Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

VỪA ĐI ĐƯỜNG VỪA KỂ CHUYỆN

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 09h:49' 05-01-2024
Dung lượng: 794.0 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích: 0 người
Chịu trách nhiệm xuất bản
GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PGS.TS. PHẠM MINH TUẤN
Chịu trách nhiệm nội dung
PHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP
TS. ĐỖ QUANG DŨNG
ThS. PHẠM THỊ KIM HUẾ
TS. HOÀNG MẠNH THẮNG
ThS. NGUYỄN TRƯỜNG TAM
ThS. NGUYỄN VIỆT HÀ

Biên tập nội dung:

Trình bày bìa:
Chế bản vi tính:
Đọc sách mẫu:

ĐƯỜNG HỒNG MAI
HOÀNG MINH TÁM
NGUYỄN TRƯỜNG TAM
VIỆT HÀ

Số đăng ký kế hoạch xuất bản: 427-2021/CXBIPH/19-365/CTQG.
Số quyết định xuất bản: 22-QĐ/NXBCTQG, ngày 18/02/2021.
Nộp lưu chiểu: tháng 4 năm 2021.
Mã ISBN: 978-604-57-6507-4.

Biên mục trên xuất bản phẩm
của Thư viện Quốc gia Việt Nam
T. Lan
Vừa đi đường vừa kể chuyện / T. Lan. - Xuất bản lần
thứ 10. - H. : Chính trị Quốc gia, 2020. - 180tr. ; 15cm
ISBN 9786045758021
1. Hồ Chí Minh, 1890-1969, Lãnh tụ Cách mạng,
chính trị gia 2. Cuộc đời 3. Hoạt động cách mạng
959.704092 - dc23
CTM0393p-CIP

LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ kính yêu
của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam
ta, nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam, chiến sĩ
lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế. Cả cuộc đời và sự nghiệp của Người
là tấm gương sáng cho toàn Đảng, toàn dân
ta noi theo.
Để có thêm tài liệu nghiên cứu, học tập và làm
theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất
bản lần thứ mười cuốn sách Vừa đi đường
vừa kể chuyện của tác giả T. Lan theo bản
in năm 1976 của Nhà xuất bản Sự thật.
Nội dung chính của cuốn sách ghi lại một số
mẩu chuyện về đời hoạt động cách mạng của

5

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian Người
hoạt động ở Pháp, Liên Xô, Trung Quốc và một
số nước khác vào khoảng từ năm 1923 đến
trước ngày Cách mạng Tháng Tám 1945 thành
công. Phần cuối của cuốn sách ghi lại một số
hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong
những năm nhân dân ta kháng chiến chống
thực dân Pháp. Những chuyện này do Chủ tịch
Hồ Chí Minh kể lại trên đường Người ra mặt
trận trong Chiến dịch Biên giới năm 1950.
Nội dung cuốn sách giúp chúng ta thấy
rằng: với lòng yêu nước nồng nàn, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã tiếp thu ảnh hưởng của Cách
mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, Người đã sớm
đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và đã vận
dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào
hoàn cảnh nước ta, vạch ra đường lối cách
mạng đúng đắn, độc lập, tự chủ chỉ lối cho
cách mạng Việt Nam từng bước tiến lên, từ
thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cuốn sách

6

cũng cho ta thấy rõ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
trải qua những năm tháng hoạt động cách
mạng rất oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh,
muôn vàn khó khăn phức tạp nhưng vô cùng
cao thượng và phong phú. Người đã nêu tấm
gương sáng ngời về đạo đức cách mạng trong
sáng và đẹp đẽ, thể hiện ý chí cao cả quyết
tâm cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp cách
mạng của nhân dân ta và nhân dân thế giới.
Đọc cuốn sách này chúng ta càng hiểu thêm
thân thế và sự nghiệp hoạt động cách mạng
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, càng kính yêu vô
hạn và biết ơn sâu sắc công lao trời biển của
Người đối với sự nghiệp cách mạng vĩ đại và vẻ
vang của Đảng ta, của dân tộc ta. Chúng ta
nguyện ra sức thực hiện khẩu hiệu “Sống,
chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác
Hồ vĩ đại!”, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững
bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.

7

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn
đọc và mong bạn đọc góp ý xây dựng để lần
xuất bản sau được tốt hơn.
Tháng 6 năm 2020
NHÀ XUẤT BẢN
CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

8

ĐI THĂM MẶT TRẬN
Chuyện này bắt đầu cách đây đã 40 năm
về trước.
Chúng tôi được nghe kể lại cách đây
hơn 10 năm. Tôi nhớ được thế nào xin
thuật lại thế ấy.
Năm 1950, ta chuẩn bị đánh quét giặc
Pháp ra khỏi đường số 4 và giải phóng
biên giới Việt - Trung. Bác quyết định đi
thăm mặt trận.
Để Bác đi đỡ mệt, chúng tôi làm một
chiếc cáng. Gọi là “cáng” cho oai, chứ sự
thật chỉ là một tấm vải thô, hai đầu cột
chặt vào một đoạn tre, một người có thể
nằm để hai người khiêng. Nhưng Bác bảo
thôi không dùng đến.
9

