Tuần 7. Tây Tiến

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lữ Hùng
Ngày gửi: 21h:43' 06-10-2023
Dung lượng: 45.8 KB
Số lượt tải: 116
Nguồn:
Người gửi: Lữ Hùng
Ngày gửi: 21h:43' 06-10-2023
Dung lượng: 45.8 KB
Số lượt tải: 116
Số lượt thích:
0 người
TÂY TIẾN
Quang Dũng
I. TÌM HIỂU CHUNG
1. Tác giả:
- Quang Dũng (1921 - 1988) tên khai sinh là Bùi Đình Diệm. Quê ở Hà Tây (nay là Hà Nội).
- Sau CMTT, ông tham gia vào quân đội. Ông là người nghệ sĩ đa tài: Viết văn, làm thơ, vẽ
tranh, soạn nhạc. → Hồn thơ Quang Dũng phóng khoáng, hần hậu, lãng mạn và tài hoa.
- Tác phẩm tiêu biểu: Mây đầu ô, Tuyển tập thơ văn Quang Dũng.
2. Bài thơ:
a. Đoàn quân Tây Tiến.
- Tây Tiến là tên đơn vị bộ đội thành lập đầu năm 1947.
- Nhiệm vụ: Phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biện giới Việt - Lào và đánh tiêu hao lực
lượng quân đội Pháp.
- Địa bàn đóng quân và hoạt động rộng lớn: Bao gồm các tỉnh Lai Châu, Hoà Bình, miền
Tây Thanh Hoá và cả Sầm Nưa (Lào).
- Thành phần: phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên.
- Cuộc sống: gian khổ, vô cùng thiếu thốn, chết vì bệnh nhiều hơn chết trận. Tuy vậy, họ
sống lạc quan và dũng cảm.
b. Hoàn cảnh sáng tác:
- Quang Dũng là đại đội trưởng của đoàn quân Tây Tiến (1947)
- Cuối năm 1948, ông được chuyển sang đơn vị khác. Rời đơn vị cũ chưa được bao lâu, tại
làng Phù Lưu Chanh, QD viết bài thơ Nhớ Tây Tiến → sau đổi thành “Tây Tiến” in trong tập “Mây
đầu ô”.
c. Bố cục;
- Đoạn 1: Nhớ về thiên nhiên Tây Bắc với những cuộc hành quân gian khổ của đoàn quân
Tây Tiến.
- Đoạn 2: Nhớ kỉ niệm ấm áp tình quân dân.
- Đoạn 3: Bức chân dung người lính Tây Tiến.
- Đoạn 4: Lời thề gắn bó với Tây Tiến và Tây Bắc.
II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
1. Đoạn 1: Nỗi nhớ về chặng đường hành quân gian khổ
a. 2 câu thơ đầu: Nỗi nhớ được diễn tả khái quát, nỗi nhớ thấm đẫm thời gian và không
gian
- Nỗi nhớ bật lên thành tiếng gọi: Có thể nói cả bài thơ là nỗi nhớ trải dài, nỗi nhớ có khi lắng
xuống tầng sâu trong tâm hồn nhưng cũng có khi bật lên thành tiếng gọi tha thiết:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
- Đối tượng của nỗi nhớ: Sông Mã, Tây Tiến, rừng núi.
+ Sông Mã: là con sông từ thượng Lào chảy vào đất Việt. Dòng sông ấy đã gắn bó với đoàn
quân Tây Tiến, chứng kiến những vui, buồn trong cuộc đời người lính chiến binh. Vì thế, Quang
Dũng nhớ về đoàn quân Tây Tiến là còn nhớ về dòng sông Mã thân thuộc, hơn thế nữa có thể đây
còn là dòng sông tâm trạng, dòng sông chở nặng cảm xúc, nỗi niềm đầy vơi trong lòng thi nhân.
+ Rừng núi: là hình ảnh khái quát về địa bàn hoạt động của người lính Tây Tiến. Đó là nơi
rừng núi hoang vu, rậm rạp, địa hình hiểm trở,...
+ Tây Tiến: là một đơn vị thành lập đầu năm 1947, Quang Dũng có mặt tại đơn vị ngay từ
những ngày đầu mới thành lập nên nhà thơ có sự gắn bó sâu sắc với đồng đội của mình.
- Nỗi nhớ của tác giả được thể hiện sâu sắc:
+ Câu thơ như một tiếng thở dài: Sông Mã xa rồi, lại cũng như một tiếng gọi: Tây Tiến ơi!.
Nỗi nhớ có cái gì đó khắc khoải, thể hiện sự tiếc nuối, trạng thái hụt hẫng cùng với khát vọng trở về
quá khứ thân thương mà hào hùng thuở nào.
+ Điệp từ “nhớ”: diễn tả nỗi nhớ cháy bỏng, không nguôi cứ tuôn chảy dào dạt trong lòng thi
nhân, nhớ đến thổn thức, bồi hồi. Hai từ “nhớ” được đặt trong cùng một câu thơ nhưng lại tách ra
làm hai vế khiến cho nỗi nhớ như được tô đậm thêm cảm xúc. Nỗi nhớ dào dạt như những lớp sóng
dâng trào mãnh liệt trong lòng thi nhân: “Nhớ về rừng núi/ nhớ chơi vơi”.
+ Nỗi nhớ của nhà thơ được miêu tả thật đặc sắc: “nhớ chơi vơ”i. Từ “chơi vơi” là từ láy
giàu sức gợi. Nỗi nhớ của Quang Dũng thật khó định hình, định lượng, khó diễn tả, như gợi ra được
cả sự xa xôi về thời gian, không gian, nỗi nhớ như có cả tầm cao, bồng bềnh lan tỏa, không sao đong
đếm được.
+ Nỗi nhớ da diết, cháy bỏng, vang vọng: Quang Dũng sử dụng hai chữ “chơi vơi” kết hợp
với sự láy lại ba lần của vần ơi (ơi, chơi vơi), đây là ba âm mở và dài có kết cấu thanh bằng mang
âm hưởng vang vọng lan tỏa khiến cho nỗi nhớ như được ngân lên, nhớ đến thiết tha, thường trực
trong tâm hồn nhà thơ, cả không gian dường như cũng ngập tràn trong nỗi nhớ của tác giả.
b. 6 câu thơ tiếp: Nỗi nhớ về thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội, thơ mộng trên chặng
đường hành quân gian khổ của người lính Tây Tiến
Nỗi nhớ dắt nẻo nhà thơ trở về với những kỉ niệm khó quên gắn với thiên nhiên miền Tây,
làm hiện lên một không gian, cảnh vật miền Tây dữ dội, hiểm trở mà hùng vĩ song cũng thật nên
thơ, thi vị.
* Nỗi nhớ gắn với những địa danh khó quên:
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
- Trong nỗi nhớ của Quang Dũng có nhiều địa danh xuất hiện như: Sài Khao, Mường Lát,
những địa danh này vừa mang ý nghĩa cụ thể, vừa mang ý nghĩa tượng trưng khái quát.
+ Đây là những địa danh, tên những vùng đất mà người lính Tây Tiến đi qua, từng gắn
bó. Dường như chỉ cần nhắc lại những địa danh ấy thôi là biết bao kỉ niệm của quá khứ lại ào ạt
chảy về trong tâm trí nhà thơ.
+ Những địa danh này còn mang ý nghĩa khái quát, nó tượng trưng cho một không
gian rất riêng của Tây Bắc xa xôi, lạ lẫm, hoang dã, bí ẩn.
=> Những địa danh được nhà thơ nhắc đến không phải là những địa danh vô nghĩa trên bản đồ mà
đoàn quân Tây Tiến một thời đã đi qua mà nó đã tái hiện lại một thời kì lịch sử hào hùng của dân tộc
với biết bao khó khăn, gian khổ:
Những tên làng, tên núi, tên sông
Những cái tên đọc lên nghe muốn khóc.
* Bức tranh thiên nhiên vừa hiện thực, vừa lãng mạn:
- Hiện thực: núi rừng Tây Bắc hiện ra trong mờ ảo khói sương, sương dày như muốn che lấp
cả đoàn quân mỏi. Hai chữ sương lấp cùng chữ mỏi đưa người đọc trở về với cuộc sống hiện thực
khốc liệt của người lính. Sương núi lạnh giá cắt da, cắt thịt như muốn nhấn chìm đoàn quân.
- Lãng mạn: tác giả viết hoa về chứ không phải là hoa nở, đêm hơi chứ không phải là đêm
sương khiến cho câu thơ thêm phần lãng mạn. Sương núi bồng bềnh trong đêm tạo nên sự huyền ảo,
mơ hồ. Đặc biệt hơn nữa là hình ảnh hoa về đã đem đến cho người đọc nhiều suy ngẫm, có thể hiểu
trong sự cảm nhận lãng mạn của người lính thì sương khói ở Mường Lát lúc tụ vào, lúc tan ra trông
như những bông hoa khói vậy. Cũng có thể, những người lính Tây Tiến trên đường hành quân trở về
Mường Lát họ mang theo những đóa hoa rừng ngát hương thơm, hoa đang cùng bung nở trên chặng
đường hành quân của người lính Tây Tiến, là người bạn đồng hành của người lính. Đây là những
bông hoa thực, hoa hiện ra mờ ảo trong sương khói bồng bềnh.
=> Dù hiểu theo cách nào, người đọc vẫn cảm nhận được những khó khăn, gian khổ mà
người lính Tây Tiến đã phải trải qua để ta hiểu về hiện thực khốc liệt của chiến tranh, để thêm cảm
phục, thêm yêu vẻ đẹp tâm hồn của những người lính trẻ mộng mơ. Những hình ảnh ấy khiến cho
đoạn thơ bớt đi sự dữ dằn của hiện thực, người đọc có cảm giác như được xoa dịu, vơi đi những
nhọc nhằn, vất vả mà người lính Tây Tiến phải chịu đựng.
=> Trong hai câu thơ trên, tác giả vừa sử dụng hình ảnh gân guốc, vừa sử dụng hình ảnh thơ
mộng, đẹp đẽ kết hợp với nghệ thuật tiểu đối đã làm nổi bật hai vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc vừa
dữ dội, vừa nên thơ, đồng thời cũng làm nổi bật hai khía cạnh trong cuộc đời chiến đấu của người
lính Tây Tiến vừa gian khổ, vừa lãng mạn, yêu đời.
