Tìm kiếm Giáo án
Tuần 23. Đây thôn Vĩ Dạ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Tú Anh
Ngày gửi: 20h:37' 08-05-2023
Dung lượng: 24.0 KB
Số lượt tải: 9
Nguồn:
Người gửi: Lê Tú Anh
Ngày gửi: 20h:37' 08-05-2023
Dung lượng: 24.0 KB
Số lượt tải: 9
Số lượt thích:
0 người
ĐÂY
THÔN VĨ
DẠ
HÀN MẶC TỬ
Nhà thơ Lê Quý Đôn từng nói về sự tuyệt diệu của thơ: “Ý hết mà lời dừng,
ấy là lời rất mực trong thiên hạ. Nhưng lời dừng mà ý chưa hết, ấy là điều tuyệt vời
của thi ca”. Đơn giản thôi, thơ ca là thể loại văn học có độ hàm súc cao, là sự dồn
nén cảm xúc đến mức cô đúc để rồi phát nổ bằng một hình thức ngôn ngữ tổng hợp
kết tinh có vần điệu. Những nét đặc trưng ấy của thơ ta nhìn thấy rõ ở tác phẩm
“Đây thôn Vĩ Dạ” của nhà thơ Hàn Mặc Tử. Thi phẩm đã mang đến cho người đọc
bức tranh thuỷ mặc đẹp đẽ của một vùng cố đô Huế cùng tiếng lòng của một con
người tha thiết yêu đời, yêu người.
Nhắc tới nhà thơ Hàn Mặc Tử, độc giả sẽ nhớ tới ngay một nhà thơ kí dị vô
cùng tiêu biểu của phong trào Thơ mới những năm 1932 – 1945. Hàn Mặc Tử
(1912 – 1940) là bút danh của Nguyễn Trọng Trí, sinh ở Đồng Hới (Quảng Bình),
trong một gia đình viên chức nhỏ theo đạo Thiên Chúa. Ông là nhà thơ có sức sáng
tạo mạnh mẽ trong phong trào thơ mới với bút pháp lãng mạn chắp vào cùng thơ
cổ điển Đường luật. Tuy vậy nhưng cuộc đời ông lại vô cùng ngắn ngủi, bất hạnh.
Làm thơ từ năm 16 tuổi đến trước khi qua đời vì bệnh phong vào năm 1940, Hàn
Mặc Tử đã để lại cho đời vô số thi phẩm và tập thơ với những hình tượng, ngôn từ
đầy ấn tượng. Đáng phải nhắc đến như: “Thơ Điên” (sau đổi thành “Đau thương”),
“Xuân như ý”, “Thượng thanh khí”, …
“Đây thôn Vĩ Dạ” in trong tập “Thơ điên” (Đau thương), sáng tác năm 1938.
Theo một số tài liệu, từ 1932 -1933, Hàn Mặc Tử có thầm yêu một cô gái quê ở Vĩ
Dạ. Về sau (tức năm 1938), nhân nhận được tập thơ “Gái quê” do tự tay ông gửi
tặng, cô đã gửi cho nhà thơ một bức tranh phong cảnh Huế với lời thăm hỏi, chúc
thi sĩ mau bình phục. Chính sự việc này đã gợi cảm hứng cho thi sĩ viết “Đây thôn
Vĩ Dạ”. Có thể xem bài thơ là lời tỏ tình với cuộc đời của một hồn thơ tha thiết
nhưng tuyệt vọng. Với thể thơ thất ngôn với những nỗi niềm chôn chặt trong cả ba
khổ, những câu hỏi buông ra không lời đáp mang lại cảm xúc u hoài với âm điệu
khắc khoải, da diết.
Mở đầu bài thơ là một câu hỏi nhiều sắc thái: “Sao anh không về chơi thôn
Vĩ?”. Câu hỏi vang lên vừa mang ý hỏi, vừa như nhắc nhở, lại có chút gì như trách
móc, cũng thoảng đâu đó là một lời mời. Ở câu thơ mở đầu, nhà thơ không viết “về
thăm” mà sử dụng “về chơi” đã gợi cho độc giả cảm giác bản thân Hàn Mặc Tử vô
cùng quen thuộc và gắn bó với thôn Vĩ khiến ông phải phân thân để hỏi chính
mình. Đến mức niềm khao khát được về thăm lại thôn Vĩ đã cất lên thành lời tự
vấn.