Bác cùng chúng tôi đi bộ từ Phủ Chủ
tịch ở Tuyên Quang đến mặt trận biên
giới, rồi đi ngược đến tỉnh lỵ Cao Bằng,
công việc xong lại trở về Tuyên Quang.
Xin thưa rằng, trong câu chuyện này
nhiều danh từ chỉ có nghĩa thô sơ thôi.
Như “Phủ Chủ tịch” chỉ là một túp nhà
sàn, bốn bề không phên không vách, làm
ở trong rừng, xây dựng một ngày là xong;
ở vài tháng rồi lại dời đi nơi khác.
Đối với chúng tôi, cuộc đi này thật vất
vả, nhưng cũng thật thú vị.
Đi theo Bác có: một tiểu đội bảo vệ,
một thầy thuốc - bác sĩ Chân, đồng chí
Thành và tôi, T. Lan. Muốn đi nhanh,
Bác cho đội bảo vệ đi trước vài mươi phút,
rồi Bác và ba anh em chúng tôi đi sau.
Để tránh máy bay địch, chúng tôi khi
thì đi ban đêm, khi thì đi đường rừng.
Sáng dậy đi thật sớm. Đến trưa, hễ gặp
10

một ngọn suối trong, có cây cao bóng mát,
có những tảng đá to, thì Bác bảo dừng lại.
Giở cơm nắm ra ăn với thịt Việt Minh
(một cân thịt vằm với một cân muối và
một cân ớt). Ăn xong, mỗi người nằm nghỉ
lưng trên một tảng đá, tha hồ mà “vui
thú lâm tuyền”. Nghỉ một tiếng đồng hồ,
rồi lại tiếp tục đi.
Phần thì để giữ bí mật, phần thì không
muốn làm phiền đồng bào, mỗi tối, chúng
tôi thường đóng quân ở một ngôi đình, ngôi
chùa, hoặc một cái lán bỏ hoang. Mấy
đống lá cây, phủ thêm mấy tấm vải bạt, ở
giữa đốt bếp lửa, thế là thành “hành
doanh” của đội “phụ tử binh”1 chúng tôi.
Tôi còn nhớ một lần đi đêm, trời đã
khuya, thì may gặp một cái quán làm
bằng vài tấm tranh cột trên bốn cái cọc tre.
________________
1. Nghĩa là quân đội cha và con.

11

Ban ngày, đồng bào miền núi thường đưa
chuối, sắn, mía, khoai, v.v. treo vào đó.
Khách qua đường ai muốn ăn thì cứ ăn,
ăn hết bao nhiêu, khách tự tính giá cho
phải chăng và tự bỏ tiền vào một cái ống
nứa để sẵn ở đó. Tối đến, chủ quán ra thu
dọn số hàng còn lại và lấy tiền về, không
bao giờ thâm vào vốn. Trước quán có một
cái “ghế dài” làm bằng một đoạn cây to và
cong queo, gác trên hai chữ X bằng nứa
để cho khách ngồi. Bác đặt balô xuống,
ghé lưng vào ghế, hai chân hai tay giữ lấy
ghế cho khỏi ngã... Một lát sau, Bác đã
ngủ ngon!
Có đêm, đang đi giữa đường thì nghe
máy bay địch ném bom phía trước và
phía sau, như chúng muốn chặn đường
mình. Nhưng kinh nghiệm cho biết rằng
chúng chỉ ném lung tung để phá đường
giao thông và doạ các đội vận tải của ta.
12

Hôm nào trời nắng ráo, thì vừa đi vừa
“ngoạn thủy, du sơn” cũng thích. Nhưng
hôm nào trời mưa to thì cũng khổ thật.
Các toán vắt “lợi dụng thời cơ” mà tấn
công chúng tôi; thêm vào đó là đường
trơn, gió rét. Tình cảnh ấy khiến tôi nhớ
lại câu đối mà cha tôi thường đọc:
“Đi đường đất thịt trơn như mỡ
Ngồi gốc cây da rét tận xương”
Có những đoạn đường đất đỏ, bùn lút
mắt cá, đi một bước, trượt hai bước. Bác
bảo rút dép cao su ra, xắn quần quá đầu
gối, tay thì chống gậy mà đi. Trong mấy
anh em chúng tôi, bác sĩ Chân đi kém nhất,
mà lại có nhiệm vụ phải đi theo kịp Bác.
Nhiều khi đồng chí ấy muốn nghỉ chân,
nhưng không dám nói. Một buổi sáng, mưa
như đê trên trời bị vỡ, sau khi đi được vài
tiếng đồng hồ, thì thấy mấy mái nhà
nhấp nhô dưới rừng cây cổ thụ. Nỗi lòng
13

không nín được nữa, bác sĩ ta bèn thốt ra
một tiếng, chỉ một tiếng thôi: “Nhà!”.
Bác cười và bảo: “Đúng rồi! Đó là lán
của các anh em vận tải đấy...”. Chúng tôi
hiểu ý Bác, nhìn nhau cười thầm.
Đến đường số 4, đồng chí tổng tư lệnh
đưa một chiếc xe díp ra đón. Chúng tôi đã
mừng và khẽ bảo nhau: “Bây giờ khỏi
cuốc bộ rồi!”. Không ngờ Bác bảo đồng chí
cán bộ “đưa xe về cho bộ đội dùng chở tiếp
tế. Bác đi bộ quen rồi, không cần đi xe”.
Trên đường đi, Bác thường ghé thăm
một cách bất thình lình đồng bào các bản
làng và các đơn vị bộ đội. Anh em chiến sĩ
và cán bộ thấy Bác đến một cách đột
ngột, đầu thì ngơ ngác, rồi thì mừng
quýnh lên, reo hò, nhảy nhót, quây quần
lấy Bác, có khi quên cả trật tự. Sau khi
xem tận nơi bếp nấu, chỗ ở, công tác vệ
sinh, Bác thân mật hỏi thăm sức khỏe
14