* Chặng đường hành quân gian khổ của người lính Tây Tiến:
Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
- Tác giả sử dụng từ láy có giá trị tạo hình cao: khúc kkuỷu, thăm thẳm, heo hút đạt giá trị
biểu cảm cao, chúng lại được đặt liên tiếp nhau để đặc tả sự gian nan trùng điệp.
+ Dốc khúc khuỷu vì đường đi là núi đèo hiểm trở, gập ghềnh, vừa lên cao đã vội đổ
dốc, cứ thế gấp khúc nối tiếp nhau độ cao ngất trời.
+ Dốc thăm thẳm: không chỉ đo chiều cao mà còn là ấn tượng về độ sâu, cảm giác như
hút tầm mắt người, không biết đâu là giới hạn cuối cùng Độ sâu hun hút.
+ Điệp từ dốc được nhắc đến liên tiếp hai lần trong một câu thơ, tách ra ở hai vế gợi ra
một địa hình hiểm trở chỉ có dốc là dốc cao và sâu. Người đọc có cảm giác người lính vừa vượt qua
con dốc này lại thấy hiện ra những con dốc khác ngay trước mặt mình.
+ Heo hút cồn mây: heo hút gợi ra sự vắng vẻ, hiu quạnh, nghệ thuật đảo ngữ càng
nhấn mạnh điều đó. Cồn mây là mây tụ lại, xếp tầng, hình ảnh thơ gợi ra vị trí của người lính Tây
Tiến đứng trong mây, trên đỉnh núi cao vời vợi. Như vậy, dẫu câu thơ không nhắc đến sự khó khăn
nhưng người đọc vẫn hình dung ra chặng đường hành quân leo dốc, vượt đèo mà người lính phải trải
qua.
=> Quang Dũng đã mở ra không gian ba chiều khiến hình ảnh thơ được chạm nổi thành một
bức phù điêu hùng vĩ về núi rừng Tây Bắc khiến người đọc liên tưởng đến chặng đường hành quân
của người chinh phu trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn (Đoàn Thị Điểm diễn Nôm):
Hình khe thế núi gần xa
Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao.
- Nghệ thuật nhân hóa: Súng ngửi trời.
+ Trước hết, đây là một hình ảnh xuất phát từ cảm xúc trước hiện thực, những người
lính Tây Tiến hành quân trong mây mà tưởng như nòng súng chạm tới đỉnh trời.
+ Đây là một hình ảnh đẹp, lạ và táo bạo làm rõ vẻ đẹp hào hùng, hào hoa của người
lính Tây Tiến.
++ Hào hoa, lãng mạn: Tác giả không nói súng chạm trời mà là súng ngửi trời.
Hình ảnh thơ mang nhiều ý nghĩa biểu tượng giúp người đọc phát hiện ra vẻ đẹp tâm hồn hào hoa,
lãng mạn của người lính Tây Tiến. Tác giả sử dụng nghệ thuật nhân hóa khiến cho những vật vô tri,
vô giác cũng trở nên có linh hồn sống động hơn. Người lính đang tếu táo, đùa vui trêu ghẹo cả tạo
hóa. Câu thơ khiến người đọc liên tưởng đến hình ảnh thơ mộng trong bài thơ Đồng chí của Chính
Hữu: Đầu súng trăng treo hay tâm hồn trẻ trung, sôi nổi, lạc quan của người lính lái xe trong Bài thơ
về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật.
++ Hào hùng: Quang Dũng không nói đến người lính mà ta vẫn thấy người
lính, không nói núi cao mà ta vẫn thấy núi rất cao. Chữ ngửi vẽ ra hình ảnh người lính đang ở tư thế
chót vót trên đỉnh núi, đi giữa ngàn mây, nòng súng đang chạm vào vòm trời. Điều đó cho thấy sự
hùng vĩ của thiên nhiên Tây Bắc và vẻ đẹp của người lính Tây Tiến. Vẻ đẹp của con người trong tư
thế sánh ngang trời đất, làm chủ hoàn cảnh. Vẻ đẹp của người lính Tây Tiến được tỏa sáng giữa đất
trời Tây Bắc mang vẻ đẹp sử thi của văn học giai đoạn 1945 - 1975. Đó là vẻ đẹp tiêu biểu của
người lính trong văn học chống Pháp:
Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều
Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo
Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá ngụy trang reo với gió đèo.
(Lên Tây Bắc - Tố Hữu)
- Nghệ thuật đối lập: Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống.
Thiên nhiên Tây Bắc dường như luôn luôn có ý định thử thách lòng người. Tác giả sử dụng
nghệ thuật đối lập cùng cách ngắt nhịp 4/3, kết hợp với điệp từ ngàn thước với hai động từ chỉ
hướng lên, xuống khiến cho câu thơ như bị bẻ gãy làm đôi để miêu tả hai chiều không gian Tây Bắc
vừa có độ cao chót vót, vừa có độ sâu thăm thẳm. Dốc đột ngột vút lên thẳng đứng rồi lại đột ngột
gãy gập đổ xuống một cách bất ngờ, nguy hiểm.
- Tác giả sử dụng tài hoa thanh trắc kết hợp với thanh bằng:
+ Thanh trắc được sử dụng với mật độ dày đặc (liên tiếp ở ba câu thơ: Dốc lên khúc
khuỷu...ngàn thước xuống) đã vẽ nên những đường nét gân guốc, rắn rỏi về địa hình vùng cao Tây
Bắc hiểm trở, đó cũng là chặng đường hành quân vô cùng gian nan mà người lính Tây Tiến phải trải
qua.
+ Thanh bằng được sử dụng trọn vẹn trong một câu thơ: Nhà ai Pha Luông mưa xa
khơi đã tạo cho câu thơ những nét vẽ dịu dàng, hiền hoà. Không gian được cảm nhận qua điểm nhìn
của người lính Tây Tiến khi người lính hành quân lên đến đỉnh núi phóng tầm mắt ra xa, dưới kia là
những ngôi nhà bồng bềnh trong biển mưa. Người đọc không còn thấy dấu vết của sự mệt mỏi bởi
phải vượt rừng, leo núi nữa, bây giờ là tâm trạng bâng khuâng, thư thái của con người khi vượt lên
đến đỉnh dốc, vượt qua biết bao gian lao, vất vả, thử thách để có được cảm giác Thu vào tầm mắt
muôn trùng nước non (Hồ Chí Minh).
=> Nhận xét: Bốn câu thơ có sự kết hợp hài hòa giữa các thanh điệu, quả đúng Quang Dũng
là một nghệ sĩ đa tài, ông có tài không chỉ về thơ ca mà còn cả âm nhạc và hội họa nữa. Những câu
thơ này thật xứng đáng là lời thơ Thi trung hữu họa, thi trung hữu nhạc. Phải chăng vì thế mà Xuân
Diệu cho rằng: Đọc thơ của Quang Dũng như ngậm nhạc ở trong miệng. Trong những câu thơ này,
Quang Dũng còn sử dụng nghệ thuật của thơ Đường vẽ mây nảy trăng khi nhà thơ tả cảnh núi rừng
Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở, dữ dội để làm nổi bật lên hình ảnh người lính Tây Tiến trên bước đường
hành quân và chiến đấu đầy gian khổ, vất vả, hi sinh nhưng vẫn lạc quan hồn nhiên yêu đời, lãng
mạn.
c. 6 câu thơ cuối: Nỗi nhớ về người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân gian khổ
mang vẻ đẹp bi tráng (vẻ đẹp hào hùng, lãng mạn)
- Hiện thực trên bước đường hành quân của người lính Tây Tiến:
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
+ Hai chữ anh bạn chứa đựng những tình cảm gắn bó giữa những người bạn thân thiết,
giữa những người đồng chí, đồng đội, đây là cách nói thân thuộc, gần gũi.
+ Hiện thực bi tráng được diễn tả qua những từ ngữ: Dãi dầu, gục. Đó là những vất vả,
gian lao mà người lính Tây Tiến phải trải qua trên chặng đường hành quân gian khổ và quá trình
chiến đấu với quân thù. Đặc biệt là chữ gục có nhiều cách hiểu: Có thể đó là sự mệt mỏi khiến người
lính ngủ gục trên súng mũ như muốn quên đi tất cả, có thể đây là cách nói giảm, nói tránh diễn tả sự
hi sinh của người lính vì Tổ quốc.
- Vẻ đẹp bi tráng của người lính: Quang Dũng vẫn tiếp tục sử dụng cách nói giảm, nói tránh
khi viết về vẻ đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến qua các cụm từ: không bước nữa, bỏ quên đời.
Chiến đấu và hi sinh đó là hiện thực khốc liệt của chiến tranh. Nhà thơ Quang Dũng đã không ngần
ngại nói đến cái chết mặc dù câu thơ không có từ nào nói đến cái chết. Hiệu quả của nghệ thuật nói
giảm nói tránh vừa gợi được tình thương, vừa gợi được sự bình thản chứ không bi lụy. Tác giả
không viết là ngủ quên đời mà là bỏ quên đời thì mới thật ngang tàng, bất cần.Với cách nói này câu
thơ có bi mà không có lụy, ngược lại hết sức hùng tráng gợi ra chất phong trần, ngang tàng của
người lính mang vẻ đẹp của những tráng sĩ thuở xưa.
- Thiên nhiên Tây Bắc bí hiểm, hoang dại luôn rình rập người lính:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
+ Thiên nhiên hoang dã, dữ dội được miêu tả trong tiếng gầm thét của thác, bóng dáng
của cọp trêu người.
+ Địa danh Mường Hịch: Nhà thơ Vũ Quần Phương cho rằng địa danh Mường Hịch
đọc có cảm giác như tiếng chân cọp đi trong đêm khuya. Hai chữ Hịch, cọp với hai dấu nặng trĩu
xuống nghe rờn rợn. Câu thơ nói đủ sự khốc liệt của chiến trường người lính. Hai dấu chấm nặng
như xoáy vào lòng đất gợi cảm giác ghê sợ, hãi hùng.
