toàn không giáo
dục các em theo một khuôn mẫu lễ giáo cứng nhắc, mà thay vào
đó, ông đã dùng chính góc nhìn của trẻ thơ để biểu đạt rõ nét
những cảm xúc, sự nhạy cảm và chiều sâu suy nghĩ trong mỗi
tình huống cuộc sống hằng ngày mà các em có thể đã, đang và
sẽ gặp, song chưa có cách cư xử hay suy nghĩ thích hợp.
Bộ sách THẦN ĐỒNG TIẾNG ANH - BÉ HỌC LỄ GIÁO là những
câu chuyện đời thường, sinh động giúp các em hiểu rõ rằng
những chọn lựa, những lời hứa, những cách cư xử tuy nhỏ
nhưng sẽ góp phần lớn trong việc xây dựng nên tính cách, lễ
giáo của mỗi người.
Mỗi nhân vật tí hon sẽ thuật lại câu chuyện và cách giải quyết
tình huống của riêng mình, từ đó các độc giả nhí sẽ có thể nhìn
nhận lại bản thân, học hỏi thêm điều mới. Nhờ vậy, tính cách
tích cực sâu thẳm trong các em sẽ phát triển một cách tự nhiên.
Hơn nữa, có nhiều nghiên cứu cho rằng văn học có sức mạnh to
lớn trong việc định hình trí tuệ và tâm hồn của trẻ em. Theo học
giả Gates và Mark: “Thông qua cánh cửa văn học, chúng ta được
bước vào một thế giới vô hình, một thế giới cho phép chúng ta
có sự nhìn nhận, cảm thông, thấu hiểu đến mức cuối cùng sẽ
làm thay đổi chính cách chúng ta nhìn nhận bản thân và cuộc
sống”.
Vì thế, điểm đặc biệt nữa của bộ sách này nằm ngay chính bản
thân câu chữ tiếng Anh được chọn lọc từ 5.000 từ vựng căn bản
dành cho trẻ em.
Mỗi tập truyện chứa gần 1.000 từ vựng tiếng Anh thông dụng
sẽ giúp các em vừa trau dồi vốn từ vừa nâng cao khả năng đọc
hiểu và cách xử lý ngôn từ mang đậm tính văn học của mình.
Những từ khó sẽ được in nghiêng để các em có thể học thêm.
Tôi tin chắc các em sẽ đạt được những điều này qua bộ sách này
của Ken Spillman.
Tiến sĩ - Giáo sư phụ tá Myra Garces-Bacsal,
Điều phối viên Chương trình Thạc sĩ chất lượng cao
Học viện Giáo dục Quốc gia, Singapore
CHAPTER 1 - CHƯƠNG 1
T
he holiday was half over and Sophie was glad. Before
leaving home, she had argued that ve days on the
island wouldn't be long enough.
“Not even a week!” Sophie nagged. “Why can't we stay a week?”
Her sister, Samantha, agreed. “A week would be better, right?”
***
Kỳ nghỉ đã trôi qua một nửa và Sophie cảm thấy mừng. Trước
khi rời nhà, cô đã cãi rằng năm ngày trên đảo là không đủ lâu.
“Thậm chí còn chưa được một tuần!”, Sophie nũng nịu. “Tại sao
chúng ta không thể ở lại đó một tuần được ạ?”
Cô em gái Samantha cũng đồng ý: “Một tuần thì tốt hơn chứ, chị
nhỉ?”.
***
But after the rst two days, the holiday seemed to drag. Five
days was too long!
The island was an island and the beach resort was, well, beachy.
There was a beachy swimming pool, four beachy restaurants,
and the beach itself. Each day there was a choice of swimming,
snorkelling, or hiring something that could be paddled or
zoomed back and forth on the water until your time was up.
***
Nhưng chỉ sau hai ngày, kỳ nghỉ dường như kéo dài lê thê. Năm
ngày là quá dài!
Hòn đảo là một hòn đảo, còn khu nghỉ mát bãi biển, ừ thì, cũng
có liên quan đến biển đó. Có một hồ bơi bên bờ biển, bốn nhà
hàng bên bờ biển, và thêm cái bãi biển nữa. Ngày qua ngày cũng
chỉ có lựa chọn là bơi, lặn, hay thuê cái gì đó có thể chèo hoặc
phóng tới lui trên mặt nước để giết thời gian.
***
The rst thing Sophie noticed was the absence of kids her own
age. Everybody stayed in private chalets. Some chalets were set
in the rainforest and others - like the one Dad had chosen - were
on stilts over the water's edge.
“This place is obviously meant for old people,” Sophie said. “Or
honeymooners. Not us.”
***
Điều đầu tiên Sophie nhận thấy là ở đây vắng bóng những đứa
trẻ cỡ tuổi cô. Mọi người đều ở trong những căn nhà gỗ riêng.
Một số căn được dựng trong rừng mưa nhiệt đới và một số căn
khác - giống như căn ba chọn - được dựng trên cột gỗ ngay trên
bãi biển.
“Nơi này rõ ràng là dành cho người già”, Sophie nói. “Hoặc các
cặp đôi mới cưới. Chứ không phải cho tụi mình.”
At night in their chalet, they could hear the water lapping gently
below.
Mum thought the sound was peaceful, and Dad joked that he
must have died and gone to heaven.
Sophie and Samantha wished they could turn on the television
so that they couldn't hear it, but they weren't allowed.
***
Đêm đến, trong căn nhà gỗ, họ có thể nghe thấy tiếng sóng vỗ
nhẹ bên dưới.
Mẹ nghĩ âm thanh này thật yên bình, còn ba thì đùa rằng chắc là
ông đã chết và được lên thiên đường rồi.
Sophie và Samantha thì ước gì có thể bật ti vi lên để không phải
nghe thấy âm thanh đó, nhưng ba mẹ không cho.
It was hot, too.
Even beside the water it was hot, and breezes - when they came
- were no substitute for air - conditioning. Five minutes after a
swim or a shower, Sophie told Dad she was sticky again.
“I'm so-o hot,” Sophie complained. “I'm hot and sticky and
bored.”
***
Trời còn nóng nực nữa chứ.
Kể cả ngay sát mặt nước mà vẫn nóng, và những cơn gió nhẹ khi thổi đến - cũng chẳng thể nào thay thế được máy điều hòa.
Mới bơi hay tắm năm phút trước thôi mà Sophie đã nói với ba
rằng người cô lại nhớp nháp trở lại rồi.
“Con nónggggg quá!”, Sophie càu nhàu. “Con nóng, nhớp nháp
và chán.”
“Bored?” Dad said. “You' re bored?”
Sophie shrugged.
“Here we are, living it up on an island paradise… and you' re
bored?”
Sophie shrugged again.
***
“Chán?”, bố nói. “Con chán hả?”
Sophie nhún vai.
“Chúng ta đang ở đây, ngay trên một hòn đảo thiên đường... mà
con thấy chán à?”
Sophie lại nhún vai.
Dad gave Mum a look and then sighed.
“Okay, sweetie. Be bored then. We bought you a book at the
airport, remember? Why don't you read that?”
“I read at home,” Sophie said. “I thought this was a holiday!”
***
Ba nhìn mẹ rồi thở dài.
“Được rồi, con yêu. Ừ thì chán. Ba mẹ đã mua cho con một quyển
sách ở sân bay, nhớ không nào? Sao con không đọc nó đi?”