mọi người, dặn dò, phê bình, khuyến
khích mấy lời như cha nói với đàn con rồi
lại tiếp tục đi.
Chúng tôi được biết rằng sau những
cuộc đến thăm “du kích” của Bác, kết quả
là về tinh thần thì bộ đội thêm phấn
khởi hăng hái; về vật chất thì anh em
càng thêm ngăn nắp và càng chú ý công
tác vệ sinh.
Trong chiến dịch này, bộ đội ta tỏ ra
rất anh dũng, điều đó ai cũng biết. Đây
tôi chỉ muốn nói thêm rằng nhân dân ta
cũng anh dũng vô cùng. Đồng bào các dân
tộc đi dân công không quản dãi nắng dầm
mưa, không quản trèo đèo lội suối, không
quản máy bay địch uy hiếp suốt ngày, họ
luôn luôn vui vẻ, làm tròn nhiệm vụ. Một
hôm, trời vừa ửng sáng, Bác ghé thăm
một xóm ở gần đường. Ngoài đồng ruộng
thấy mấy trăm chị em dân công, Kinh có,
15

Tày có, Nùng có, Mán có... Người thì vừa
nhóm bếp nấu cơm, vừa chuyện trò vui
vẻ. Người thì chụm năm chụm ba, đang
ngồi dựa lưng vào nhau mà ngủ. Bác hỏi
mấy chị đang nhóm lửa: “Các cô cả đêm
ngồi ngủ ngoài trời như vậy sao?”.
Các chị trả lời: “Vâng ạ, nhà đồng bào
chật, chỉ đủ chỗ để chứa lương thực của
bộ đội cho khỏi ướt. Các cháu ngủ ngoài
đồng thế này càng vui...”.
Bác ôn tồn khen ngợi chị em, rồi bảo
chúng tôi: “Bộ đội ta dũng cảm như vậy,
nhân dân ta dũng cảm như vậy, ta nhất
định thắng, địch nhất định thua”.
Lời nói của Bác đã thành sự thật. Trận
ấy ta thắng to, tiêu diệt được nhiều địch,
giải phóng được biên giới, bắt được ba tên
quan năm.
Ta tạm giữ ba tên quan năm này trong
những hang núi. Bác hoá trang làm một
16

cán bộ mới bị thương, lấy vải băng che
tóc, che râu, rồi đến hỏi chuyện chúng.
Tên quan năm thầy thuốc tỏ vẻ hối hận
và nói: “Thôi, thôi! Tôi chán ngấy chiến
tranh lắm rồi! Chính phủ Pháp đã tuyên
truyền láo toét. Chúng nói Việt Minh chỉ
là một nhóm phiến loạn, không có quần
chúng ủng hộ... Bây giờ tôi thấy rõ rồi.
Nếu được tha về, tôi sẽ nói hết sự thật
cho nhân dân Pháp biết...”.
Tên quan năm Lơpadơ kéo quân từ
phía Lạng Sơn lên hòng cứu toán quân
địch từ Cao Bằng chạy xuống. Nhưng đến
nửa đường thì đoàn quân của y bị đánh
tan và y bị ta tóm cổ. Anh chàng này, nói
phô, kín đáo. Nhìn ra những đội dân công
của ta, hàng nghìn người kìn kịt gánh
lương thực và đạn dược, liên tiếp nhau trên
đường như những con rồng dài uốn khúc,
y nói với một giọng buồn bã: “Tôi nhận đó
17

là lực lượng đã làm cho các ông thắng
lợi”. Bác nói: “Ông nói đúng. Đó chính là
lực lượng đã làm cho các ông thất bại”.
Tên quan năm Sáctông, chỉ huy quân
Pháp ở Cao Bằng, vừa bỏ tỉnh lỵ kéo cả
tiểu đoàn định chạy về xuôi, đến nửa
đường cũng bị ta đánh tan và bắt được
cả. Y là một tên phát xít hạng nặng. Vừa
gặp Bác, nó than phiền ngay: “Chà! ông
nghĩ, mấy hôm liền, râu không được cạo,
giày không được đánh bóng...”. Nó nói
tiếp: “Nếu còn có thống chế Pêtanh cầm
quyền ở Pháp, thì chắc không xảy ra
cuộc chiến tranh này. Nếu có chiến
tranh thì quân đội Pháp cũng không đến
nỗi thất bại...”.
Bác không ngắt lời nó, mời nó hút thuốc
và ôn tồn khơi cho nó nói. Cuối cùng nó
cũng phải nhận rằng chiến tranh xâm
lược là phi nghĩa, thực dân Pháp đã thua,
18

quân đội ta thắng. Rồi nó nói thêm: “Như
thái độ của ông, thì tôi có thể nói chuyện.
Còn các cán bộ trẻ tuổi của ông muốn thuyết
phục tôi, thì thuyết phục sao được...”.
Sau khi đã xem xét các vùng Đông
Khê và Thất Khê, Bác lên thăm thị xã
Cao Bằng mới được giải phóng, dặn dò
cán bộ những công việc cần phải làm, rồi
lại trở về Tuyên Quang.
Trong những ngày đi đường, Bác dạy
chúng tôi học những đoạn Kim Vân Kiều
và Chinh Phụ Ngâm, hoặc kể chuyện đời
xưa, chuyện tiếu lâm. Vừa đi vừa ngâm
nga nói cười như vậy làm cho mọi người
khuây khoả, đi đường xa nhưng quên mệt
mỏi. Cũng có khi Bác kể chuyện cho
chúng tôi nghe. Sau đây là tóm tắt câu
chuyện Bác đã kể:

19

CÂU CHUYỆN BẮT ĐẦU
Hồi đó Bác trọ nhờ nhà luật sư Phan
Văn Trường ở Pari. Buổi sáng thì đi làm
nghề tô ảnh phóng đại để lấy tiền ăn.
Buổi chiều thì hoạt động cách mạng.
Chính phủ Pháp cho hai tên mật thám
đêm ngày theo dõi Bác.
Chính phủ Pháp lúc đó do Poanhcarê
cầm đầu. Y là một người cực kỳ phản
động. Chính y đã chủ trương đánh Cách
mạng Nga. Khi quân sự đã thất bại, y
chủ trương tẩy chay kinh tế Nga. Trong
một cuộc tổng tuyển cử hạ nghị viện
Pháp, y đã cho dán khắp cả nước bức vẽ
tuyên truyền chống cộng, dưới nhan đề là
20

“Bônsơvích hai hàm răng ngậm dao”.
Trong bức vẽ thì phía sau là những ngôi
nhà đang cháy ngùn ngụt; phía trước là
một người “Bônsơvích”, mặt mũi rất dữ
tợn, miệng ngậm một cái dao đẫm máu,
tay xách cái đầu của một người đàn bà...
Vài năm sau, chính Poanhcarê đã chủ
trương chiếm đóng khu hầm mỏ Rua của
nước Đức.
Đảng Cộng sản Pháp đập lại Poanhcarê
một vố cũng khá nặng. Số là Poanhcarê
trong khi đến thăm một nghĩa địa có
hàng nghìn mộ lính Pháp, thì Poanhcarê
nhăn răng cười. Đảng Pháp lấy được bức
ảnh đó, cho in ra hàng triệu tấm, dưới nhan
đề “Poincaré qui rit” (nghĩa là Poanhcarê
nó cười) và bán khắp nước Pháp. Bức ảnh
đó đã gây nên một phong trào sôi nổi
chống Poanhcarê.
21

Một buổi trưa đi làm về, bà già giữ
nhà đưa cho Bác một bức thư. Quái! Xưa
nay Bác chưa hề nhận thư gửi đến địa
điểm này. Vì đề phòng mật thám, thư từ
anh em cho tin tức hoặc bàn công việc
đều gửi đến các nhà bạn quen của Bác.
Mở thư xem, thì ra của quan thượng thư
thuộc địa mời Bác đến gặp. Cách vài hôm
sau, Bác đi gặp y.
Trong phòng khách của Bộ thuộc địa,
một bầy người Pháp “tai to mặt lớn” đang
nhô nhô chờ đến phiên mình được “quan
thượng” gọi vào. Nhưng Bác không phải
chờ, vừa đến thì liền có ông già mang
xiềng bằng bạc (người truyền đạt ở các cơ
quan cấp cao) mời vào ngay.
Một gian phòng rộng rãi và lộng lẫy,
trưng bày đầy những đồ xưa vật quý mang
từ các thuộc địa về. Quan thượng thư,
22

đầu sói như quả bưởi, một mắt mang kính
trắng “uy phong lẫm lẫm” ngồi chẫm choẹ
bên một cái bàn rất rộng và chất đầy giấy
tờ. Thấy Bác vào, ông ta đứng dậy bắt tay
và mời ngồi một cách lễ độ giả dối.
Hai người ngồi đối mặt nhau.
Một người thì đại biểu của chế độ đế
quốc thực dân Pháp đang áp bức bóc lột
Việt Nam.
Một người là tượng trưng của nhân
dân Việt Nam đang bị Pháp đô hộ một
cách tàn nhẫn.
Y thì nắm trong tay cả quyền bính
kinh tế, chính trị, quân sự, cảnh sát, tòa
án, trại giam... ở các thuộc địa Pháp.
Bác là một trong 50 triệu người thuộc địa
đang bị bọn thực dân Pháp bắt làm nô lệ.
Y có quyền bắt giải Bác về Việt Nam,
gán cho tội tuyên truyền cộng sản, rồi đưa
23

lên máy chém (Triều đình Việt Nam đã
vâng lệnh Pháp mà xử án Bác vắng mặt).
Bác thì chỉ dựa vào lực lượng của chính
nghĩa và cảm tình của giai cấp công nhân
Pháp, nhất là công nhân Pari.
Hai giai cấp, hai chế độ ngồi đối mặt
nhau. Thế nhưng Bác cảm thấy ông ta sợ
Bác, vì sợ cách mạng; và đoán biết rằng
ông ta cũng cảm thấy Bác không sợ ông
ta, vì cách mạng không sợ cái chế độ do
ông ta đại biểu.
Thượng thư thuộc địa mắt thì nhìn Bác
chằm chằm, tay thì vẽ trên bàn, miệng thì
nói như phun ra lửa. Y nói đại ý như sau:
“Hiện nay có những kẻ ngông cuồng
hoạt động ở Pháp. Họ liên lạc với bọn
Bônsơvích ở Nga. Từ Nga họ liên lạc với
Quảng Đông. Và từ Quảng Đông họ liên
lạc với Việt Nam. Chính phủ Pháp biết rõ
24

hết những dây liên lạc đó! Họ âm mưu
phá rối trật tự trị an ở Đông Dương và
chống đối lại Nhà nước bảo hộ. Nước mẹ
Đại Pháp rất khoan hồng, nhưng sẽ
không tha thứ những kẻ gây rối loạn...
Nước mẹ Đại Pháp đủ sức để bẻ gãy họ,
như thế này...”.
Nói đến đó, y vẻ mặt hầm hầm, hai
tay nắm lại và làm như đang bẻ những
vật gì rất cứng rắn - những người cách
mạng Việt Nam.
Bác cứ giữ thái độ ung dung, cứ mỉm
cười, để mặc y nói.
Cái mỉm cười trước những lời đe dọa
làm cho thượng thư thuộc địa càng bực,
càng sợ. Khi ông ta tạm dứt lời, Bác hỏi:
“Ngài nói xong rồi chứ?”.
Là một nhà chính trị cáo già, ông ta
đổi giọng và nói một cách ôn tồn:
25