+ Sử dụng từ láy: Chiều chiều, đêm đêm gợi cho người đọc ấn tượng mạnh mẽ về thời
gian diễn ra triền miên nơi rừng thiêng thác sâu, cọp dữ, nơi ấy luôn là mối đe dọa khủng khiếp đối
với người lính Tây Tiến. Sự nguy hiểm ấy thường diễn ra vào lúc chiều tối, đêm sâu và thường
xuyên, liên tục không phải là một chiều, một đêm mà chiều nào cũng thế, đêm nào cũng thế. Như
vậy, người lính Tây Tiến không chỉ ngã xuống trước họng súng của kẻ thù mà còn có thể bị ngã
xuống bởi rừng thiêng, thác hiểm.
- Tình quân dân thắm thiết:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
+ Một lần nữa nỗi nhớ lại bật lên thành lời, tác giả đã thốt lên Nhớ ôi. Hai từ này mang
giọng điệu cảm thán bộc lộ nỗi nhớ nhung trào dâng mãnh liệt. Câu thơ có ba thanh trắc ngắt quãng
(nhớ…. Tiến…. khói) đều đặn tạo nên âm điệu câu thơ vút lên đẩy nỗi nhớ nhung lên cung bậc cao
nhất.
+ Tác giả nhớ về: Mai Châu, bữa xôi nếp dẻo ấm áp tình quân dân. Câu thơ có hai
cách hiểu.
++ Cách thứ nhất là cách định danh thời gian của tác giả: Có thể hiểu người
lính Tây Tiến dừng chân ở Mai Châu giữa mùa lúa chín đón nhận bát xôi hương nếp đầu mùa . Đặc
biệt có bàn tay thơm thảo của em làm nên hương vị nồng ấm ấy làm vấn vương lòng người chiến sĩ
Tây Tiến. Hương nếp thơm hay đó chính là sự thơm thảo của lòng người, của tình em nồng ấm?
Điều này trong bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên đã từng viết:
Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch
Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương.
++ Cách hiểu thứ hai đầy lãng mạn: Hai chữ mùa em là một sáng tạo ngôn ngữ
tài hoa của tác giả gợi đầy tình thương và nỗi nhớ, trìu mến và thân thương. Chữ mùa gợi sự đầy đủ,
ăm ắp sự sống, mang hương vị của đồng nội, còn chữ em gợi vẻ đẹp xuân sắc của người thiếu nữ.
Hai từ mùa em đã gợi tả tinh tế cảm giác xao xuyến, say mê của các chàng trai Hà Thành hào hoa,
lãng mạn trước sản vật và con người Tây Bắc.
=> Có lẽ khi viết những câu thơ này, Quang Dũng còn giữ nguyên ấn tượng hồi hộp, xúc
động khi được đón nhận tình cảm quân dân nồng ấm. Trong những năm tháng chiến đấu gian khổ
ấy, tình quân dân đã làm vơi đi những khó khăn mà người lính phải trải qua. Đây sẽ mãi mãi là
những kỉ niệm đẹp đẽ làm ấm lòng người lính trên chặng đường hành quân gian lao, đầy thử thách.
- Nghệ thuật: Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Quang Dũng lãng mạn, tài hoa ở cách
xây dựng hình ảnh, bút pháp hiện thực kết hợp với lãng mạn, nghệ thuật tương phản, nhân hóa, cách
sử dụng từ ngữ, thể thơ thất ngôn trường thiên...
2. Nhớ những kỉ niệm quân dân ấm áp tình người.
a. Bốn câu thơ đầu: Đêm liên hoan lửa trại thắm thiết tình quân dân
- Trên chặng đường hành quân gian khổ người lính nghỉ chân ở bản làng của những đồng bào
dân tộc, đời sống tinh thần của họ được gửi gắm vào những đêm liên hoan văn nghệ có đồng bào địa
phương đến góp vui. Đó là thế giới tràn ngập ánh sáng, vũ điệu, âm thanh: Doanh trại bừng lên hội
đuốc hoa
+ Hai chữ "doanh trại" chỉ là sự hoành tráng hóa cái nhìn của Quang Dũng nâng hiện
thực giản dị thành cái lớn lao vững mạnh gợi một không khí uy nghiêm hào hùng trong những ngày
tháng gian khổ. Bởi lẽ những người lính trong những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp sinh
hoạt rất thiếu thốn làm sao có thể có những doanh trại được. Nhà thơ Nguyên Hồng cũng đã từng
viết:
Chúng tôi đi
Sờn mép ba lô
Tháng năm bạn cùng thôn xóm
…
Chúng tôi đi mang đời lưu động
Nghỉ lại rất nhiều nơi không nhớ hết tên nhà
+ Đi cùng với hình ảnh doanh trại là "hội đuốc hoa". Nghĩa gốc của chữ "đuốc hoa" là
ngọn đèn thắp trong đêm tân hôn. Quang Dũng đã sáng tạo thành hội đuốc hoa. H/ả này thật lãng
mạn tạo nên một màu sắc vừa cổ kính vừa hiện đại vừa thiêng liêng. Nhà thơ đã lấy sự đằm thắm
trong tình yêu lứa đôi để ngợi ca sự đằm thắm trong tình nghĩa quân dân cá nước. Đây là cảm xúc
thường gặp trong thơ ca cách mạng. Ở bài Việt Bắc khi nhớ về quê hương cách mạng Tố Hữu cũng
đã từng viết:
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương
+ Chữ "bừng" trong câu thơ đầu tiên diễn tả ánh sáng của những ngọn đuốc đẩy lùi
bóng tối của núi rừng. Mặt khác còn diễn tả niềm vui đó là âm thanh của tiếng cười tiếng hát vang
lên tưng bừng rộn rã.
- Câu thơ thứ hai khắc họa vẻ đẹp của con người: Kìa em xiêm áo tự bao giờ
+ Hai chữ “kìa em” diễn tả sự vui sướng ngạc nhiên đó là tiếng reo vui khi bắt gặp nét
đẹp thi vị của cuộc sống. Câu thơ có hai cách hiểu:
++ Theo nhà thơ Trần Lê Văn: Cô em mà QD nhắc tới ở đây không phải là ai
khác mà đó chính là những người lính Tây Tiến họ hóa trang làm những cô gái để diễn kịch . Đây là
nét dí dỏm tinh nghịch của những người lính Tây Tiến
++ Theo ngôn từ diễn đạt trong câu thơ thì em có thể hiểu là những cô gái miền
sơn cước.
Dẫu hiểu theo cách nào thì cũng thấy nét thi vị của cuộc sống đời thường giữa bối cảnh
chiến tranh khốc liệt. Dường như những hình ảnh tười tắn trẻ trung của con người đã xua tan cái
khắc nghiệt trên chặng đượng hành quân của người lính.
- Câu thơ thứ 3 gợi vẻ đẹp âm thanh và vũ điệu: Khèn lên man điệu nàng e ấp
Người lính Tây Tiến trong đêm liên hoan đắm mình mơ màng trong tiếng khèn với những
man điệu của tiếng khèn - loại nhạc cụ độc đáo của vùng núi cao Tây Bắc. Nhà thơ diễn tả tiếng
khèn bằng hai từ "man điệu" vừa gợi tả âm thanh vừa gợi tả vũ điệu mang đậm màu sắc của núi
rừng Tây Bắc
- Câu thơ thú tư có sự lưu giữ kỉ niệm: Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ. Câu thơ có 7 chữ thì
có tới 6 thanh bằng tiếng nhạc thơ vang lên nhẹ nhàng diễn tả tâm hồn người lính bay bổng phiêu du
tới những vùng đất xa xôi, đến tận Viên Chăn – thủ đô của nước bạn Lào hướng về một ngày mai
thanh bình vang trong khúc hát khải hoàn.
Tóm lại, chỉ với 4 câu thơ QD dã thể hiện tâm hồn lãng mạn của người lính Tây Tiến khi
được sống trong tình quân dân thắm thiết. Có thể nói đây là một xúc cảm thường gặp trong thơ ca
cách mạng. Hoàng Trung Thông có viết:
Các anh về
Xôn xao làng bé nhỏ
Nhà lá đơn sơ
Tấm lòng rộng mở
Có điều QD đã lấy cái lãng mạn hào hoa, lấy sự mặn nồng của tình yêu lứa đôi nhiệt huyết
của tuổi trẻ để tô đậm tình quân dân. Vì thế thơ QD mang vẻ đẹp riêng đầy xúc cảm.
- Chỉ với 4 câu thơ nhưng QD đã vẽ được bức tranh vừa phong phú về màu sắc vừa đa dạng
về âm thanh. Điều này cho thấy sự nhạy cảm của QD với vẻ đẹp thi vị khác thường của con người
văn hóa vùng cao Tây Bắc. Đồng thời cho thấy sự lạc quan yêu đời của người lính Tây Tiến.
b. Bốn câu thơ sau: Bức tranh Châu Mộc mĩ lệ huyền ảo
- Với người lính Tây Tiến mỗi vùng đất đi qua đều thấm đẫm bao kỉ niệm. Nỗi nhớ đã gợi về
miền đất Châu Mộc. Châu Mộc là một địa danh ở Sơn La nơi có cánh đồng cỏ bát ngát mênh mông,
có dãy núi Pha Luông cao ngất trời. Quang Dũng cũng như người lính Tây Tiến đã từng gắn bó với
miền đất Châu Mộc. Năm tháng trôi qua cảnh và người nơi miền đất ấy trở thành nỗi nhớ da diết.
- Vẻ đẹp của bức tranh thơ được QD vẽ bằng những nét điển hình:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
+ Từ "người" được QD sử dụng rất tài tình ở đây nó mang nghĩa vừa cụ thể vừa
phiếm chỉ, vừa là tác giả vừa là những người đồng đội đã từng sống chết có nhau ở binh đoàn Tây
tiến.
+ Từ "ấy" không xác định được thời gian nhưng lại gợi về thời khắc khó quên một đi
không trở lại trong nỗi nhớ đầy vơi của Quang Dũng .
+ Thời gian của bức tranh thơ là một buổi chiều sương giăng mắc, không khí huyền
thoại khiến cho con người và cảnh vật mờ đi hư ảo như một bức tranh thủy mặc cổ điển khiến cho
người đọc nhớ đến tứ thơ cũng rất thi vị của Chế Lan Viên trong Tiếng hát con tàu:
Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương.
Không gian của bức tranh thơ là cảnh sông nước mênh mông với bến bờ hoang dại nguyên
thủy đượm màu cổ tích.