“Con đọc ở nhà rồi ạ”, Sophie nói. “Con tưởng đây là kỳ nghỉ
chứ.”
CHAPTER 2 - CHƯƠNG 2
T
o Sophie, it felt just like being shipwrecked - and she
could think of better people to be shipwrecked with than
her parents and an annoying little sister.
Samantha was annoying enough at home, but there, Sophie
could at least close a door to escape her sister's immature
clowning around.
***
Sophie cảm thấy cứ như mình đang bị đắm tàu - và cô có thể
nghĩ đến những người tuyệt vời hơn để cùng đắm tàu chứ
không phải là ba mẹ và đứa em gái phiền phức này.
Lúc ở nhà Samantha đã đủ gây phiền toái rồi, nhưng ít ra ở đó
Sophie còn có thể đóng cửa phòng để thoát khỏi những trò hề
trẻ con của em mình.
***
At home, too, there were earphones to block out Samantha's
sing-song conversations about the dumbest things. Here,
according to Mum and Dad, handphones and other electronic
devices didn't belong.
“But why don't they belong?” Sophie had asked. “Because they' ll
make us remember this is the twenty- rst century?”
***
Ở nhà còn có tai nghe để chặn những câu nói ê a của Samantha
về những điều ngớ ngẩn nhất. Còn ở đây, theo ba mẹ thì điện
thoại di động và các thiết bị điện tử khác không thuộc về chốn
này.
“Nhưng tại sao chúng lại không thuộc về nơi này ạ?”, Sophie
thắc mắc. “Vì chúng sẽ khiến ta nhớ rằng đây là thế kỷ 21 sao
ạ?”
Dad had laughed, but Mum wanted to explain.
“Sophie, I told you that we needed this holiday to spend time
together, right? I mean really spend time. Your father and I still
remember the family holidays we had when we were your age.
These times are important - they make memories.”
***
Ba bật cười, nhưng mẹ muốn giải thích.
“Sophie ơi, mẹ đã nói với con là mình cần kỳ nghỉ này để dành
thời gian bên nhau, phải không nào? Ý của mẹ là thực sự dành
thời gian cho nhau. Ba và mẹ vẫn còn nhớ đến những kỳ nghỉ
mà ba mẹ đã trải qua khi ở độ tuổi các con. Những khoảng thời
gian như thế này rất quan trọng - chúng sẽ tạo nên những kỷ
niệm.”
***
Sophie didn't get it. “So, why don't you want my memories to
include my favourite music?”
Mum wasn't going to give up. “Think about a typical night at
home,” she said. “Your father is watching the news. If I' ve
nished cleaning up after dinner, I' d be on the computer. You'
ve got homework and your earphones, and Samantha is playing
some games on Dad's phone.”
The scene described by Mum was one Sophie recognised. She
had been part of it hundreds of times and knew she' d be part of
it a thousand more times - at least.
***
Sophie không hiểu. “Vậy tại sao mẹ lại không muốn kỷ niệm của
con bao gồm cả những bài nhạc mà con yêu thích?”
Mẹ vẫn không chịu. “Con hãy nghĩ về một buổi tối điển hình ở
nhà mình mà xem”, mẹ nói. “Ba con xem thời sự. Nếu dọn rửa
chén bát xong thì mẹ sẽ dùng máy vi tính. Con làm bài tập về
nhà và đeo tai nghe nhạc, còn Samantha thì chơi điện tử trên di
động của ba.”
Sophie có thể hình dung ra khung cảnh mẹ đang mô tả. Cô đã là
một phần của khung cảnh đó hàng trăm lần và sẽ tiếp tục là
một phần của nó - ít nhất - cũng hơn một ngàn lần nữa.
“You know what I'm talking about, right?” Mum continued.
“Sweetie, that's not actually being together, is it? We're all
plugged in, or glued to a screen - it's like we're in di erent
zones.”
Sophie nodded. She understood, but felt more shipwrecked than
ever.
“Con hiểu mẹ đang nói gì mà, phải không?”, mẹ tiếp tục. “Con
yêu à, đó không thực sự là ở cùng nhau, đúng không con? Cả nhà
chúng ta đều sử dụng thiết bị công nghệ hoặc dán mắt vào màn
hình điện tử - cứ như chúng ta đang ở những khu vực khác nhau
vậy.
Sophie gật đầu. Cô hiểu những gì mẹ nói, nhưng lại càng có cảm
giác “đắm tàu” hơn bao giờ hết.
CHAPTER 3 - CHƯƠNG 3
“
W
e' re really so blessed,” Dad said. He'd said the same
thing each night since they arrived, sitting back in
his chair at whichever one of the beachy
restaurants they had chosen. “Just look - all this
beautiful food.”
Sophie rolled her eyes.
***
“Chúng ta thật sự rất hạnh phúc”, ba nói. Kể từ khi đến đây,
hàng đêm ba cứ lải nhải điều này suốt. Hễ ngồi xuống ghế của
bất kỳ nhà hàng biển nào mà ba mẹ chọn là ba lại vui vẻ cất lời.
“Nhìn nè các con - tất cả thức ăn đều ngon mắt.”
Sophie trợn mắt.
***
She had been rolling her eyes a lot lately. It was so much easier
than saying what she felt.
What Sophie felt was complicated.
***
Gần đây cô trợn mắt khá nhiều. Làm vậy đơn giản hơn rất nhiều
so với việc phải nói ra cảm nhận của mình.
Những gì Sophie cảm nhận quá ư phức tạp.
It was big.
It was a lot of things, all wrapped up in a bundle.
It was boredom with just about everything, including this
boring old island.
It was never knowing how to “apply herself” in the way her
school reports recommended.
It was not having her own phone and never being allowed to
chat with friends on the Internet.
It was having cheap haircuts and practical shoes.
It was being compared with Samantha, who seemed happy no
matter what.
***
Quá nhiều thứ.
Quá nhiều thứ cứ đan xen nhau, cả thảy được gói lại thành một
bó.
Đó là nỗi buồn chán với gần như tất cả mọi thứ, gồm cả hòn đảo
già cả, chán ngắt này.
Đó là việc cô không bao giờ biết phải làm sao để có thể “thích
ứng” như lời thầy cô khuyên trong học bạ.
Đó là việc cô không có điện thoại riêng và không bao giờ được
phép chuyện trò với bạn bè trên Internet.
Đó là việc sở hữu những kiểu tóc rẻ tiền và những đôi giày thông
dụng.
Đó là cảm giác bị so sánh với Samantha vì con bé dường như
luôn vui vẻ bất chấp mọi chuyện.
“Sophie,” Dad said. He wasn' t growling at her. When he was in a
good mood, he just gave advice. “You' ll never really be able to
enjoy life until you learn to appreciate all that we' ve been
given.”
***
“Sophie này!”, ba nói. Ba không cằn nhằn cô. Khi có tâm trạng
vui, ba chỉ đưa ra lời khuyên. “Con sẽ không bao giờ có thể thực
sự tận hưởng cuộc sống nếu con không học cách trân trọng
những gì con có.”
“Think of all the terrible things going on in the world,” Mum
added. “And the people who have nothing.” She told Sophie
about a tsunamithat had attened the whole resort ten years
earlier. “How awful! People were clinging to palm trees for dear
life. We really are very lucky.”
Dad felt blessed and Mum felt lucky - but what they felt didn't
stop Sophie from feeling bored. Somehow it annoyed her even
more.