“Tôi rất thích những thanh niên có chí
khí như ông. Có chí khí là tốt, nhưng còn
phải “thức thời” mới ngoan. Ồ này! khi
nào ông có cần gì tôi luôn luôn sẵn sàng
giúp đỡ ông. Từ nay, chúng ta đã quen
biết nhau, ông không nên khách sáo...”.
Bác nói: “Cảm ơn ngài! Cái mà tôi cần
nhất trên đời là: Đồng bào tôi được tự do,
Tổ quốc tôi được độc lập... Kính ngài ở lại,
tôi xin phép về”.
Trên đường về, ngồi trong xe điện dưới
hầm (mêtơrô), Bác cười trong bụng: “Con
cáo già thuộc địa đã đoán trúng ý định
của mình!”.

26

XA CHẠY CAO BAY
Cách mạng Tháng Mười vĩ đại có một
sức lôi cuốn kỳ diệu vô cùng. Từ khi nghe
tin cách mạng xã hội chủ nghĩa thành
công, Bác liền có ý định đi Nga, mặc dù
lúc đó chưa hiểu hết ý nghĩa cực kỳ to lớn
của cuộc cách mạng ấy.
Hồi đó, đi Nga là một việc rất khó khăn
và nguy hiểm. Sau khi Hồng quân đã
đánh lui bộ đội của 14 nước đế quốc và dẹp
xong bọn phản động trong nước, thì Nga
lại bị các nước đế quốc bao vây chặt chẽ.
Có những người như nhà thơ Pháp là đồng
chí Raymông Lơphevơrơ cùng mấy anh em
công nhân đã mạo hiểm bí mật đi Nga,
27

lúc về đã bị đắm thuyền chết ở biển Ban
Tích. Nhiều người khác đi gần đến Nga, thì
bị bọn phản động quốc tế bắt và thủ tiêu...
Nguy hiểm thì không sợ. Nhưng làm
thế nào để giải quyết các khó khăn. Trước
hết, làm thế nào để vượt được đoạn đường
từ Pari đến biên giới cho khỏi bị mật
thám Pháp bắt lại? Làm thế nào để
xuyên qua nước Đức và nước Ba Lan?...
Ngày thường gần gũi anh em công nhân,
Bác biết họ rất khảng khái. Vài thí dụ:
- Trong một cuộc míttinh ở Pari, nhằm
quyên góp giúp Nga đang bị đói kém và
bệnh hoạn, người diễn thuyết là bà
Sơvơrin, đồng chí Casanh và đồng chí
V. Cutuyriê. Khi nghe nói đến lạc quyên,
thì trăm người như một, trong túi có bao
nhiêu trút ra quyên hết, không ai đếm
xem mình quyên ít hay là nhiều. Đó là
28

một biểu hiện đồng tình vô sản quốc tế
rất cao quý!
- Một đồng chí thợ già tên là N. làm ở
nhà máy điện thường cùng Bác đi dự các
cuộc míttinh. Một hôm khi cùng nhau từ
cuộc hội họp đi về, đồng chí N. thủ thỉ nói
với Bác: “Chú này! Mình suốt đời lao
động, có dành dụm được chút ít tiền.
Mình không vợ không con, bao giờ mình
“nhắm mắt”, mình để số tiền đó giúp chú
làm cách mạng...”.
Nay muốn đi Nga, thì chỉ có một cách
là nhờ anh em công nhân giúp. Ý định
như vậy rồi, Bác tìm làm quen với anh
em công nhân lái xe lửa. Sau nhiều ngày
tìm kiếm, thăm dò, Bác đến gặp đồng chí
X. làm ở đầu máy xe lửa đi Pari - Bá
Linh. Nghe nói Bác muốn đi Nga, đồng
chí X. vui vẻ nhận giúp ngay. Đồng chí X.
29

nói: “Được, chúng tôi sẽ giấu đồng chí ở
một chỗ trên xe, bố mật thám cũng chẳng
tìm ra được! Nhưng xe chúng tôi chỉ đi
đến Bá Linh thôi...”. Nheo mắt lại nghĩ
ngợi một lát, rồi đồng chí X. nói tiếp:
“Không sao! Tôi sẽ bàn với anh em công
nhân xe lửa Đức giúp cho đồng chí...”.
Thế là bước đầu đã thành công. Nhưng
khó khăn vẫn còn không ít. Làm thế nào
để bỏ rơi bọn mật thám ngày đêm theo
mình như bóng theo hình? Anh em công
nhân Đức có thể giúp, nhưng công nhân
Ba Lan sẽ sẵn sàng giúp mình chăng? Và
ai sẽ phụ trách tờ báo Paria? Các đồng
chí Á - Phi người thì giúp bài, kẻ thì giúp
tiền làm báo, nhưng cần có người không
có gia đình bận bịu như mình để phụ
trách mọi việc như đi góp tiền, đi giục
bài, bí mật gửi báo đến các thuộc địa, bán
30

báo để tuyên truyền ngay ở Pari... Thật là
“ngổn ngang trăm mối bên lòng”!
Quanh quẩn mấy tháng, kế hoạch
chưa xong, thì một hôm được Trung ương
Đảng Cộng sản Pháp gọi đến và bảo:
“Đồng chí sẽ được đi dự Đại hội lần thứ
năm của Quốc tế Cộng sản, với danh
nghĩa là đại biểu dân tộc thuộc địa”.
Tin mừng đó làm cho Bác sung sướng
ngất trời!
Bọn mật thám nắm vững “quy luật” hoạt
động của Bác. Sáng đi làm công. Chiều đến
thư viện. Tối dự míttinh. Khuya về nhà ngủ...
Bác cũng nắm vững “quy luật” hoạt
động của chúng: Chúng chỉ theo Bác từ
nhà trọ đến chỗ làm việc, đến chỗ xem
sách, đến nơi hội họp. Sau đó, tin chắc
rằng Bác chẳng đi đâu mất, chúng về nhà
chúng để vui thú gia đình.
31