+ Trên nền không gian và thời gian ấy là hình ảnh "hồn lau nẻo bến bờ" hình ảnh hoa
lau gợi nét đặc trưng của thiên nhiên vùng cao hoa lau mọc khắp núi đồi.
- Bằng nghệ thuật nhân hóa "hồn lau", QD đã diễn tả được thần thái của cảnh vật thiên nhiên
Tây Bắc như có linh hồn phảng phất trong gió trong mây trở thành kí ức không thể phai nhòa của
người lính Tây Tiến.
- Trong dòng hoài niệm da diết, thi nhân nhớ về dáng người mờ xa trên thuyền độc mộc
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
+ Độc mộc là loại thuyền dài và hẹp làm bằng thân của một cây gỗ to khoét thủng
thích hợp với vùng núi cao. Hình ảnh dáng người trên độc mộc có thể hiểu là người lính Tây Tiến
nhưng cũng có thể hiểu là hình ảnh những con người Tây Bắc, những người thiếu nữ Tây Bắc dân
tộc Thái, Mường…với vẻ đẹp mềm mại duyên dáng mà cũng rất đỗi khỏe khoắn.
+ Câu thơ “trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” là một câu thơ đa nghĩa
++ Nghĩa thực: Những bông hoa rừng như muốn làm duyên bên dòng nước lũ
++ Nghĩa ẩn dụ: Hình ảnh thơ có sự hô ứng với câu thơ trước dáng người trên
độc mộc như những bông hoa đong đưa trên dòng nước lũ
+ Nhà thơ dùng hai chữ “đong đưa” chứ không phải “đung đưa” vì nếu "đung đưa"
chỉ là đơn thuần chuyển động đưa đi đưa lại mang tính chất vật lí còn "đong đưa" vừa tả cảnh vừa tả
tình bông hoa trở thành một sinh thể duyên dáng và rất đa tình. Chữ “trôi” gợi sự nhẹ nhành thanh
thoát. Thiên nhiên và con người gần gũi, hài hòa và sống động.
+ Câu thơ trên xuất hiện hai câu hỏi tu từ: người đi "có thấy", "có nhớ" hỏi mà
không đợi câu trả lời bởi đó là dòng độc thoại nội tâm của tác giả đang chìm đắm trong nỗi nhớ
thương da diết.
- Đoạn thơ không chỉ có sự kết hợp giữa chất chất thơ và chất họa mà còn có cả chất nhạcnhạc điệu được cất lên từ một tâm hồn say đắm với cảnh và người miền Tây đúng như nhận xét của
Xuân Diệu "Đọc bài thơ Tây Tiến ta có cảm giác như ngậm nhạc trong miệng".
3. Bức chân dung tập thể của người lính Tây Tiến
a. Vẻ đẹp lãng mạn, bi tráng qua dáng vẻ bên ngoài và cuộc sống người lính Tây Tiến
- Bút pháp bi tráng của QD không né tránh cái bi thương mà nhìn thẳng vào những gian khổ
hi sinh của người lính bằng nét bút rất lạ
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
- Ở phần đầu bài thơ, QD đã dùng hai chữ "đoàn quân": "Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi"
đến đây QD chuyển thành "đoàn binh". Hai chữ "đoàn binh" kết hợp với nghệ thuật đảo cấu trúc cú
pháp đưa hai chữ "Tây Tiến" lên đầu dòng thơ tạo nên một giọng điệu khỏe khoắn gợi khí thế xung
trận mạnh mẽ.
- Những cơn sốt rét rừng được nói đến khá nhiều trong thơ ca kháng chiến chống Pháp với
những giọng điệu đa dạng.
+ Tố Hữu nói về anh vệ quốc quân – giọng thơ thương mến
Giọt mồ hôi rơi
Trên má anh vàng nghệ
Anh vệ quốc quân ơi
Sao mà yêu đến thế
+ Chính Hữu cũng nói về sốt rét bằng giọng thơ mộc mạc :
Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi”
+ QD nói về sốt rét nhưng với giọng thơ khác dữ dội hơn với hai chi tiết "Không mọc
tóc”, “xanh màu lá" chỉ cái khốc liệt. Người lính bị những cơn sốt rét rừng làm cho xanh mặt, trọc
đầu. Hình ảnh đoàn quân hiện lên thật kì dị.
- Nếu cái bi là một sự thật thì cái "tráng" cái "hùng" cũng là một sự thật mạnh mẽ. Cụm từ
"không mọc tóc" là một cách nói đặc biệt. QD đã chuyển thế bị động thành chủ động cứ làm như
người lính không cần mọc tóc bằng một cách nói đầy vẻ bất cần gợi khẩu khí kiêu hùng ngang tàng
rất lính. Da "xanh màu lá" chứ không phải xanh xao, đó là màu xanh của áo lính hay màu xanh của
lá rừng ngụy trang. Hình ảnh thơ gợi sức mạnh của đoàn quân Tây Tiến hòa trong những cánh rừng
thiêng bạt ngàn.
- QD có tài tạo hình ảnh thơ thật gân guốc "dữ oai hùm" khí phách cuả người lính đã đè bẹp
bệnh tật các chàng trai da xanh xao vì sốt rét nhưng vẫn mang cái oai linh của các trang hổ tướng
một thời. Ngoại hình của người lính trong thơ QD khác với ngoại hình của người lính trong thơ
Chính Hữu: Áo anh rách vai quần tôi có vài mảnh vá
b. Vẻ đẹp bi tráng qua tâm hồn hào hoa lãng mạn của người lính
- Giữa cái gân guốc của hiện thực chiến tranh khốc liệt ý thơ của QD bay lên một giấc mơ
lãng mạn
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
- Nói về giấc mơ, nỗi nhớ của người lính đó là cảm xúc quen thuộc trong thơ ca kháng chiến.
Người lính trong Đồng chí của Chính Hữu ra đi từ đồng ruộng họ nhớ về giếng nước, gốc đa, ruộng
nương còn người lính trong Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội nên nỗi mộng mơ của họ cũng
thật khác lạ, thanh lịch, hào hoa.
- Câu thơ "Mắt trừng gửi mộng qua biên giới" thể hiện nỗi mộng mơ không xác thực về đối
tượng và địa điểm gửi mộng.
+ Hai chữ “mắt trừng” miêu tả hình ảnh đôi mắt mở to dữ dội ngùn ngụt ý chí và lòng căm
thù. Đôi mắt ấy bộc lộ toàn bộ nội lực của người lính diến tả tận cùng cái oai phong lẫm liệt và cả
cái đằm thắm trong trái tim của người lính.
+ Vì thế có thể hiểu người lính Tây Tiến gửi mộng qua biên giới tới những người đồng chí
nước bạn Lào. Đó là giấc mộng hòa bình cho quê hương đất nước.
- Câu thơ "Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm" thể hiện nỗi nhớ có hình hài của người lính
+ Người lính Tây Tiến mơ về thành đô hoa lệ nơi họ từ biệt ra đi . "Dáng kiều thơm" ở câu
thơ trước hết gợi bóng dáng của kinh thành Hà Nội vàng son, thanh lịch:
Từ thuở mang gươm đi mở cõi
Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long
(Huỳnh Văn Nghệ)
+ Mặt khác từ dáng kiều là cách nói mĩ lệ hóa của văn học cổ QD sử dụng để nói về người
thiếu nữ Hà Thành xinh đẹp. QD bổ sung thêm chứ "thơm" khiến cái đẹp tỏa hương ngào ngạt gợi
sự e ấp nâng niu.
+ Như vậy người lính có đôi mắt trừng như lửa cháy hờn căm và phẫn nộ để thiêu đốt kẻ thù
nhưng lại biết mơ về những cô gái Hà Thành thanh lịch kiều diễm. Điều này cho thấy những vẻ đẹp
tâm hồn của người lính.
c. Vẻ đẹp bi tráng thể hiện qua tư thế lên đường, quyết tâm hy sinh vì lý tưởng
- Đi liền với cái mộng mơ là cái chết nhưng chỉ có điều sự hi sinh của người lính lại được nói
bằng cảm hứng lãng mạn mang màu sắc bi tráng
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
+ Từ "rải rác" kết hợp với "mồ viễn xứ" cho thấy đây không phải là một cái chết mà
nhiều cái chết. Người lính Tây Tiến ngã xuống nơi biên ải xa xôi, những nấm mồ nằm hoang lạnh
gợi ta nhớ đên cái hoang vu bi thương trong Chinh phụ ngâm:
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi theo
+ Nỗi bi thương được vơi đi bớt phần nào khi QD sử dụng nhiều từ Hán Việt điều này
tạo nên màu sắc trang nghiêm thành kính. Những nấm mồ hoang trở thành bất tử vĩnh hằng bởi sự hi
sinh của người lính là cao cả thiêng liêng họ ngã xuống vì quê hương đất nước.
- Câu thơ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh khắc họa tư thế lên đường của người lính với
lí tưởng Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh: hai chữ "đời xanh" chỉ tuổi thanh xuân mơn mởn tràn đầy
sức sống. Không có cái gì quí và đẹp bằng tuổi trẻ vậy mà hai chữ "chẳng tiếc" lại ném xuống dòng
thơ thật dứt khoát. Ở đây, người lính đã coi vận mệnh của Tổ quốc lớn hơn sinh mệnh của chính
mình. Đây là lí tưởng cao đẹp của con người VN mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng.
- Với triết lí và lẽ sống cao đẹp đó người lính Tây Tiến cho đên giây phút cuối cùng trở về
với đất mẹ vẫn sáng lên vẻ đẹp tâm hồn cao cả:
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
+ Câu thơ mang ý nghĩa hiện thực sâu sắc: "tử sĩ nằm xuống không đủ manh chiếu để
liệm…họ được chôn cất trong chiếc áo của mình" (lời Quang Dũng) cái hay của câu thơ ở chỗ hiện
thực bi thương dược Quang Dũng tái hiện bằng đôi mắt lãng mạn vừa yêu thương vừa trân trọng
thành kính. Nhà thơ phủ lên thi thể của đồng đội hình ảnh áo bào, đây là một hình ảnh ước lệ gợi âm
hưởng "sa trường gửi thây" gợi cái chết của tráng sĩ thuở xưa. Bởi thế giây phút tiễn đưa đồng đội
về cõi bất tử được thiêng liêng hóa bằng hình ảnh áo bào đầy trang trọng cổ kính.