***
“Hãy nghĩ đến tất cả những điều kinh khủng đang xảy ra trên
thế giới xem”, mẹ tiếp lời. “Và những người không có gì nữa.” Mẹ
kể cho cô nghe về cơn sóng thần đã san bằng toàn bộ khu nghỉ
dưỡng cách đây mười năm. “Thật khủng khiếp! Người ta phải đu
bám vào cây dừa để sống sót. Chúng ta thực sự rất may mắn!”
Ba cảm thấy hạnh phúc còn mẹ cảm thấy may mắn - nhưng
những gì ba mẹ cảm nhận không khiến Sophie hết chán nản.
Không hiểu sao nó càng khiến cô cảm thấy khó chịu hơn.
Soon, without even realising it, Sophie was taking out all of her
discontent on Samantha.
She felt as if everything Samantha said or did was intended to
in ict a kind of torture.
It wasn' t just her noise. It was her enthusiasm - the way she got
excited about anything they did. It was as if Samantha gave o
bubbles of energy. All Sophie wanted to do was pop them.
***
Ngay sau đó, dù không nhận ra nhưng Sophie đã trút tất cả
buồn bực lên Samantha.
Cô cảm thấy như thể mọi lời nói và hành động của Samantha
đều cố ý tra tấn cô kiểu gì đó.
Đó không chỉ là việc bé ồn ào. Mà đó chính vì sự nhiệt tình của
bé - cái cách bé tỏ ra hứng thú với bất kỳ điều gì mà họ làm. Cứ
như thể Samantha tỏa ra các bong bóng năng lượng vậy. Điều
duy nhất Sophie muốn làm là chích nổ chúng.
“Will you please stop humming that song,” Sophie would say.
Or: “I told you, sto-op bugging me-e!”
Or: “Mum, Samantha is wobbling her leg all the time. It's so
irritating.”
Or even: “Calm down, Sammy, you might explode. It's not that
exciting.”
***
“Em làm ơn ngừng lải nhải bài hát đó được không?”, Sophie sẽ
nói.
Hoặc: “Chị nói rồi, đừnnggg làm chiiiị nổi cáu nữa.”
Hay như: “Mẹ, Samantha cứ rung chân hoài. Bực bội quá đi!”
Hay thậm chí là: “Yên nào, Sammy. Em tăng động quá đi. Vui
đến thế à!”
***
Samantha's state of joy made Dad and Mum happy, and the
happier they were with her, the more unhappy they seemed to
be with Sophie.
When Sophie pushed Samantha over, Mum grabbed Sophie's
arm and held it tight.
“Why did you do that?” Mum demanded to know.
***
Trạng thái vui vẻ của Samantha khiến ba mẹ hạnh phúc, và họ
càng hạnh phúc hơn với bé thì dường như lại càng không vui
với Sophie.
Khi Sophie xô Samantha ngã, mẹ nắm lấy cánh tay cô và siết
chặt.
“Tại sao con làm thế?”, mẹ gắt gao muốn biết lý do.
Sophie kicked a pebble on the path. “I asked her a million times
to stop, but she wouldn' t.”
“That' s no reason to push her, is it?”
Sophie began to cry. “You always take Samantha's side. You
dont't even care how I feel.”
“Tell us how you feel, Sophie. Why don' t you tell us?”
“I want another family,” Sophie bawled. “And I want to go
home.”
***
Sophie đá một viên sỏi trên đường đi.
“Con đã bảo nó hàng triệu lần là đừng ồn ào nữa mà nó không
chịu nghe.”
“Đó không phải là lý do để con xô em, đúng không?”
Sophie bắt đầu nức nở. “Mẹ luôn bênh Samantha. Mẹ thậm chí
còn chẳng quan tâm đến cảm nhận của con.”
“Nói cho ba mẹ biết cảm nhận của con đi nào, Sophie. Sao con
không nói với ba mẹ?”
“Con muốn một gia đình khác”, Sophie khóc rống lên. “Và con
muốn về nhà.”
CHAPTER 4 - CHƯƠNG 4
F
inally they were leaving.
The boat taking them to a bigger island, which was
really just an airport and shopping mall, chugged slowly
through the still blue water.
Azure, Dad insisted - the sea was azure, not just blue.
***
Cuối cùng, họ rời hòn đảo.
Chiếc thuyền đưa họ đến một hòn đảo lớn hơn, thực ra đó là sân
bay và trung tâm thương mại, nó nổ máy xình xịch, nhẹ nhàng
lướt trên mặt biển trong xanh.
Xanh ngắt, ba quả quyết nói - biển xanh ngắt chứ không chỉ là
xanh.
***
“Azure,” Samantha kept saying. “Asia azure, azure Asia, Asia
azure… ”
Sophie felt like throwing Samantha overboard. It was no use
telling her to be quiet - Mum and Dad had made it quite clear
that Sophie should keep her thoughts to herself.
“If you can't enjoy this holiday, please let us enjoy it,” Dad had
told her.
***
“Xanh ngắt”, Samantha tía lia liên hồi. “Châu Á xanh ngắt, xanh
ngắt châu Á, châu Á xanh ngắt,…”
Sophie cảm thấy muốn ném Samantha ra khỏi khoang thuyền.
Bắt nó im lặng cũng vô ích - ba mẹ đã tỏ rõ là Sophie nên giữ
những suy nghĩ kiểu đó cho riêng mình.
“Nếu con không thể tận hưởng kỳ nghỉ này thì làm ơn để cả nhà
tận hưởng nó”, ba đã nói với cô như thế.
After the boat ride, there was a short taxi trip and a ninetyminute wait at the airport.
Sophie sat with her arms and legs crossed. Dad had four passports
in one hand and Mum's hand in the other. They were almost
ignoring her now, but Sophie couldn't help noticing that they
looked happy - happier than they ever seemed back home.
***
Sau khi đi thuyền, cả nhà tiếp tục đi taxi một đoạn đường ngắn
và chờ 90 phút ở sân bay.
Sophie ngồi bó gối. Một tay ba cầm bốn cái hộ chiếu, tay còn lại
nắm lấy tay mẹ. Lúc này, họ gần như phớt lờ Sophie, nhưng cô
lại không thể ngừng để ý đến họ, trông họ có vẻ rất hạnh phúc thậm chí còn có vẻ hạnh phúc hơn những lần trở về nhà trước
đây.
“Dad, can I hold my passport?” Sophie asked.
“Only for a minute,” Dad replied. “It belongs here.” He pointed to
the four passports together. “These are a family.” He smiled at
his joke and, for the rst time in a while, Sophie didn' t feel like
rolling her eyes.
Instead, she smiled back.
***
“Ba, con có thể cầm hộ chiếu của mình được không ạ?”, Sophie
hỏi.
“Chỉ một phút thôi nhé!”, ba trả lời. “Nó thuộc về nơi này”, ba chỉ
vào bốn cái hộ chiếu đang đặt cạnh nhau. “Chúng là một gia
đình”, ba cười với lời nói đùa của mình; và lần đầu tiên trong
thoáng chốc, Sophie không cảm thấy muốn trợn mắt.
Thay vào đó, cô cười đáp lại.
Sophie's mood lifted. It felt good to smile, and to touch Dad's
ngers for a moment when he handed her the passport.
Seeing the hands of her parents, gently resting together, lled
her heart. She wished she saw it more often. And in Dad's own
way, he had said he loved her. No matter how badly she
behaved, she belonged. They all belonged together.