Hôm đó, hai tay đút túi, Bác ung dung
lên xe “buýt” đi tham gia một cuộc míttinh
ở ngoại ô Pari. Độ nửa giờ sau, Bác lặng
lẽ đi quanh về ga xe lửa. Một đồng chí tin
cẩn đã chờ sẵn ở đó, trao cho Bác một vé xe
lửa hạng nhất (vì hạng nhất chỉ có những
khách sang trọng, ít bị tình nghi), và một
cái vali con... Bác cố trấn tĩnh, nhưng đến
khi xe lửa qua khỏi biên giới Pháp - Đức,
trong ngực mới hết phập phồng.
Chắc chắn là bọn mật thám phụ trách
gác Bác sẽ được quan thượng thư thuộc
địa “thưởng” cho một mẻ nên thân! Mà
chính quan thượng thư cũng tức mình
đến “ung thư phát bổi”.
Khi đi qua địa phận Đức bị quân Pháp
chiếm đóng, thì thấy lại những cảnh tượng
thực dân. Đối với người Đức, bọn quân
phiệt Pháp ở đây cũng vênh váo lên mặt,
32

làm mưa làm gió, y như bọn Pháp ở
nước ta... Có mấy người thương binh
Pháp lên nhầm toa xe hạng nhất, liền bị
một tên quan sáu Pháp khua batoong
đuổi xuống xe...
Tuy sau chiến tranh đã sáu năm, ở Bá
Linh vẫn đói kém dữ (có lẽ ở các nơi khác
cũng vậy). Người nào cũng có vẻ xanh xao
vàng vọt! Nạn lạm phát giấy bạc thật là
kinh khủng, sớm một giá khác, chiều một
giá khác. Đưa giấy bạc mua một tờ báo
thì số giấy bạc chập nhau lại, rộng hơn tờ
báo! Cả gia tài Bác chỉ vẻn vẹn non 1.000
phơrăng, vậy mà tính ra tiền Đức, Bác đã
trở thành người giàu bạc triệu.

33

TỔ QUỐC CÁCH MẠNG
Bác đến Nga vào mùa Đông. Mọi vật đều
bị tuyết phủ trắng xoá như một thế giới
bằng bạc. Có ngày rét đến 42 độ dưới 0.
Đại hội Quốc tế Cộng sản hoãn chưa
khai, vì Lênin còn ốm nặng.
Hôm 21 tháng Giêng năm 1924, một
cơn gió thảm mưa sầu đã chấn động toàn
thể nhân dân Nga, cũng như nhân dân
lao động và dân tộc bị áp bức cả thế giới:
Lênin - người thầy, người bạn, người
đồng chí yêu kính của chúng ta mất rồi!
Cuối tháng Tám năm 1918, trong lúc
đến nói chuyện ở một cuộc míttinh của công
nhân nhà máy tại thành phố Pêtécbua
34

(nay là Lêningờrát), Lênin bị một tên
phản động bắn bị thương nặng. Từ đó về
sau, Lênin thường bị yếu, nhưng vẫn cố
gắng làm việc đến hơi thở cuối cùng.
Nghe tin buồn đó, nhiều người oà lên
khóc, Bác cũng khóc. Kể sao cho xiết tình
thương tiếc không bờ bến của những
người lao động đối với người thầy cách
mạng vĩ đại ấy! Biến thương xót thành
hành động; Lênin mất, nhưng ngọn cờ
chủ nghĩa Lênin có Đảng Bônsơvích anh
hùng nắm vững và có hàng triệu người
cộng sản khắp thế giới giương cao. Để tỏ
tình đoàn kết chặt chẽ và nhiệt liệt ủng
hộ Đảng của Lênin, hơn 24 vạn công
nhân Nga lúc đó đã xin vào Đảng.
Bốn năm Chiến tranh thế giới thứ nhất
và năm năm nội loạn, ngoại xâm, đã phá
hoại nền kinh tế Nga một cách cực kỳ
35

nặng nề. Như so với năm 1913 (tức là
năm trước chiến tranh), thì năm 1920:
Công nghiệp nặng nói chung bảy phần
chỉ còn một;
Nghề đúc sắt chỉ còn 3% (116.000 tấn);
Than chỉ bằng một phần ba;
Dầu lửa chỉ bằng hai phần năm;
Nghề dệt vải chỉ còn 5%, phần mỗi
người không đầy một thước.
Cuối năm 1924, đầu năm 1925, tuy
kinh tế đã bước đầu khôi phục, nhưng
mức sản xuất vẫn còn kém. So với năm
1913 thì:
Tổng sản lượng công nghiệp mới đạt
ba phần tư,
Sắt mới đạt một phần ba,
Gang mới đạt một phần hai,
Giao thông vận tải mới đạt bốn phần
năm,
36