+ Cụm từ "anh về đất" giảm nhẹ sự mất mát đau thương. Đất là quê mẹ, là Tổ quốc
thiêng liêng, diễn tả thái độ đón n...
Quang Dũng
I. TÌM HIỂU CHUNG
1. Tác giả:
- Quang Dũng (1921 - 1988) tên khai sinh là Bùi Đình Diệm. Quê ở Hà Tây (nay là Hà Nội).
- Sau CMTT, ông tham gia vào quân đội. Ông là người nghệ sĩ đa tài: Viết văn, làm thơ, vẽ
tranh, soạn nhạc. → Hồn thơ Quang Dũng phóng khoáng, hần hậu, lãng mạn và tài hoa.
- Tác phẩm tiêu biểu: Mây đầu ô, Tuyển tập thơ văn Quang Dũng.
2. Bài thơ:
a. Đoàn quân Tây Tiến.
- Tây Tiến là tên đơn vị bộ đội thành lập đầu năm 1947.
- Nhiệm vụ: Phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biện giới Việt - Lào và đánh tiêu hao lực
lượng quân đội Pháp.
- Địa bàn đóng quân và hoạt động rộng lớn: Bao gồm các tỉnh Lai Châu, Hoà Bình, miền
Tây Thanh Hoá và cả Sầm Nưa (Lào).
- Thành phần: phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên.
- Cuộc sống: gian khổ, vô cùng thiếu thốn, chết vì bệnh nhiều hơn chết trận. Tuy vậy, họ
sống lạc quan và dũng cảm.
b. Hoàn cảnh sáng tác:
- Quang Dũng là đại đội trưởng của đoàn quân Tây Tiến (1947)
- Cuối năm 1948, ông được chuyển sang đơn vị khác. Rời đơn vị cũ chưa được bao lâu, tại
làng Phù Lưu Chanh, QD viết bài thơ Nhớ Tây Tiến → sau đổi thành “Tây Tiến” in trong tập “Mây
đầu ô”.
c. Bố cục;
- Đoạn 1: Nhớ về thiên nhiên Tây Bắc với những cuộc hành quân gian khổ của đoàn quân
Tây Tiến.
- Đoạn 2: Nhớ kỉ niệm ấm áp tình quân dân.
- Đoạn 3: Bức chân dung người lính Tây Tiến.
- Đoạn 4: Lời thề gắn bó với Tây Tiến và Tây Bắc.
II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
1. Đoạn 1: Nỗi nhớ về chặng đường hành quân gian khổ
a. 2 câu thơ đầu: Nỗi nhớ được diễn tả khái quát, nỗi nhớ thấm đẫm thời gian và không
gian
- Nỗi nhớ bật lên thành tiếng gọi: Có thể nói cả bài thơ là nỗi nhớ trải dài, nỗi nhớ có khi lắng
xuống tầng sâu trong tâm hồn nhưng cũng có khi bật lên thành tiếng gọi tha thiết:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
- Đối tượng của nỗi nhớ: Sông Mã, Tây Tiến, rừng núi.
+ Sông Mã: là con sông từ thượng Lào chảy vào đất Việt. Dòng sông ấy đã gắn bó với đoàn
quân Tây Tiến, chứng kiến những vui, buồn trong cuộc đời người lính chiến binh. Vì thế, Quang
Dũng nhớ về đoàn quân Tây Tiến là còn nhớ về dòng sông Mã thân thuộc, hơn thế nữa có thể đây
còn là dòng sông tâm trạng, dòng sông chở nặng cảm xúc, nỗi niềm đầy vơi trong lòng thi nhân.
+ Rừng núi: là hình ảnh khái quát về địa bàn hoạt động của người lính Tây Tiến. Đó là nơi
rừng núi hoang vu, rậm rạp, địa hình hiểm trở,...
+ Tây Tiến: là một đơn vị thành lập đầu năm 1947, Quang Dũng có mặt tại đơn vị ngay từ
những ngày đầu mới thành lập nên nhà thơ có sự gắn bó sâu sắc với đồng đội của mình.
- Nỗi nhớ của tác giả được thể hiện sâu sắc:
+ Câu thơ như một tiếng thở dài: Sông Mã xa rồi, lại cũng như một tiếng gọi: Tây Tiến ơi!.
Nỗi nhớ có cái gì đó khắc khoải, thể hiện sự tiếc nuối, trạng thái hụt hẫng cùng với khát vọng trở về
quá khứ thân thương mà hào hùng thuở nào.
+ Điệp từ “nhớ”: diễn tả nỗi nhớ cháy bỏng, không nguôi cứ tuôn chảy dào dạt trong lòng thi
nhân, nhớ đến thổn thức, bồi hồi. Hai từ “nhớ” được đặt trong cùng một câu thơ nhưng lại tách ra
làm hai vế khiến cho nỗi nhớ như được tô đậm thêm cảm xúc. Nỗi nhớ dào dạt như những lớp sóng
dâng trào mãnh liệt trong lòng thi nhân: “Nhớ về rừng núi/ nhớ chơi vơi”.
+ Nỗi nhớ của nhà thơ được miêu tả thật đặc sắc: “nhớ chơi vơ”i. Từ “chơi vơi” là từ láy
giàu sức gợi. Nỗi nhớ của Quang Dũng thật khó định hình, định lượng, khó diễn tả, như gợi ra được
cả sự xa xôi về thời gian, không gian, nỗi nhớ như có cả tầm cao, bồng bềnh lan tỏa, không sao đong
đếm được.
+ Nỗi nhớ da diết, cháy bỏng, vang vọng: Quang Dũng sử dụng hai chữ “chơi vơi” kết hợp
với sự láy lại ba lần của vần ơi (ơi, chơi vơi), đây là ba âm mở và dài có kết cấu thanh bằng mang
âm hưởng vang vọng lan tỏa khiến cho nỗi nhớ như được ngân lên, nhớ đến thiết tha, thường trực
trong tâm hồn nhà thơ, cả không gian dường như cũng ngập tràn trong nỗi nhớ của tác giả.
b. 6 câu thơ tiếp: Nỗi nhớ về thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội, thơ mộng trên chặng
đường hành quân gian khổ của người lính Tây Tiến
Nỗi nhớ dắt nẻo nhà thơ trở về với những kỉ niệm khó quên gắn với thiên nhiên miền Tây,
làm hiện lên một không gian, cảnh vật miền Tây dữ dội, hiểm trở mà hùng vĩ song cũng thật nên
thơ, thi vị.
* Nỗi nhớ gắn với những địa danh khó quên:
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
- Trong nỗi nhớ của Quang Dũng có nhiều địa danh xuất hiện như: Sài Khao, Mường Lát,
những địa danh này vừa mang ý nghĩa cụ thể, vừa mang ý nghĩa tượng trưng khái quát.
+ Đây là những địa danh, tên những vùng đất mà người lính Tây Tiến đi qua, từng gắn
bó. Dường như chỉ cần nhắc lại những địa danh ấy thôi là biết bao kỉ niệm của quá khứ lại ào ạt
chảy về trong tâm trí nhà thơ.
+ Những địa danh này còn mang ý nghĩa khái quát, nó tượng trưng cho một không
gian rất riêng của Tây Bắc xa xôi, lạ lẫm, hoang dã, bí ẩn.
=> Những địa danh được nhà thơ nhắc đến không phải là những địa danh vô nghĩa trên bản đồ mà
đoàn quân Tây Tiến một thời đã đi qua mà nó đã tái hiện lại một thời kì lịch sử hào hùng của dân tộc
với biết bao khó khăn, gian khổ:
Những tên làng, tên núi, tên sông
Những cái tên đọc lên nghe muốn khóc.
* Bức tranh thiên nhiên vừa hiện thực, vừa lãng mạn:
- Hiện thực: núi rừng Tây Bắc hiện ra trong mờ ảo khói sương, sương dày như muốn che lấp
cả đoàn quân mỏi. Hai chữ sương lấp cùng chữ mỏi đưa người đọc trở về với cuộc sống hiện thực
khốc liệt của người lính. Sương núi lạnh giá cắt da, cắt thịt như muốn nhấn chìm đoàn quân.
- Lãng mạn: tác giả viết hoa về chứ không phải là hoa nở, đêm hơi chứ không phải là đêm
sương khiến cho câu thơ thêm phần lãng mạn. Sương núi bồng bềnh trong đêm tạo nên sự huyền ảo,
mơ hồ. Đặc biệt hơn nữa là hình ảnh hoa về đã đem đến cho người đọc nhiều suy ngẫm, có thể hiểu
trong sự cảm nhận lãng mạn của người lính thì sương khói ở Mường Lát lúc tụ vào, lúc tan ra trông
như những bông hoa khói vậy. Cũng có thể, những người lính Tây Tiến trên đường hành quân trở về
Mường Lát họ mang theo những đóa hoa rừng ngát hương thơm, hoa đang cùng bung nở trên chặng
đường hành quân của người lính Tây Tiến, là người bạn đồng hành của người lính. Đây là những
bông hoa thực, hoa hiện ra mờ ảo trong sương khói bồng bềnh.
=> Dù hiểu theo cách nào, người đọc vẫn cảm nhận được những khó khăn, gian khổ mà
người lính Tây Tiến đã phải trải qua để ta hiểu về hiện thực khốc liệt của chiến tranh, để thêm cảm
phục, thêm yêu vẻ đẹp tâm hồn của những người lính trẻ mộng mơ. Những hình ảnh ấy khiến cho
đoạn thơ bớt đi sự dữ dằn của hiện thực, người đọc có cảm giác như được xoa dịu, vơi đi những
nhọc nhằn, vất vả mà người lính Tây Tiến phải chịu đựng.
=> Trong hai câu thơ trên, tác giả vừa sử dụng hình ảnh gân guốc, vừa sử dụng hình ảnh thơ
mộng, đẹp đẽ kết hợp với nghệ thuật tiểu đối đã làm nổi bật hai vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc vừa
dữ dội, vừa nên thơ, đồng thời cũng làm nổi bật hai khía cạnh trong cuộc đời chiến đấu của người
lính Tây Tiến vừa gian khổ, vừa lãng mạn, yêu đời.
* Chặng đường hành quân gian khổ của người lính Tây Tiến:
Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
- Tác giả sử dụng từ láy có giá trị tạo hình cao: khúc kkuỷu, thăm thẳm, heo hút đạt giá trị
biểu cảm cao, chúng lại được đặt liên tiếp nhau để đặc tả sự gian nan trùng điệp.