Tâm trạng của Sophie phấn chấn hẳn lên. Cái cảm giác khi vui
cười và chạm vào các ngón tay của ba trong một thoáng khi ông
đưa hộ chiếu cho cô thật sự rất tốt.
Nhìn ba mẹ tay trong tay dịu dàng, trái tim cô bỗng dưng thấy
ấm áp. Cô thầm mong ước cô có thể nhìn thấy điều này thường
xuyên hơn. Và theo cách riêng của mình, ba cũng đã thể hiện
ông cũng yêu thương cô. Dù cô có cư xử tệ hại thế nào thì cô vẫn
thuộc về gia đình này. Cả gia đình là thuộc về nhau.
Just after take-o , the pilot announced that they were expecting
turbulence during the ight. The seatbelt sign stayed on, and
soon the plane was bumping and jolting through thick clouds.
Beside Sophie, Samantha began to shake. Her bottom lip shook
and her eyes lled with tears.
***
Ngay khi máy bay cất cánh, phi công thông báo rằng họ có thể
gặp nhiễu động không khí trong suốt chuyến bay. Tín hiệu đai
an toàntiếp tục mở, rồi chẳng bao lâu sau máy bay bắt đầu xóc
nảy và rung lắc khi xuyên qua các đám mây dày đặc.
Ngồi cạnh Sophie, Samantha bắt đầu run rẩy. Môi dưới của bé
run bần bật và hai mắt đẫm nước mắt.
Sophie took her hand. “Don't worry, it's just the clouds,” she told
her sister. “We'll be ne. Did you know that clouds are only
water? Lots of tiny drops of water, and water is harder than air,
so that's why clouds make the plane go bumpety-bump, like
this…” Sophie jiggledSamantha's hand in the air. “It's more fun
this way!”
Sophie nắm lấy tay em. “Đừng sợ, đó chỉ là những đám mây
thôi”, cô nói với em. “Chúng ta sẽ ổn mà. Em có biết các đám
mây chỉ là nước thôi không? Rất nhiều giọt nước nhỏ xíu, và
nước nặng hơn không khí. Đó là lý do vì sao các đám mây lại làm
cho máy bay giật giật như thế này nè…”. Sophie cầm tay
Samantha lắc nhẹ trong không khí. “Làm thế này vui hơn đó!”
***
Samantha smiled. Sophie caught sight of Mum, craning to see
the girls through a narrow gap between the seats in front of
them.
“We'll be home soon, sweet peas. Enjoy the ride!” Mum said.
Sophie shaped the words Love you with her lips and Mum
smiled.
***
Samantha cười. Sophie bắt gặp ánh mắt mẹ khi bà nghiêng cổ
nhìn hai chị em qua khe hẹp giữa hai cái ghế trước mặt.
“Chúng ta sắp về đến nhà rồi, các con à. Vui vẻ lên nhé!”, mẹ nói.
Sophie mấp máy môi tạo khẩu hình Con Yêu Mẹ, và mẹ mỉm
cười.
Later, Sophie decided, she would say it aloud.
She knew she'd been ungrateful, but Dad was right - they were
blessed.
And of all the things to be thankful for, none was bigger than
love.
***
Lúc sau, Sophie quyết định sẽ nói to câu đó với mẹ.
Cô biết mình đã có thái độ vô ơn, nhưng ba nói đúng - họ hạnh
phúc.
Và trong tất cả mọi thứ cô cảm thấy biết ơn thì không có gì lớn
hơn tình yêu thương.
DISCUSSION QUESTIONS - CÁC
CÂU HỎI THẢO LUẬN
1) Do you enjoy holidays with your family? What do you enjoy
most about them? What do you think your parents like most
about them?
2) Who does the main planning for your family holidays? Do
you help with planning or packing?
3) What do you think your parents expect from you when you
go on a holiday?
4) What does Sophie complain about during her family holiday?
Have you ever felt annoyed or frustrated about similar things?
5) Do you put your electronic gadgets (phone, tablet, games,
etc.) away when you spend holiday time with your family?
What e ect can this have?
6) Sometimes, the annoying things that siblings or close friends
do can be even more annoying when you spend more time
together on holidays. Why?
7) Suggest some positive ways that Sophie could deal with her
frustrations about the family holiday.
8) Have you ever thanked your parents for a holiday or treat?
When you show that you are grateful for something, how does
it make the other person feel?
9) Do you think that sharing the memory of holiday time
together can make you closer to other members of your family?
10) Do you feel thankful for your family and your home? Do you
express your gratitude in words or actions?
***
1. Em có thích đi nghỉ lễ với gia đình không? Em thích điều gì
nhất về những chuyến đi đó? Em nghĩ ba mẹ em thích điều gì
nhất?
2. Ai là người lên kế hoạch cho các kỳ nghỉ của gia đình em? Em
có giúp lên kế hoạch hay sửa soạn đồ đạc không?
3. Em nghĩ ba mẹ mong chờ điều gì từ em khi đi nghỉ mát?
4. Sophie than phiền điều gì trong suốt kỳ nghỉ lễ của gia đình?
Em có bao giờ cảm thấy khó chịu hay chán nản về những điều
tương tự không?
5. Em có cất hết những đồ dùng công nghệ (điện thoại, máy tính
bảng, máy chơi điện tử,...) ở nhà khi đi nghỉ với gia đình không?
Điều này có tác động gì?
6. Đôi khi những điều khó chịu mà anh chị em hoặc bạn thân
của em làm có thể khiến em cảm thấy khó chịu hơn khi đi nghỉ
lễ cùng nhau. Tại sao vậy?
7. Hãy gợi ý một số cách hay có thể giúp Sophie hết chán nản về
kỳ nghỉ của gia đình.
8. Em có bao giờ cảm ơn ba mẹ về kỳ nghỉ hoặc về cách họ đối xử
với em không? Khi em tỏ lòng biết ơn về một điều gì đó, điều đó
sẽ khiến ngưới khác cảm thấy như thế nào?
9. Em có nghĩ rằng chia sẻ những kỷ niệm về kỳ nghỉ cùng nhau
có thể khiến em gần gũi hơn với các thành viên khác trong gia
đình không?
10. Em có cảm thấy biết ơn gia đình và nhà của mình không?
Em thể hiện lòng biết ơn đó bằng lời nói hay hành động?
First News
Chịu trách nhiệm xuất bản:
Giám đốc - Tổng Biên tập
ĐINH THỊ THANH THỦY
Chịu trách nhiệm bản thảo:
TRẦN BAN
Biên tập: Nguyễn Văn Sướng
Bìa: Nguyễn Hùng
Trình bày: Bích Trâm
Sửa bản in: Nguyễn Nguyên
Tác giả: Ken Spillman
Minh họa: James Tan
NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
62 Nguyễn Thị Minh Khai - Q.1 - TP.HCM
ĐT: 38225340 - 38296764 - 38247225 - Fax: 84.8.38222726
Email: tonghop@nxbhcm.com.vn
Sách online: www.nxbhcm.com.vn / Ebook: www.sachweb.vn
NHÀ SÁCH TỔNG HỢP 1
62 Nguyễn Thị Minh Khai, Q.1, TP.HCM - ĐT: 38 256 804
NHÀ SÁCH TỔNG HỢP 2
86 - 88 Nguyễn Tất Thành, Q.4, TP.HCM - ĐT: 39 433 868
Thực hiện liên kết
Công ty TNHH Văn hóa Sáng tạo Trí Việt (First News)
11H Nguyễn Thị Minh Khai, P. Bến Nghé, Q.1, TP. HCM
In lần thứ 1, số lượng 4.000 cuốn, khổ 14,5 x 20,5 cm tại Công
ty Cổ phần In Vườn Lài (106 Đào Duy Từ, P. 5, Q. 10, TP. HCM).