Trong nước vẫn còn hơn mười vạn
người thất nghiệp.
Từ năm 1928 bắt đầu kế hoạch 5 năm
lần thứ nhất, rồi bắt đầu hợp tác hoá nông
nghiệp. Nhờ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng
Cộng sản và tinh thần hăng hái thi đua
của nhân dân, trong khoảng mười năm,
kinh tế Liên Xô đang tiến lên vùn vụt thì
năm 1939, phát xít Đức lại gây ra cuộc Chiến
tranh thế giới thứ hai. Giữa năm 1941,
chúng tiến công Liên Xô. Trong gần năm
năm, chúng đã tàn phá của Liên Xô:
1.710 thành thị,
32.000 xí nghiệp,
70.000 nông thôn...
Nhắc lại những khó khăn trong thời
kỳ trước, để so sánh với những thành tích
ngày nay, càng thấy rõ sự cố gắng và
thắng lợi của Liên Xô là vô cùng vĩ đại.
37

Ngày Bác đến Mátxcơva lần đầu tiên,
điều kiện đời sống ở Liên Xô cũng đang
rất khó khăn. Những thứ cần dùng hàng
ngày như bánh mỳ, bơ, thịt, đường, vải, v.v.
đều bị hạn chế. Một thí dụ: người Liên Xô
quen uống nước chè với đường, nhưng lúc
đó đường rất khan hiếm. Năm thì mười
họa mỗi gia đình mới được mua chút ít.
Người ta phải dùng xakharin (một chất
hoá học hơi ngòn ngọt) thay thế cho
đường. Nhân dân phải chịu nhịn những
thứ của ngon vật quý để đưa ra nước
ngoài đổi lấy máy móc cho công việc xây
dựng. Nhà ở cũng thiếu thốn... Tuy vậy,
không ai than phiền oán trách; trái lại,
mọi người đều cố gắng để vượt qua khó
khăn để ra sức xây dựng.
Có thể nói: Hồi đó mức sống của người
lao động Liên Xô và của người lao động Đức
38

cũng kham khổ như nhau. Nhưng có
những điều tuyệt đối khác nhau, giữa
nhân dân hai nước:
- Người Đức phải tự nhận mình là kẻ
thua trận trong cuộc chiến tranh, người
Liên Xô thì tự hào mình đã thắng lợi
trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Người Đức thì buồn rầu. Người Liên Xô
thì phấn khởi.
- Nhân dân Đức rất khổ cực, nhưng
bên cạnh họ thì bọn thống trị Đức và bọn
tư sản nước ngoài sống một cách cực kỳ
xa hoa. Nhân dân Liên Xô thì từ trên dưới
đều đồng cam cộng khổ, thắt lưng buộc
bụng, đoàn kết phấn đấu, để xây dựng
nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Do đó, người Đức sống trong một bầu
không khí ảm đạm mịt mù. Người Liên
Xô thì hăng say lao động và trông thấy
trước mắt một tương lai hạnh phúc rực rỡ.
39

Còn bản thân Bác cũng có sự thay đổi
lớn. Từ một công nhân nghèo ở Pari sang
đến Đức thoắt trở nên một người “triệu
phú”. Từ một người có bạc triệu ở Đức
sang đến Liên Xô lại trở nên một thành
viên chân chính, một người anh em ruột
thịt trong đại gia đình vô sản quốc tế. Bác
nói: “Từ bé đến lớn chưa bao giờ thấy
trong mình tự do, khoan khoái và sung
sướng như lúc bấy giờ. Tuy vậy, chỉ mong
Đại hội Quốc tế sớm họp, để sau Đại hội
thì được đi hoạt động”. Trong khi chờ đợi,
Bác cố gắng học hỏi và xem xét.
Một hôm Bác cùng mấy đồng chí người
châu Phi đi thăm một trại nhi đồng có độ
300 em. Mặc dù trong hoàn cảnh thiếu
thốn, nhi đồng được đặc biệt săn sóc về mặt
vật chất. Về mặt tinh thần, các em cũng
rất khôn. Cùng sáng hôm đó, có mấy người
40

viết báo Anh và Pháp đến thăm trại. Đối
với họ, các em giữ đúng lễ độ. Họ hỏi câu
gì, các em trả lời câu ấy, thế thôi. Các em
không thích chuyện trò thân mật với
những người “buốcdôi” (tư bản).
Nhưng khi thấy Bác và các đồng chí
châu Phi đến, thì các em vui vẻ chạy ùa
ra như một đàn chim để hoan nghênh
nhiệt liệt các chú, các bác cộng sản.
Một em gái độ sáu, bảy tuổi, đẹp và
ngoan, khẽ hỏi Bác: “Chú ơi, chú, mặt
mũi bọn đế quốc ra thế nào? Chắc nó xấu
lắm nhỉ. Cháu nghe các anh, các chị nói:
chúng hành hạ cả trẻ con Việt Nam, cháu
ghét chúng nó lắm!... Bao giờ về nước,
nhờ chú chuyển những cái hôn của các
cháu cho các bạn Việt Nam nhé!”. Nói
xong, em ôm choàng hôn Bác và mắt em
hơi ướt vì cảm động.
41