+ Dốc khúc khuỷu vì đường đi là núi đèo hiểm trở, gập ghềnh, vừa lên cao đã vội đổ
dốc, cứ thế gấp khúc nối tiếp nhau độ cao ngất trời.
+ Dốc thăm thẳm: không chỉ đo chiều cao mà còn là ấn tượng về độ sâu, cảm giác như
hút tầm mắt người, không biết đâu là giới hạn cuối cùng Độ sâu hun hút.
+ Điệp từ dốc được nhắc đến liên tiếp hai lần trong một câu thơ, tách ra ở hai vế gợi ra
một địa hình hiểm trở chỉ có dốc là dốc cao và sâu. Người đọc có cảm giác người lính vừa vượt qua
con dốc này lại thấy hiện ra những con dốc khác ngay trước mặt mình.
+ Heo hút cồn mây: heo hút gợi ra sự vắng vẻ, hiu quạnh, nghệ thuật đảo ngữ càng
nhấn mạnh điều đó. Cồn mây là mây tụ lại, xếp tầng, hình ảnh thơ gợi ra vị trí của người lính Tây
Tiến đứng trong mây, trên đỉnh núi cao vời vợi. Như vậy, dẫu câu thơ không nhắc đến sự khó khăn
nhưng người đọc vẫn hình dung ra chặng đường hành quân leo dốc, vượt đèo mà người lính phải trải
qua.
=> Quang Dũng đã mở ra không gian ba chiều khiến hình ảnh thơ được chạm nổi thành một
bức phù điêu hùng vĩ về núi rừng Tây Bắc khiến người đọc liên tưởng đến chặng đường hành quân
của người chinh phu trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn (Đoàn Thị Điểm diễn Nôm):
Hình khe thế núi gần xa
Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao.
- Nghệ thuật nhân hóa: Súng ngửi trời.
+ Trước hết, đây là một hình ảnh xuất phát từ cảm xúc trước hiện thực, những người
lính Tây Tiến hành quân trong mây mà tưởng như nòng súng chạm tới đỉnh trời.
+ Đây là một hình ảnh đẹp, lạ và táo bạo làm rõ vẻ đẹp hào hùng, hào hoa của người
lính Tây Tiến.
++ Hào hoa, lãng mạn: Tác giả không nói súng chạm trời mà là súng ngửi trời.
Hình ảnh thơ mang nhiều ý nghĩa biểu tượng giúp người đọc phát hiện ra vẻ đẹp tâm hồn hào hoa,
lãng mạn của người lính Tây Tiến. Tác giả sử dụng nghệ thuật nhân hóa khiến cho những vật vô tri,
vô giác cũng trở nên có linh hồn sống động hơn. Người lính đang tếu táo, đùa vui trêu ghẹo cả tạo
hóa. Câu thơ khiến người đọc liên tưởng đến hình ảnh thơ mộng trong bài thơ Đồng chí của Chính
Hữu: Đầu súng trăng treo hay tâm hồn trẻ trung, sôi nổi, lạc quan của người lính lái xe trong Bài thơ
về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật.
++ Hào hùng: Quang Dũng không nói đến người lính mà ta vẫn thấy người
lính, không nói núi cao mà ta vẫn thấy núi rất cao. Chữ ngửi vẽ ra hình ảnh người lính đang ở tư thế
chót vót trên đỉnh núi, đi giữa ngàn mây, nòng súng đang chạm vào vòm trời. Điều đó cho thấy sự
hùng vĩ của thiên nhiên Tây Bắc và vẻ đẹp của người lính Tây Tiến. Vẻ đẹp của con người trong tư
thế sánh ngang trời đất, làm chủ hoàn cảnh. Vẻ đẹp của người lính Tây Tiến được tỏa sáng giữa đất
trời Tây Bắc mang vẻ đẹp sử thi của văn học giai đoạn 1945 - 1975. Đó là vẻ đẹp tiêu biểu của
người lính trong văn học chống Pháp:
Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều
Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo
Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá ngụy trang reo với gió đèo.
(Lên Tây Bắc - Tố Hữu)
- Nghệ thuật đối lập: Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống.
Thiên nhiên Tây Bắc dường như luôn luôn có ý định thử thách lòng người. Tác giả sử dụng
nghệ thuật đối lập cùng cách ngắt nhịp 4/3, kết hợp với điệp từ ngàn thước với hai động từ chỉ
hướng lên, xuống khiến cho câu thơ như bị bẻ gãy làm đôi để miêu tả hai chiều không gian Tây Bắc
vừa có độ cao chót vót, vừa có độ sâu thăm thẳm. Dốc đột ngột vút lên thẳng đứng rồi lại đột ngột
gãy gập đổ xuống một cách bất ngờ, nguy hiểm.
- Tác giả sử dụng tài hoa thanh trắc kết hợp với thanh bằng:
+ Thanh trắc được sử dụng với mật độ dày đặc (liên tiếp ở ba câu thơ: Dốc lên khúc
khuỷu...ngàn thước xuống) đã vẽ nên những đường nét gân guốc, rắn rỏi về địa hình vùng cao Tây
Bắc hiểm trở, đó cũng là chặng đường hành quân vô cùng gian nan mà người lính Tây Tiến phải trải
qua.
+ Thanh bằng được sử dụng trọn vẹn trong một câu thơ: Nhà ai Pha Luông mưa xa
khơi đã tạo cho câu thơ những nét vẽ dịu dàng, hiền hoà. Không gian được cảm nhận qua điểm nhìn
của người lính Tây Tiến khi người lính hành quân lên đến đỉnh núi phóng tầm mắt ra xa, dưới kia là
những ngôi nhà bồng bềnh trong biển mưa. Người đọc không còn thấy dấu vết của sự mệt mỏi bởi
phải vượt rừng, leo núi nữa, bây giờ là tâm trạng bâng khuâng, thư thái của con người khi vượt lên
đến đỉnh dốc, vượt qua biết bao gian lao, vất vả, thử thách để có được cảm giác Thu vào tầm mắt
muôn trùng nước non (Hồ Chí Minh).
=> Nhận xét: Bốn câu thơ có sự kết hợp hài hòa giữa các thanh điệu, quả đúng Quang Dũng
là một nghệ sĩ đa tài, ông có tài không chỉ về thơ ca mà còn cả âm nhạc và hội họa nữa. Những câu
thơ này thật xứng đáng là lời thơ Thi trung hữu họa, thi trung hữu nhạc. Phải chăng vì thế mà Xuân
Diệu cho rằng: Đọc thơ của Quang Dũng như ngậm nhạc ở trong miệng. Trong những câu thơ này,
Quang Dũng còn sử dụng nghệ thuật của thơ Đường vẽ mây nảy trăng khi nhà thơ tả cảnh núi rừng
Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở, dữ dội để làm nổi bật lên hình ảnh người lính Tây Tiến trên bước đường
hành quân và chiến đấu đầy gian khổ, vất vả, hi sinh nhưng vẫn lạc quan hồn nhiên yêu đời, lãng
mạn.
c. 6 câu thơ cuối: Nỗi nhớ về người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân gian khổ
mang vẻ đẹp bi tráng (vẻ đẹp hào hùng, lãng mạn)
- Hiện thực trên bước đường hành quân của người lính Tây Tiến:
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
+ Hai chữ anh bạn chứa đựng những tình cảm gắn bó giữa những người bạn thân thiết,
giữa những người đồng chí, đồng đội, đây là cách nói thân thuộc, gần gũi.
+ Hiện thực bi tráng được diễn tả qua những từ ngữ: Dãi dầu, gục. Đó là những vất vả,
gian lao mà người lính Tây Tiến phải trải qua trên chặng đường hành quân gian khổ và quá trình
chiến đấu với quân thù. Đặc biệt là chữ gục có nhiều cách hiểu: Có thể đó là sự mệt mỏi khiến người
lính ngủ gục trên súng mũ như muốn quên đi tất cả, có thể đây là cách nói giảm, nói tránh diễn tả sự
hi sinh của người lính vì Tổ quốc.
- Vẻ đẹp bi tráng của người lính: Quang Dũng vẫn tiếp tục sử dụng cách nói giảm, nói tránh
khi viết về vẻ đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến qua các cụm từ: không bước nữa, bỏ quên đời.
Chiến đấu và hi sinh đó là hiện thực khốc liệt của chiến tranh. Nhà thơ Quang Dũng đã không ngần
ngại nói đến cái chết mặc dù câu thơ không có từ nào nói đến cái chết. Hiệu quả của nghệ thuật nói
giảm nói tránh vừa gợi được tình thương, vừa gợi được sự bình thản chứ không bi lụy. Tác giả
không viết là ngủ quên đời mà là bỏ quên đời thì mới thật ngang tàng, bất cần.Với cách nói này câu
thơ có bi mà không có lụy, ngược lại hết sức hùng tráng gợi ra chất phong trần, ngang tàng của
người lính mang vẻ đẹp của những tráng sĩ thuở xưa.
- Thiên nhiên Tây Bắc bí hiểm, hoang dại luôn rình rập người lính:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
+ Thiên nhiên hoang dã, dữ dội được miêu tả trong tiếng gầm thét của thác, bóng dáng
của cọp trêu người.
+ Địa danh Mường Hịch: Nhà thơ Vũ Quần Phương cho rằng địa danh Mường Hịch
đọc có cảm giác như tiếng chân cọp đi trong đêm khuya. Hai chữ Hịch, cọp với hai dấu nặng trĩu
xuống nghe rờn rợn. Câu thơ nói đủ sự khốc liệt của chiến trường người lính. Hai dấu chấm nặng
như xoáy vào lòng đất gợi cảm giác ghê sợ, hãi hùng.
+ Sử dụng từ láy: Chiều chiều, đêm đêm gợi cho người đọc ấn tượng mạnh mẽ về thời
gian diễn ra triền miên nơi rừng thiêng thác sâu, cọp dữ, nơi ấy luôn là mối đe dọa khủng khiếp đối
với người lính Tây Tiến. Sự nguy hiểm ấy thường diễn ra vào lúc chiều tối, đêm sâu và thường
xuyên, liên tục không phải là một chiều, một đêm mà chiều nào cũng thế, đêm nào cũng thế. Như
vậy, người lính Tây Tiến không chỉ ngã xuống trước họng súng của kẻ thù mà còn có thể bị ngã
xuống bởi rừng thiêng, thác hiểm.