Xác nhận đăng ký xuất bản số 4637-2016/CXBIPH/04328/THTPHCM ngày 19/12/2016 - QĐXB số 1630/QĐ THTPHCM-2016 ngày 21/12/2016. In xong và nộp lưu chiểu
quý I/2017. ISBN: 978-604-58-5915-5.
THÂN GỬI QUÝ PHỤ HUYNH
VÀ QUÝ THẦY CÔ GIÁO,
C
húng ta vẫn thường lấy làm ngạc nhiên rằng đôi khi
những điều tưởng chừng như nhỏ bé, bình dị và hết sức
đơn giản lại có thể có ảnh hưởng rất lớn đến con trẻ.
Trong bộ sách này, tác giả Ken Spillman hoàn toàn không giáo
dục các em theo một khuôn mẫu lễ giáo cứng nhắc, mà thay vào
đó, ông đã dùng chính góc nhìn của trẻ thơ để biểu đạt rõ nét
những cảm xúc, sự nhạy cảm và chiều sâu suy nghĩ trong mỗi
tình huống cuộc sống hằng ngày mà các em có thể đã, đang và
sẽ gặp, song chưa có cách cư xử hay suy nghĩ thích hợp.
Bộ sách THẦN ĐỒNG TIẾNG ANH - BÉ HỌC LỄ GIÁO là những
câu chuyện đời thường, sinh động giúp các em hiểu rõ rằng
những chọn lựa, những lời hứa, những cách cư xử tuy nhỏ
nhưng sẽ góp phần lớn trong việc xây dựng nên tính cách, lễ
giáo của mỗi người.
Mỗi nhân vật tí hon sẽ thuật lại câu chuyện và cách giải quyết
tình huống của riêng mình, từ đó các độc giả nhí sẽ có thể nhìn
nhận lại bản thân, học hỏi thêm điều mới. Nhờ vậy, tính cách
tích cực sâu thẳm trong các em sẽ phát triển một cách tự nhiên.
Hơn nữa, có nhiều nghiên cứu cho rằng văn học có sức mạnh to
lớn trong việc định hình trí tuệ và tâm hồn của trẻ em. Theo học
giả Gates và Mark: “Thông qua cánh cửa văn học, chúng ta được
bước vào một thế giới vô hình, một thế giới cho phép chúng ta
có sự nhìn nhận, cảm thông, thấu hiểu đến mức cuối cùng sẽ
làm thay đổi chính cách chúng ta nhìn nhận bản thân và cuộc
sống”.
Vì thế, điểm đặc biệt nữa của bộ sách này nằm ngay chính bản
thân câu chữ tiếng Anh được chọn lọc từ 5.000 từ vựng căn bản
dành cho trẻ em.
Mỗi tập truyện chứa gần 1.000 từ vựng tiếng Anh thông dụng
sẽ giúp các em vừa trau dồi vốn từ vừa nâng cao khả năng đọc
hiểu và cách xử lý ngôn từ mang đậm tính văn học của mình.
Những từ khó sẽ được in nghiêng để các em có thể học thêm.
Tôi tin chắc các em sẽ đạt được những điều này qua bộ sách này
của Ken Spillman.
Tiến sĩ - Giáo sư phụ tá Myra Garces-Bacsal,
Điều phối viên Chương trình Thạc sĩ chất lượng cao
Học viện Giáo dục Quốc gia, Singapore
CHAPTER 1 - CHƯƠNG 1
T
he holiday was half over and Sophie was glad. Before
leaving home, she had argued that ve days on the
island wouldn't be long enough.
“Not even a week!” Sophie nagged. “Why can't we stay a week?”
Her sister, Samantha, agreed. “A week would be better, right?”
***
Kỳ nghỉ đã trôi qua một nửa và Sophie cảm thấy mừng. Trước
khi rời nhà, cô đã cãi rằng năm ngày trên đảo là không đủ lâu.
“Thậm chí còn chưa được một tuần!”, Sophie nũng nịu. “Tại sao
chúng ta không thể ở lại đó một tuần được ạ?”
Cô em gái Samantha cũng đồng ý: “Một tuần thì tốt hơn chứ, chị
nhỉ?”.
***
But after the rst two days, the holiday seemed to drag. Five
days was too long!
The island was an island and the beach resort was, well, beachy.
There was a beachy swimming pool, four beachy restaurants,
and the beach itself. Each day there was a choice of swimming,
snorkelling, or hiring something that could be paddled or
zoomed back and forth on the water until your time was up.
***
Nhưng chỉ sau hai ngày, kỳ nghỉ dường như kéo dài lê thê. Năm
ngày là quá dài!
Hòn đảo là một hòn đảo, còn khu nghỉ mát bãi biển, ừ thì, cũng
có liên quan đến biển đó. Có một hồ bơi bên bờ biển, bốn nhà
hàng bên bờ biển, và thêm cái bãi biển nữa. Ngày qua ngày cũng
chỉ có lựa chọn là bơi, lặn, hay thuê cái gì đó có thể chèo hoặc
phóng tới lui trên mặt nước để giết thời gian.
***
The rst thing Sophie noticed was the absence of kids her own
age. Everybody stayed in private chalets. Some chalets were set
in the rainforest and others - like the one Dad had chosen - were
on stilts over the water's edge.
“This place is obviously meant for old people,” Sophie said. “Or
honeymooners. Not us.”
***
Điều đầu tiên Sophie nhận thấy là ở đây vắng bóng những đứa
trẻ cỡ tuổi cô. Mọi người đều ở trong những căn nhà gỗ riêng.
Một số căn được dựng trong rừng mưa nhiệt đới và một số căn
khác - giống như căn ba chọn - được dựng trên cột gỗ ngay trên
bãi biển.
“Nơi này rõ ràng là dành cho người già”, Sophie nói. “Hoặc các
cặp đôi mới cưới. Chứ không phải cho tụi mình.”
At night in their chalet, they could hear the water lapping gently
below.
Mum thought the sound was peaceful, and Dad joked that he
must have died and gone to heaven.
Sophie and Samantha wished they could turn on the television
so that they couldn't hear it, but they weren't allowed.
***
Đêm đến, trong căn nhà gỗ, họ có thể nghe thấy tiếng sóng vỗ
nhẹ bên dưới.
Mẹ nghĩ âm thanh này thật yên bình, còn ba thì đùa rằng chắc là
ông đã chết và được lên thiên đường rồi.
Sophie và Samantha thì ước gì có thể bật ti vi lên để không phải
nghe thấy âm thanh đó, nhưng ba mẹ không cho.
It was hot, too.
Even beside the water it was hot, and breezes - when they came
- were no substitute for air - conditioning. Five minutes after a
swim or a shower, Sophie told Dad she was sticky again.
“I'm so-o hot,” Sophie complained. “I'm hot and sticky and
bored.”
***
Trời còn nóng nực nữa chứ.
Kể cả ngay sát mặt nước mà vẫn nóng, và những cơn gió nhẹ khi thổi đến - cũng chẳng thể nào thay thế được máy điều hòa.