Tháng Sáu năm 1924, Đại hội lần thứ
năm của Quốc tế Cộng sản họp ở Mátxcơva,
có đại biểu của 49 đảng cộng sản đến dự.
Trong Đại hội, vấn đề quan trọng nhất
là phân tích tình hình thế giới: Hồi đó,
chủ nghĩa tư bản đang đi vào thời kỳ ổn
định tương đối và tạm thời. Các đảng xã
hội thuộc Quốc tế thứ hai thì đầu hàng
giai cấp tư sản. Có đảng cộng sản đã phạm
một số sai lầm trong phương pháp hoạt
động... Vì vậy, Đại hội đặc biệt nhấn mạnh
vấn đề Mặt trận thống nhất giữa hàng
ngũ công nhân, và yêu cầu các đảng cộng
sản theo đúng chủ nghĩa Bônsơvích về
các mặt tư tưởng, tổ chức và sách lược...
Phát biểu ý kiến, Bác trình bày trước
Đại hội tình hình chung của các nước đế
quốc và các nước thuộc địa, cùng tình
hình riêng của Đông Dương; nêu những
42

việc các đảng cộng sản đã làm được và
những điều thiếu sót đối với phong trào
cách mạng ở các thuộc địa. Kết luận Bác
đề ra năm yêu cầu đối với Đảng Cộng
sản Pháp:
- Báo Đảng thường xuyên đăng những
bài về vấn đề thuộc địa.
- Tăng cường tuyên truyền và kết nạp
vào Đảng những phần tử tốt ở những
thuộc địa có chi bộ Đảng.
- Gửi một số đảng viên ở các thuộc địa
đến Mátxcơva học.
- Tổng Công hội (thống nhất) Pháp kết
nạp những công nhân thuộc địa ở Pháp
vào hội, để giáo dục họ.
- Đặt nhiệm vụ cho các đảng viên phải
quan tâm hơn nữa đến vấn đề thuộc địa.
Sau Đại hội, những vấn đề đó đều được
thực hiện dần dần.
43

Câu chuyện đến đó, thì trời vừa trưa,
bụng cũng vừa đói. Bác bảo: “Phía tay
phải đường kia có hang đá. Các chú xem
thử có đúng không”. Chúng tôi chạy đến
xem, quả nhiên có một cái hang khá rộng,
trông ra chung quanh thì “sơn thuỷ hữu
tình”. Vào hang tạm nghỉ, chúng tôi hỏi
sao mà Bác đoán biết ở đây có hang. Bác
nói: những ngày hoạt động bí mật ở vùng
Pác Bó, thường đi tìm hang làm địa điểm,
cho nên trông thấy ở đâu có rặng cây và
mỏm đá hơi khang khác thì đoán biết ở
đó có hang.
Chúng tôi dọn cơm nắm ra ăn. Vừa ăn
được nửa chừng, bỗng nghe tiếng máy
bay địch từ phía xuôi lên. Chúng tôi trèo
lên núi xem, thấy cả ba chiếc. Chúng lượn
quanh mấy vòng, rồi thay phiên nhau thả
bom và bắn liên thanh xuống đường cái.
44

Vì chung quanh nhiều rừng núi, tiếng
động cơ, tiếng bom và tiếng súng dội lên
ầm ầm, long trời chuyển đất. Mười phút
sau, thả hết bom, bắn hết đạn, chúng lại
chuồn về xuôi.
Trận bắn phá ấy có vẻ hung tợn lắm,
nhưng không có kết quả gì. Khi nghe máy
bay địch đến, đồng bào dân công kéo
nhau đi tạt vào rừng, ngồi nghỉ chờ máy
bay địch đi rồi, đồng bào lại ra đường
không chút sợ hãi. Có người còn rủa địch:
“Bố tiên sư nó! Nếu ngày nào chúng cũng
lên, thì càng tốt, chúng sẽ tốn nhiều đạn,
nhiều bom, nhiều xăng...”.
Chúng tôi đi một đoạn thì gặp một đội
thanh niên đang lấp hố bom, sửa lại
đường, Bác hỏi: “Các cháu có sợ máy bay
không?”. Một cô thanh niên vừa cuốc đất
vừa nhanh nhẩu trả lời: “Thưa không ạ!
45

Các cháu quen rồi. Cuốc xẻng của chúng
cháu đã nhiều lần thắng máy bay của giặc”.
Trước khi Bác tiếp tục kể chuyện, anh
Thành đề nghị: “Nếu Bác kể cho nghe
những chuyện hoạt động bí mật của Bác
thì chắc là thú vị lắm”.
Không đồng ý với anh Thành, bác sĩ
Chân nói: “Đã là bí mật thì không nên nói
công khai. Anh em cách mạng ở các nước
khác có thể còn dùng những cách bí mật
đó. Nói ra không lợi”.
Bác bảo: “Chú Chân nói đúng. Thôi để
Bác kể những chuyện không bí mật vậy”.
*
*

*

Sau Đại hội lần thứ năm của Quốc tế
Cộng sản, Bác còn dự các cuộc Đại hội
Quốc tế Công hội Đỏ, Quốc tế Nông dân,
46

Quốc tế Phụ nữ, Quốc tế Thanh niên,
Quốc tế Cứu tế Đỏ (Nopr).
Ở Đại hội Quốc tế Phụ nữ, Bác đã gặp
nhiều nữ đồng chí Bônsơvích, trong đó có
đồng chí Cơrúpxcaia (vợ Lênin). Đồng chí
Cơrúpxcaia rất chất phác, hiền lành, khiêm
tốn và nói tiếng Pháp rất thạo. Đồng chí ân
cần hỏi Bác về phong trào phụ nữ Việt Nam
và nói cho Bác nghe một số kinh nghiệm
về việc hoạt động của phụ nữ. Hồi đó,
đồng chí làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục.
Sau các cuộc đại hội đó, Bác bí mật sang
Trung Quốc. Lúc đó ở miền Bắc Trung
Quốc bọn quân phiệt Ngô Bội Phu, Đoàn
Kỳ Thụy, Trương Tác Lâm... - do các nước
đế quốc ...
 
Gửi ý kiến