- Tình quân dân thắm thiết:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
+ Một lần nữa nỗi nhớ lại bật lên thành lời, tác giả đã thốt lên Nhớ ôi. Hai từ này mang
giọng điệu cảm thán bộc lộ nỗi nhớ nhung trào dâng mãnh liệt. Câu thơ có ba thanh trắc ngắt quãng
(nhớ…. Tiến…. khói) đều đặn tạo nên âm điệu câu thơ vút lên đẩy nỗi nhớ nhung lên cung bậc cao
nhất.
+ Tác giả nhớ về: Mai Châu, bữa xôi nếp dẻo ấm áp tình quân dân. Câu thơ có hai
cách hiểu.
++ Cách thứ nhất là cách định danh thời gian của tác giả: Có thể hiểu người
lính Tây Tiến dừng chân ở Mai Châu giữa mùa lúa chín đón nhận bát xôi hương nếp đầu mùa . Đặc
biệt có bàn tay thơm thảo của em làm nên hương vị nồng ấm ấy làm vấn vương lòng người chiến sĩ
Tây Tiến. Hương nếp thơm hay đó chính là sự thơm thảo của lòng người, của tình em nồng ấm?
Điều này trong bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên đã từng viết:
Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch
Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương.
++ Cách hiểu thứ hai đầy lãng mạn: Hai chữ mùa em là một sáng tạo ngôn ngữ
tài hoa của tác giả gợi đầy tình thương và nỗi nhớ, trìu mến và thân thương. Chữ mùa gợi sự đầy đủ,
ăm ắp sự sống, mang hương vị của đồng nội, còn chữ em gợi vẻ đẹp xuân sắc của người thiếu nữ.
Hai từ mùa em đã gợi tả tinh tế cảm giác xao xuyến, say mê của các chàng trai Hà Thành hào hoa,
lãng mạn trước sản vật và con người Tây Bắc.
=> Có lẽ khi viết những câu thơ này, Quang Dũng còn giữ nguyên ấn tượng hồi hộp, xúc
động khi được đón nhận tình cảm quân dân nồng ấm. Trong những năm tháng chiến đấu gian khổ
ấy, tình quân dân đã làm vơi đi những khó khăn mà người lính phải trải qua. Đây sẽ mãi mãi là
những kỉ niệm đẹp đẽ làm ấm lòng người lính trên chặng đường hành quân gian lao, đầy thử thách.
- Nghệ thuật: Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Quang Dũng lãng mạn, tài hoa ở cách
xây dựng hình ảnh, bút pháp hiện thực kết hợp với lãng mạn, nghệ thuật tương phản, nhân hóa, cách
sử dụng từ ngữ, thể thơ thất ngôn trường thiên...
2. Nhớ những kỉ niệm quân dân ấm áp tình người.
a. Bốn câu thơ đầu: Đêm liên hoan lửa trại thắm thiết tình quân dân
- Trên chặng đường hành quân gian khổ người lính nghỉ chân ở bản làng của những đồng bào
dân tộc, đời sống tinh thần của họ được gửi gắm vào những đêm liên hoan văn nghệ có đồng bào địa
phương đến góp vui. Đó là thế giới tràn ngập ánh sáng, vũ điệu, âm thanh: Doanh trại bừng lên hội
đuốc hoa
+ Hai chữ "doanh trại" chỉ là sự hoành tráng hóa cái nhìn của Quang Dũng nâng hiện
thực giản dị thành cái lớn lao vững mạnh gợi một không khí uy nghiêm hào hùng trong những ngày
tháng gian khổ. Bởi lẽ những người lính trong những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp sinh
hoạt rất thiếu thốn làm sao có thể có những doanh trại được. Nhà thơ Nguyên Hồng cũng đã từng
viết:
Chúng tôi đi
Sờn mép ba lô
Tháng năm bạn cùng thôn xóm
…
Chúng tôi đi mang đời lưu động
Nghỉ lại rất nhiều nơi không nhớ hết tên nhà
+ Đi cùng với hình ảnh doanh trại là "hội đuốc hoa". Nghĩa gốc của chữ "đuốc hoa" là
ngọn đèn thắp trong đêm tân hôn. Quang Dũng đã sáng tạo thành hội đuốc hoa. H/ả này thật lãng
mạn tạo nên một màu sắc vừa cổ kính vừa hiện đại vừa thiêng liêng. Nhà thơ đã lấy sự đằm thắm
trong tình yêu lứa đôi để ngợi ca sự đằm thắm trong tình nghĩa quân dân cá nước. Đây là cảm xúc
thường gặp trong thơ ca cách mạng. Ở bài Việt Bắc khi nhớ về quê hương cách mạng Tố Hữu cũng
đã từng viết:
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương
+ Chữ "bừng" trong câu thơ đầu tiên diễn tả ánh sáng của những ngọn đuốc đẩy lùi
bóng tối của núi rừng. Mặt khác còn diễn tả niềm vui đó là âm thanh của tiếng cười tiếng hát vang
lên tưng bừng rộn rã.
- Câu thơ thứ hai khắc họa vẻ đẹp của con người: Kìa em xiêm áo tự bao giờ
+ Hai chữ “kìa em” diễn tả sự vui sướng ngạc nhiên đó là tiếng reo vui khi bắt gặp nét
đẹp thi vị của cuộc sống. Câu thơ có hai cách hiểu:
++ Theo nhà thơ Trần Lê Văn: Cô em mà QD nhắc tới ở đây không phải là ai
khác mà đó chính là những người lính Tây Tiến họ hóa trang làm những cô gái để diễn kịch . Đây là
nét dí dỏm tinh nghịch của những người lính Tây Tiến
++ Theo ngôn từ diễn đạt trong câu thơ thì em có thể hiểu là những cô gái miền
sơn cước.
Dẫu hiểu theo cách nào thì cũng thấy nét thi vị của cuộc sống đời thường giữa bối cảnh
chiến tranh khốc liệt. Dường như những hình ảnh tười tắn trẻ trung của con người đã xua tan cái
khắc nghiệt trên chặng đượng hành quân của người lính.
- Câu thơ thứ 3 gợi vẻ đẹp âm thanh và vũ điệu: Khèn lên man điệu nàng e ấp
Người lính Tây Tiến trong đêm liên hoan đắm mình mơ màng trong tiếng khèn với những
man điệu của tiếng khèn - loại nhạc cụ độc đáo của vùng núi cao Tây Bắc. Nhà thơ diễn tả tiếng
khèn bằng hai từ "man điệu" vừa gợi tả âm thanh vừa gợi tả vũ điệu mang đậm màu sắc của núi
rừng Tây Bắc
- Câu thơ thú tư có sự lưu giữ kỉ niệm: Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ. Câu thơ có 7 chữ thì
có tới 6 thanh bằng tiếng nhạc thơ vang lên nhẹ nhàng diễn tả tâm hồn người lính bay bổng phiêu du
tới những vùng đất xa xôi, đến tận Viên Chăn – thủ đô của nước bạn Lào hướng về một ngày mai
thanh bình vang trong khúc hát khải hoàn.
Tóm lại, chỉ với 4 câu thơ QD dã thể hiện tâm hồn lãng mạn của người lính Tây Tiến khi
được sống trong tình quân dân thắm thiết. Có thể nói đây là một xúc cảm thường gặp trong thơ ca
cách mạng. Hoàng Trung Thông có viết:
Các anh về
Xôn xao làng bé nhỏ
Nhà lá đơn sơ
Tấm lòng rộng mở
Có điều QD đã lấy cái lãng mạn hào hoa, lấy sự mặn nồng của tình yêu lứa đôi nhiệt huyết
của tuổi trẻ để tô đậm tình quân dân. Vì thế thơ QD mang vẻ đẹp riêng đầy xúc cảm.
- Chỉ với 4 câu thơ nhưng QD đã vẽ được bức tranh vừa phong phú về màu sắc vừa đa dạng
về âm thanh. Điều này cho thấy sự nhạy cảm của QD với vẻ đẹp thi vị khác thường của con người
văn hóa vùng cao Tây Bắc. Đồng thời cho thấy sự lạc quan yêu đời của người lính Tây Tiến.
b. Bốn câu thơ sau: Bức tranh Châu Mộc mĩ lệ huyền ảo
- Với người lính Tây Tiến mỗi vùng đất đi qua đều thấm đẫm bao kỉ niệm. Nỗi nhớ đã gợi về
miền đất Châu Mộc. Châu Mộc là một địa danh ở Sơn La nơi có cánh đồng cỏ bát ngát mênh mông,
có dãy núi Pha Luông cao ngất trời. Quang Dũng cũng như người lính Tây Tiến đã từng gắn bó với
miền đất Châu Mộc. Năm tháng trôi qua cảnh và người nơi miền đất ấy trở thành nỗi nhớ da diết.
- Vẻ đẹp của bức tranh thơ được QD vẽ bằng những nét điển hình:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
+ Từ "người" được QD sử dụng rất tài tình ở đây nó mang nghĩa vừa cụ thể vừa
phiếm chỉ, vừa là tác giả vừa là những người đồng đội đã từng sống chết có nhau ở binh đoàn Tây
tiến.
+ Từ "ấy" không xác định được thời gian nhưng lại gợi về thời khắc khó quên một đi
không trở lại trong nỗi nhớ đầy vơi của Quang Dũng .
+ Thời gian của bức tranh thơ là một buổi chiều sương giăng mắc, không khí huyền
thoại khiến cho con người và cảnh vật mờ đi hư ảo như một bức tranh thủy mặc cổ điển khiến cho
người đọc nhớ đến tứ thơ cũng rất thi vị của Chế Lan Viên trong Tiếng hát con tàu:
Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương.
Không gian của bức tranh thơ là cảnh sông nước mênh mông với bến bờ hoang dại nguyên
thủy đượm màu cổ tích.
+ Trên nền không gian và thời gian ấy là hình ảnh "hồn lau nẻo bến bờ" hình ảnh hoa
lau gợi nét đặc trưng của thiên nhiên vùng cao hoa lau mọc khắp núi đồi.