Mới bơi hay tắm năm phút trước thôi mà Sophie đã nói với ba
rằng người cô lại nhớp nháp trở lại rồi.
“Con nónggggg quá!”, Sophie càu nhàu. “Con nóng, nhớp nháp
và chán.”
“Bored?” Dad said. “You' re bored?”
Sophie shrugged.
“Here we are, living it up on an island paradise… and you' re
bored?”
Sophie shrugged again.
***
“Chán?”, bố nói. “Con chán hả?”
Sophie nhún vai.
“Chúng ta đang ở đây, ngay trên một hòn đảo thiên đường... mà
con thấy chán à?”
Sophie lại nhún vai.
Dad gave Mum a look and then sighed.
“Okay, sweetie. Be bored then. We bought you a book at the
airport, remember? Why don't you read that?”
“I read at home,” Sophie said. “I thought this was a holiday!”
***
Ba nhìn mẹ rồi thở dài.
“Được rồi, con yêu. Ừ thì chán. Ba mẹ đã mua cho con một quyển
sách ở sân bay, nhớ không nào? Sao con không đọc nó đi?”
“Con đọc ở nhà rồi ạ”, Sophie nói. “Con tưởng đây là kỳ nghỉ
chứ.”
CHAPTER 2 - CHƯƠNG 2
T
o Sophie, it felt just like being shipwrecked - and she
could think of better people to be shipwrecked with than
her parents and an annoying little sister.
Samantha was annoying enough at home, but there, Sophie
could at least close a door to escape her sister's immature
clowning around.
***
Sophie cảm thấy cứ như mình đang bị đắm tàu - và cô có thể
nghĩ đến những người tuyệt vời hơn để cùng đắm tàu chứ
không phải là ba mẹ và đứa em gái phiền phức này.
Lúc ở nhà Samantha đã đủ gây phiền toái rồi, nhưng ít ra ở đó
Sophie còn có thể đóng cửa phòng để thoát khỏi những trò hề
trẻ con của em mình.
***
At home, too, there were earphones to block out Samantha's
sing-song conversations about the dumbest things. Here,
according to Mum and Dad, handphones and other electronic
devices didn't belong.
“But why don't they belong?” Sophie had asked. “Because they' ll
make us remember this is the twenty- rst century?”
***
Ở nhà còn có tai nghe để chặn những câu nói ê a của Samantha
về những điều ngớ ngẩn nhất. Còn ở đây, theo ba mẹ thì điện
thoại di động và các thiết bị điện tử khác không thuộc về chốn
này.
“Nhưng tại sao chúng lại không thuộc về nơi này ạ?”, Sophie
thắc mắc. “Vì chúng sẽ khiến ta nhớ rằng đây là thế kỷ 21 sao
ạ?”
Dad had laughed, but Mum wanted to explain.
“Sophie, I told you that we needed this holiday to spend time
together, right? I mean really spend time. Your father and I still
remember the family holidays we had when we were your age.
These times are important - they make memories.”
***
Ba bật cười, nhưng mẹ muốn giải thích.
“Sophie ơi, mẹ đã nói với con là mình cần kỳ nghỉ này để dành
thời gian bên nhau, phải không nào? Ý của mẹ là thực sự dành
thời gian cho nhau. Ba và mẹ vẫn còn nhớ đến những kỳ nghỉ
mà ba mẹ đã trải qua khi ở độ tuổi các con. Những khoảng thời
gian như thế này rất quan trọng - chúng sẽ tạo nên những kỷ
niệm.”
***
Sophie didn't get it. “So, why don't you want my memories to
include my favourite music?”
Mum wasn't going to give up. “Think about a typical night at
home,” she said. “Your father is watching the news. If I' ve
nished cleaning up after dinner, I' d be on the computer. You'
ve got homework and your earphones, and Samantha is playing
some games on Dad's phone.”
The scene described by Mum was one Sophie recognised. She
had been part of it hundreds of times and knew she' d be part of
it a thousand more times - at least.
***
Sophie không hiểu. “Vậy tại sao mẹ lại không muốn kỷ niệm của
con bao gồm cả những bài nhạc mà con yêu thích?”
Mẹ vẫn không chịu. “Con hãy nghĩ về một buổi tối điển hình ở
nhà mình mà xem”, mẹ nói. “Ba con xem thời sự. Nếu dọn rửa
chén bát xong thì mẹ sẽ dùng máy vi tính. Con làm bài tập về
nhà và đeo tai nghe nhạc, còn Samantha thì chơi điện tử trên di
động của ba.”
Sophie có thể hình dung ra khung cảnh mẹ đang mô tả. Cô đã là
một phần của khung cảnh đó hàng trăm lần và sẽ tiếp tục là
một phần của nó - ít nhất - cũng hơn một ngàn lần nữa.
“You know what I'm talking about, right?” Mum continued.
“Sweetie, that's not actually being together, is it? We're all
plugged in, or glued to a screen - it's like we're in di erent
zones.”
Sophie nodded. She understood, but felt more shipwrecked than
ever.
“Con hiểu mẹ đang nói gì mà, phải không?”, mẹ tiếp tục. “Con
yêu à, đó không thực sự là ở cùng nhau, đúng không con? Cả nhà
chúng ta đều sử dụng thiết bị công nghệ hoặc dán mắt vào màn
hình điện tử - cứ như chúng ta đang ở những khu vực khác nhau
vậy.
Sophie gật đầu. Cô hiểu những gì mẹ nói, nhưng lại càng có cảm
giác “đắm tàu” hơn bao giờ hết.
CHAPTER 3 - CHƯƠNG 3
“
W
e' re really so blessed,” Dad said. He'd said the same
thing each night since they arrived, sitting back in
his chair at whichever one of the beachy
restaurants they had chosen. “Just look - all this
beautiful food.”
Sophie rolled her eyes.
***
“Chúng ta thật sự rất hạnh phúc”, ba nói. Kể từ khi đến đây,
hàng đêm ba cứ lải nhải điều này suốt. Hễ ngồi xuống ghế của
bất kỳ nhà hàng biển nào mà ba mẹ chọn là ba lại vui vẻ cất lời.
“Nhìn nè các con - tất cả thức ăn đều ngon mắt.”
Sophie trợn mắt.
***
She had been rolling her eyes a lot lately. It was so much easier
than saying what she felt.
What Sophie felt was complicated.
***
Gần đây cô trợn mắt khá nhiều. Làm vậy đơn giản hơn rất nhiều
so với việc phải nói ra cảm nhận của mình.
Những gì Sophie cảm nhận quá ư phức tạp.
It was big.
It was a lot of things, all wrapped up in a bundle.
It was boredom with just about everything, including this
boring old island.
It was never knowing how to “apply herself” in the way her
school reports recommended.
It was not having her own phone and never being allowed to
chat with friends on the Internet.
It was having cheap haircuts and practical shoes.
It was being compared with Samantha, who seemed happy no
matter what.
***
Quá nhiều thứ.
Quá nhiều thứ cứ đan xen nhau, cả thảy được gói lại thành một
bó.
Đó là nỗi buồn chán với gần như tất cả mọi thứ, gồm cả hòn đảo
già cả, chán ngắt này.
Đó là việc cô không bao giờ biết phải làm sao để có thể “thích
ứng” như lời thầy cô khuyên trong học bạ.
Đó là việc cô không có điện thoại riêng và không bao giờ được
phép chuyện trò với bạn bè trên Internet.
Đó là việc sở hữu những kiểu tóc rẻ tiền và những đôi giày thông
dụng.
Đó là cảm giác bị so sánh với Samantha vì con bé dường như
luôn vui vẻ bất chấp mọi chuyện.
“Sophie,” Dad said. He wasn' t growling at her. When he was in a
good mood, he just gave advice. “You' ll never really be able to
enjoy life until you learn to appreciate all that we' ve been
given.”
***
“Sophie này!”, ba nói. Ba không cằn nhằn cô. Khi có tâm trạng
vui, ba chỉ đưa ra lời khuyên. “Con sẽ không bao giờ có thể thực
sự tận hưởng cuộc sống nếu con không học cách trân trọng
những gì con có.”
“Think of all the terrible things going on in the world,” Mum
added. “And the people who have nothing.” She told Sophie
about a tsunamithat had attened the whole resort ten years
earlier. “How awful! People were clinging to palm trees for dear
life. We really are very lucky.”
Dad felt blessed and Mum felt lucky - but what they felt didn't
stop Sophie from feeling bored. Somehow it annoyed her even
more.
***
“Hãy nghĩ đến tất cả những điều kinh khủng đang xảy ra trên
thế giới xem”, mẹ tiếp lời. “Và những người không có gì nữa.” Mẹ
kể cho cô nghe về cơn sóng thần đã san bằng toàn bộ khu nghỉ
dưỡng cách đây mười năm. “Thật khủng khiếp! Người ta phải đu
bám vào cây dừa để sống sót. Chúng ta thực sự rất may mắn!”
Ba cảm thấy hạnh phúc còn mẹ cảm thấy may mắn - nhưng
những gì ba mẹ cảm nhận không khiến Sophie hết chán nản.
Không hiểu sao nó càng khiến cô cảm thấy khó chịu hơn.
Soon, without even realising it, Sophie was taking out all of her
discontent on Samantha.
She felt as if everything Samantha said or did was intended to
in ict a kind of torture.
It wasn' t just her noise. It was her enthusiasm - the way she got
excited about anything they did. It was as if Samantha gave o
bubbles of energy. All Sophie wanted to do was pop them.
***
Ngay sau đó, dù không nhận ra nhưng Sophie đã trút tất cả
buồn bực lên Samantha.
Cô cảm thấy như thể mọi lời nói và hành động của Samantha
đều cố ý tra tấn cô kiểu gì đó.
Đó không chỉ là việc bé ồn ào. Mà đó chính vì sự nhiệt tình của
bé - cái cách bé tỏ ra hứng thú với bất kỳ điều gì mà họ làm. Cứ
như thể Samantha tỏa ra các bong bóng năng lượng vậy. Điều
duy nhất Sophie muốn làm là chích nổ chúng.
“Will you please stop humming that song,” Sophie would say.
Or: “I told you, sto-op bugging me-e!”
Or: “Mum, Samantha is wobbling her leg all the time. It's so
irritating.”
Or even: “Calm down, Sammy, you might explode. It's not that
exciting.”
***
“Em làm ơn ngừng lải nhải bài hát đó được không?”, Sophie sẽ
nói.
Hoặc: “Chị nói rồi, đừnnggg làm chiiiị nổi cáu nữa.”
Hay như: “Mẹ, Samantha cứ rung chân hoài. Bực bội quá đi!”
Hay thậm chí là: “Yên nào, Sammy. Em tăng động quá đi. Vui
đến thế à!”
***
Samantha's state of joy made Dad and Mum happy, and the
happier they were with her, the more unhappy they seemed to
be with Sophie.
When Sophie pushed Samantha over, Mum grabbed Sophie's
arm and held it tight.
“Why did you do that?” Mum demanded to know.
***
Trạng thái vui vẻ của Samantha khiến ba mẹ hạnh phúc, và họ
càng hạnh phúc hơn với bé thì dường như lại càng không vui
với Sophie.
Khi Sophie xô Samantha ngã, mẹ nắm lấy cánh tay cô và siết
chặt.
“Tại sao con làm thế?”, mẹ gắt gao muốn biết lý do.
Sophie kicked a pebble on the path. “I asked her a million times
to stop, but she wouldn' t.”
“That' s no reason to push her, is it?”
Sophie began to cry. “You always take Samantha's side. You
dont't even care how I feel.”
“Tell us how you feel, Sophie. Why don' t you tell us?”
“I want another family,” Sophie bawled. “And I want to go
home.”
***
Sophie đá một viên sỏi trên đường đi.
“Con đã bảo nó hàng triệu lần là đừng ồn ào nữa mà nó không
chịu nghe.”
“Đó không phải là lý do để con xô em, đúng không?”
Sophie bắt đầu nức nở. “Mẹ luôn bênh Samantha. Mẹ thậm chí
còn chẳng quan tâm đến cảm nhận của con.”
“Nói cho ba mẹ biết cảm nhận của con đi nào, Sophie. Sao con
không nói với ba mẹ?”
“Con muốn một gia đình khác”, Sophie khóc rống lên. “Và con
muốn về nhà.”
CHAPTER 4 - CHƯƠNG 4
F
inally they were leaving.
The boat taking them to a bigger island, which was
really just an airport and shopping mall, chugged slowly
through the still blue water.
Azure, Dad insisted - the sea was azure, not just blue.
***
Cuối cùng, họ rời hòn đảo.
Chiếc thuyền đưa họ đến một hòn đảo lớn hơn, thực ra đó là sân
bay và trung tâm thương mại, nó nổ máy xình xịch, nhẹ nhàng
lướt trên mặt biển trong xanh.
Xanh ngắt, ba quả quyết nói - biển xanh ngắt chứ không chỉ là
xanh.
***
“Azure,” Samantha kept saying. “Asia azure, azure Asia, Asia
azure… ”
Sophie felt like throwing Samantha overboard. It was no use
telling her to be quiet - Mum and Dad had made it quite clear
that Sophie should keep her thoughts to herself.
“If you can't enjoy this holiday, please let us enjoy it,” Dad had
told her.
***
“Xanh ngắt”, Samantha tía lia liên hồi. “Châu Á xanh ngắt, xanh
ngắt châu Á, châu Á xanh ngắt,…”
Sophie cảm thấy muốn ném Samantha ra khỏi khoang thuyền.
Bắt nó im lặng cũng vô ích - ba mẹ đã tỏ rõ là Sophie nên giữ
những suy nghĩ kiểu đó cho riêng mình.
“Nếu con không thể tận hưởng kỳ nghỉ này thì làm ơn để cả nhà
tận hưởng nó”, ba đã nói với cô như thế.
After the boat ride, there was a short taxi trip and a ninetyminute wait at the airport.
Sophie sat with her arms and legs crossed. Dad had four passports
in one hand and Mum's hand in the other. They were almost
ignoring her now, but Sophie couldn't help noticing that they
looked happy - happier than they ever seemed back home.
***
Sau khi đi thuyền, cả nhà tiếp tục đi taxi một đoạn đường ngắn
và chờ 90 phút ở sân bay.
Sophie ngồi bó gối. Một tay ba cầm bốn cái hộ chiếu, tay còn lại
nắm lấy tay mẹ. Lúc này, họ gần như phớt lờ Sophie, nhưng cô
lại không thể ngừng để ý đến họ, trông họ có vẻ rất hạnh phúc thậm chí còn có vẻ hạnh phúc hơn những lần trở về nhà trước
đây.
“Dad, can I hold my passport?” Sophie asked.