- Bằng nghệ thuật nhân hóa "hồn lau", QD đã diễn tả được thần thái của cảnh vật thiên nhiên
Tây Bắc như có linh hồn phảng phất trong gió trong mây trở thành kí ức không thể phai nhòa của
người lính Tây Tiến.
- Trong dòng hoài niệm da diết, thi nhân nhớ về dáng người mờ xa trên thuyền độc mộc
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
+ Độc mộc là loại thuyền dài và hẹp làm bằng thân của một cây gỗ to khoét thủng
thích hợp với vùng núi cao. Hình ảnh dáng người trên độc mộc có thể hiểu là người lính Tây Tiến
nhưng cũng có thể hiểu là hình ảnh những con người Tây Bắc, những người thiếu nữ Tây Bắc dân
tộc Thái, Mường…với vẻ đẹp mềm mại duyên dáng mà cũng rất đỗi khỏe khoắn.
+ Câu thơ “trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” là một câu thơ đa nghĩa
++ Nghĩa thực: Những bông hoa rừng như muốn làm duyên bên dòng nước lũ
++ Nghĩa ẩn dụ: Hình ảnh thơ có sự hô ứng với câu thơ trước dáng người trên
độc mộc như những bông hoa đong đưa trên dòng nước lũ
+ Nhà thơ dùng hai chữ “đong đưa” chứ không phải “đung đưa” vì nếu "đung đưa"
chỉ là đơn thuần chuyển động đưa đi đưa lại mang tính chất vật lí còn "đong đưa" vừa tả cảnh vừa tả
tình bông hoa trở thành một sinh thể duyên dáng và rất đa tình. Chữ “trôi” gợi sự nhẹ nhành thanh
thoát. Thiên nhiên và con người gần gũi, hài hòa và sống động.
+ Câu thơ trên xuất hiện hai câu hỏi tu từ: người đi "có thấy", "có nhớ" hỏi mà
không đợi câu trả lời bởi đó là dòng độc thoại nội tâm của tác giả đang chìm đắm trong nỗi nhớ
thương da diết.
- Đoạn thơ không chỉ có sự kết hợp giữa chất chất thơ và chất họa mà còn có cả chất nhạcnhạc điệu được cất lên từ một tâm hồn say đắm với cảnh và người miền Tây đúng như nhận xét của
Xuân Diệu "Đọc bài thơ Tây Tiến ta có cảm giác như ngậm nhạc trong miệng".
3. Bức chân dung tập thể của người lính Tây Tiến
a. Vẻ đẹp lãng mạn, bi tráng qua dáng vẻ bên ngoài và cuộc sống người lính Tây Tiến
- Bút pháp bi tráng của QD không né tránh cái bi thương mà nhìn thẳng vào những gian khổ
hi sinh của người lính bằng nét bút rất lạ
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
- Ở phần đầu bài thơ, QD đã dùng hai chữ "đoàn quân": "Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi"
đến đây QD chuyển thành "đoàn binh". Hai chữ "đoàn binh" kết hợp với nghệ thuật đảo cấu trúc cú
pháp đưa hai chữ "Tây Tiến" lên đầu dòng thơ tạo nên một giọng điệu khỏe khoắn gợi khí thế xung
trận mạnh mẽ.
- Những cơn sốt rét rừng được nói đến khá nhiều trong thơ ca kháng chiến chống Pháp với
những giọng điệu đa dạng.
+ Tố Hữu nói về anh vệ quốc quân – giọng thơ thương mến
Giọt mồ hôi rơi
Trên má anh vàng nghệ
Anh vệ quốc quân ơi
Sao mà yêu đến thế
+ Chính Hữu cũng nói về sốt rét bằng giọng thơ mộc mạc :
Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi”
+ QD nói về sốt rét nhưng với giọng thơ khác dữ dội hơn với hai chi tiết "Không mọc
tóc”, “xanh màu lá" chỉ cái khốc liệt. Người lính bị những cơn sốt rét rừng làm cho xanh mặt, trọc
đầu. Hình ảnh đoàn quân hiện lên thật kì dị.
- Nếu cái bi là một sự thật thì cái "tráng" cái "hùng" cũng là một sự thật mạnh mẽ. Cụm từ
"không mọc tóc" là một cách nói đặc biệt. QD đã chuyển thế bị động thành chủ động cứ làm như
người lính không cần mọc tóc bằng một cách nói đầy vẻ bất cần gợi khẩu khí kiêu hùng ngang tàng
rất lính. Da "xanh màu lá" chứ không phải xanh xao, đó là màu xanh của áo lính hay màu xanh của
lá rừng ngụy trang. Hình ảnh thơ gợi sức mạnh của đoàn quân Tây Tiến hòa trong những cánh rừng
thiêng bạt ngàn.
- QD có tài tạo hình ảnh thơ thật gân guốc "dữ oai hùm" khí phách cuả người lính đã đè bẹp
bệnh tật các chàng trai da xanh xao vì sốt rét nhưng vẫn mang cái oai linh của các trang hổ tướng
một thời. Ngoại hình của người lính trong thơ QD khác với ngoại hình của người lính trong thơ
Chính Hữu: Áo anh rách vai quần tôi có vài mảnh vá
b. Vẻ đẹp bi tráng qua tâm hồn hào hoa lãng mạn của người lính
- Giữa cái gân guốc của hiện thực chiến tranh khốc liệt ý thơ của QD bay lên một giấc mơ
lãng mạn
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
- Nói về giấc mơ, nỗi nhớ của người lính đó là cảm xúc quen thuộc trong thơ ca kháng chiến.
Người lính trong Đồng chí của Chính Hữu ra đi từ đồng ruộng họ nhớ về giếng nước, gốc đa, ruộng
nương còn người lính trong Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội nên nỗi mộng mơ của họ cũng
thật khác lạ, thanh lịch, hào hoa.
- Câu thơ "Mắt trừng gửi mộng qua biên giới" thể hiện nỗi mộng mơ không xác thực về đối
tượng và địa điểm gửi mộng.
+ Hai chữ “mắt trừng” miêu tả hình ảnh đôi mắt mở to dữ dội ngùn ngụt ý chí và lòng căm
thù. Đôi mắt ấy bộc lộ toàn bộ nội lực của người lính diến tả tận cùng cái oai phong lẫm liệt và cả
cái đằm thắm trong trái tim của người lính.
+ Vì thế có thể hiểu người lính Tây Tiến gửi mộng qua biên giới tới những người đồng chí
nước bạn Lào. Đó là giấc mộng hòa bình cho quê hương đất nước.
- Câu thơ "Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm" thể hiện nỗi nhớ có hình hài của người lính
+ Người lính Tây Tiến mơ về thành đô hoa lệ nơi họ từ biệt ra đi . "Dáng kiều thơm" ở câu
thơ trước hết gợi bóng dáng của kinh thành Hà Nội vàng son, thanh lịch:
Từ thuở mang gươm đi mở cõi
Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long
(Huỳnh Văn Nghệ)
+ Mặt khác từ dáng kiều là cách nói mĩ lệ hóa của văn học cổ QD sử dụng để nói về người
thiếu nữ Hà Thành xinh đẹp. QD bổ sung thêm chứ "thơm" khiến cái đẹp tỏa hương ngào ngạt gợi
sự e ấp nâng niu.
+ Như vậy người lính có đôi mắt trừng như lửa cháy hờn căm và phẫn nộ để thiêu đốt kẻ thù
nhưng lại biết mơ về những cô gái Hà Thành thanh lịch kiều diễm. Điều này cho thấy những vẻ đẹp
tâm hồn của người lính.
c. Vẻ đẹp bi tráng thể hiện qua tư thế lên đường, quyết tâm hy sinh vì lý tưởng
- Đi liền với cái mộng mơ là cái chết nhưng chỉ có điều sự hi sinh của người lính lại được nói
bằng cảm hứng lãng mạn mang màu sắc bi tráng
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
+ Từ "rải rác" kết hợp với "mồ viễn xứ" cho thấy đây không phải là một cái chết mà
nhiều cái chết. Người lính Tây Tiến ngã xuống nơi biên ải xa xôi, những nấm mồ nằm hoang lạnh
gợi ta nhớ đên cái hoang vu bi thương trong Chinh phụ ngâm:
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi theo
+ Nỗi bi thương được vơi đi bớt phần nào khi QD sử dụng nhiều từ Hán Việt điều này
tạo nên màu sắc trang nghiêm thành kính. Những nấm mồ hoang trở thành bất tử vĩnh hằng bởi sự hi
sinh của người lính là cao cả thiêng liêng họ ngã xuống vì quê hương đất nước.
- Câu thơ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh khắc họa tư thế lên đường của người lính với
lí tưởng Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh: hai chữ "đời xanh" chỉ tuổi thanh xuân mơn mởn tràn đầy
sức sống. Không có cái gì quí và đẹp bằng tuổi trẻ vậy mà hai chữ "chẳng tiếc" lại ném xuống dòng
thơ thật dứt khoát. Ở đây, người lính đã coi vận mệnh của Tổ quốc lớn hơn sinh mệnh của chính
mình. Đây là lí tưởng cao đẹp của con người VN mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng.
- Với triết lí và lẽ sống cao đẹp đó người lính Tây Tiến cho đên giây phút cuối cùng trở về
với đất mẹ vẫn sáng lên vẻ đẹp tâm hồn cao cả:
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
+ Câu thơ mang ý nghĩa hiện thực sâu sắc: "tử sĩ nằm xuống không đủ manh chiếu để
liệm…họ được chôn cất trong chiếc áo của mình" (lời Quang Dũng) cái hay của câu thơ ở chỗ hiện
thực bi thương dược Quang Dũng tái hiện bằng đôi mắt lãng mạn vừa yêu thương vừa trân trọng
thành kính. Nhà thơ phủ lên thi thể của đồng đội hình ảnh áo bào, đây là một hình ảnh ước lệ gợi âm
hưởng "sa trường gửi thây" gợi cái chết của tráng sĩ thuở xưa. Bởi thế giây phút tiễn đưa đồng đội
về cõi bất tử được thiêng liêng hóa bằng hình ảnh áo bào đầy trang trọng cổ kính.
+ Cụm từ "anh về đất" giảm nhẹ sự mất mát đau thương. Đất là quê mẹ, là Tổ quốc
thiêng liêng, diễn tả thái độ đón n...
 









Các ý kiến mới nhất