“Only for a minute,” Dad replied. “It belongs here.” He pointed to
the four passports together. “These are a family.” He smiled at
his joke and, for the rst time in a while, Sophie didn' t feel like
rolling her eyes.
Instead, she smiled back.
***
“Ba, con có thể cầm hộ chiếu của mình được không ạ?”, Sophie
hỏi.
“Chỉ một phút thôi nhé!”, ba trả lời. “Nó thuộc về nơi này”, ba chỉ
vào bốn cái hộ chiếu đang đặt cạnh nhau. “Chúng là một gia
đình”, ba cười với lời nói đùa của mình; và lần đầu tiên trong
thoáng chốc, Sophie không cảm thấy muốn trợn mắt.
Thay vào đó, cô cười đáp lại.
Sophie's mood lifted. It felt good to smile, and to touch Dad's
ngers for a moment when he handed her the passport.
Seeing the hands of her parents, gently resting together, lled
her heart. She wished she saw it more often. And in Dad's own
way, he had said he loved her. No matter how badly she
behaved, she belonged. They all belonged together.
Tâm trạng của Sophie phấn chấn hẳn lên. Cái cảm giác khi vui
cười và chạm vào các ngón tay của ba trong một thoáng khi ông
đưa hộ chiếu cho cô thật sự rất tốt.
Nhìn ba mẹ tay trong tay dịu dàng, trái tim cô bỗng dưng thấy
ấm áp. Cô thầm mong ước cô có thể nhìn thấy điều này thường
xuyên hơn. Và theo cách riêng của mình, ba cũng đã thể hiện
ông cũng yêu thương cô. Dù cô có cư xử tệ hại thế nào thì cô vẫn
thuộc về gia đình này. Cả gia đình là thuộc về nhau.
Just after take-o , the pilot announced that they were expecting
turbulence during the ight. The seatbelt sign stayed on, and
soon the plane was bumping and jolting through thick clouds.
Beside Sophie, Samantha began to shake. Her bottom lip shook
and her eyes lled with tears.
***
Ngay khi máy bay cất cánh, phi công thông báo rằng họ có thể
gặp nhiễu động không khí trong suốt chuyến bay. Tín hiệu đai
an toàntiếp tục mở, rồi chẳng bao lâu sau máy bay bắt đầu xóc
nảy và rung lắc khi xuyên qua các đám mây dày đặc.
Ngồi cạnh Sophie, Samantha bắt đầu run rẩy. Môi dưới của bé
run bần bật và hai mắt đẫm nước mắt.
Sophie took her hand. “Don't worry, it's just the clouds,” she told
her sister. “We'll be ne. Did you know that clouds are only
water? Lots of tiny drops of water, and water is harder than air,
so that's why clouds make the plane go bumpety-bump, like
this…” Sophie jiggledSamantha's hand in the air. “It's more fun
this way!”
Sophie nắm lấy tay em. “Đừng sợ, đó chỉ là những đám mây
thôi”, cô nói với em. “Chúng ta sẽ ổn mà. Em có biết các đám
mây chỉ là nước thôi không? Rất nhiều giọt nước nhỏ xíu, và
nước nặng hơn không khí. Đó là lý do vì sao các đám mây lại làm
cho máy bay giật giật như thế này nè…”. Sophie cầm tay
Samantha lắc nhẹ trong không khí. “Làm thế này vui hơn đó!”
***
Samantha smiled. Sophie caught sight of Mum, craning to see
the girls through a narrow gap between the seats in front of
them.
“We'll be home soon, sweet peas. Enjoy the ride!” Mum said.
Sophie shaped the words Love you with her lips and Mum
smiled.
***
Samantha cười. Sophie bắt gặp ánh mắt mẹ khi bà nghiêng cổ
nhìn hai chị em qua khe hẹp giữa hai cái ghế trước mặt.
“Chúng ta sắp về đến nhà rồi, các con à. Vui vẻ lên nhé!”, mẹ nói.
Sophie mấp máy môi tạo khẩu hình Con Yêu Mẹ, và mẹ mỉm
cười.
Later, Sophie decided, she would say it aloud.
She knew she'd been ungrateful, but Dad was right - they were
blessed.
And of all the things to be thankful for, none was bigger than
love.
***
Lúc sau, Sophie quyết định sẽ nói to câu đó với mẹ.
Cô biết mình đã có thái độ vô ơn, nhưng ba nói đúng - họ hạnh
phúc.
Và trong tất cả mọi thứ cô cảm thấy biết ơn thì không có gì lớn
hơn tình yêu thương.
DISCUSSION QUESTIONS - CÁC
CÂU HỎI THẢO LUẬN
1) Do you enjoy holidays with your family? What do you enjoy
most about them? What do you think your parents like most
about them?
2) Who does the main planning for your family holidays? Do
you help with planning or packing?
3) What do you think your parents expect from you when you
go on a holiday?
4) What does Sophie complain about during her family holiday?
Have you ever felt annoyed or frustrated about similar things?
5) Do you put your electronic gadgets (phone, tablet, games,
etc.) away when you spend holiday time with your family?
What e ect can this have?
6) Sometimes, the annoying things that siblings or close friends
do can be even more annoying when you spend more time
together on holidays. Why?
7) Suggest some positive ways that Sophie could deal with her
frustrations about the family holiday.
8) Have you ever thanked your parents for a holiday or treat?
When you show that you are grateful for something, how does
it make the other person feel?
9) Do you think that sharing the memory of holiday time
together can make you closer to other members of your family?
10) Do you feel thankful for your family and your home? Do you
express your gratitude in words or actions?
***
1. Em có thích đi nghỉ lễ với gia đình không? Em thích điều gì
nhất về những chuyến đi đó? Em nghĩ ba mẹ em thích điều gì
nhất?
2. Ai là người lên kế hoạch cho các kỳ nghỉ của gia đình em? Em
có giúp lên kế hoạch hay sửa soạn đồ đạc không?
3. Em nghĩ ba mẹ mong chờ điều gì từ em khi đi nghỉ mát?
4. Sophie than phiền điều gì trong suốt kỳ nghỉ lễ của gia đình?
Em có bao giờ cảm thấy khó chịu hay chán nản về những điều
tương tự không?
5. Em có cất hết những đồ dùng công nghệ (điện thoại, máy tính
bảng, máy chơi điện tử,...) ở nhà khi đi nghỉ với gia đình không?
Điều này có tác động gì?
6. Đôi khi những điều khó chịu mà anh chị em hoặc bạn thân
của em làm có thể khiến em cảm thấy khó chịu hơn khi đi nghỉ
lễ cùng nhau. Tại sao vậy?
7. Hãy gợi ý một số cách hay có thể giúp Sophie hết chán nản về
kỳ nghỉ của gia đình.
8. Em có bao giờ cảm ơn ba mẹ về kỳ nghỉ hoặc về cách họ đối xử
với em không? Khi em tỏ lòng biết ơn về một điều gì đó, điều đó
sẽ khiến ngưới khác cảm thấy như thế nào?
9. Em có nghĩ rằng chia sẻ những kỷ niệm về kỳ nghỉ cùng nhau
có thể khiến em gần gũi hơn với các thành viên khác trong gia
đình không?
10. Em có cảm thấy biết ơn gia đình và nhà của mình không?
Em thể hiện lòng biết ơn đó bằng lời nói hay hành động?
 








Các ý kiến mới nhất