Trong niềm khát khao ấy, nhà thơ chắp bút vẽ lại cảnh vườn thôn Vĩ trong
ba câu sau:
“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh ngọc,
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”
Mỗi câu một chi tiết vườn với điểm nhìn từ cao xuống thấp, tất cả hợp lại và ánh
lên một vẻ đẹp tinh khôi thanh khiết. Nắng trên hàng cau là những tia nắng mới
của bình minh trên tàu lá cau còn ướt sương đêm và xanh rời rợi. Nắng mai cứ theo
thân cau và rót dần vào khu vườn. Đến khi tràn đầy thì nó biến cả khu vườn xanh
thành một viên ngọc lớn. Hai chữ “mướt quá” tác động trực tiếp đến xúc cảm của
người đọc, bởi nó như một tiếng reo ngỡ ngàng đầy hạnh phúc của thi sĩ. Chỉ là
trong tưởng tượng, nhưng cứ tưởng như nhà thơ đang đứng trước khu vườn tràn
ngập sắc xanh và toả vào không gian những ánh sáng đầy sức sống, đơn sơ mà
lộng lẫy, thanh tú. Câu thơ thứ tư gây nhiều tranh luận: “Là trúc che ngang mặt chữ
điền”. Có thể đó là khuôn mặt người thôn Vĩ duyên dáng sau cành lá trúc – một nét
vẽ tạo hình đậm chất cổ điển, thể hiện sự hài hoà giữa thiên nhiên và con người
thôn Vĩ. Nhưng cũng có thể hiểu đó là gương mặt người trở về thăm thôn Vĩ, đứng
bên ngoài vịn cành lá trúc mà say ngắm vẻ đẹp thần tiên của khu vườn. Và cảnh
vườn thôn Vĩ – cũng là hình ảnh cuộc đời – như một thiên đường trần gian, một ao
ước ngoài tầm với, một hạnh phúc ngoài tầm tay…
Đến với khổ thứ hai, Hàn Mặc Tử tiếp tục chắp bút vẽ lên bức tranh sông
Hương đêm trăng:
“Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?”
Mặc cảm chia lìa đã hiện ra trong câu chữ, hình ảnh và giọng điệu. Hai câu trên
diễn tả một thực tại chia li, tất cả dường như đang bỏ đi. Nỗi buồn chia lìa của gió
mây đôi ngả đã thấm vào dòng nước buồn thiu và hoa bắp lay buồn hiu hắt. Trên
cái xu thế tất cả đang bỏ đi ấy, thi sĩ chợt ao ước một thứ có thể ngược dòng về với
mình: “trăng”. Trong thế giới tâm hồn của Hàn Mặc Tử, trăng như một tri âm, một
niềm tin cậy, một nỗi khát khao, một vị cứu tinh. “Sông trăng”, “thuyền trăng” là
những hình ảnh đầy chất thơ, huyền ảo như cõi mộng. Từ cõi thực, cảm xúc thơ
dần chuyển qua mộng ảo, hư huyền. Câu thơ cuối là một câu hỏi đầy tâm sự: “Có
chở trăng về kịp tối nay?”. Tại sao phải “kịp” và phải là “tối nay”? Có phải nếu
không kịp thì tất cả sẽ trở thành muộn màng? Phải chăng thi sĩ đã dự cảm về một
kết thức đau thương của mình? Chữ “kịp” thật bình thường mà chất chứa bi kịch
tâm hồn và một nỗi ám ảnh với thời gian của Hàn Mặc Tử. Chữ “kịp” ấy đã mở ra
một mặc cảm về thực tại xa vời, hiện tại ngắn ngủi và sự tồn tại mong manh. Câu
thơ là câu hỏi của một niềm ước mong khắc khoải muốn được đón nhận vẻ đẹp của
trăng, vẻ đẹp của cuộc đời.
Đến khổ thơ cuối, giọng khắc khoải đã thể hiện thành nhịp điệu:
“Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?”
Nhà thơ khi này đang mơ, ở trong cõi đau thương của riêng mình mà mơ. Giấc mơ
ấy là niềm ước mong đến tận cùng một hình bóng đẹp của “em”, của “khách đường
xa”. “Em” là người của cõi đời, giờ đã thành xa xôi quá! Ba chữ “khách đường xa”
được lặp lại hai lần càng nhấn mạnh sự xa xôi ấy. Câu thơ “Áo em trắng quá nhìn
không ra” có vẻ thật bâng khuâng, khó hiểu. “Trắng quá”, đó là cách nói đầy cảm
xúc để tả sắc trắng của “áo em”. Ba chữ “nhìn không ra” là một cách nói đầy ấn
tượng để cực tả sắc trắng ấy. Trong thơ Hàn Mặc Tử, ta vẫn thường gặp lối nói
giàu ấn tượng như vậy:
“Chết rồi xiêm áo trắng như tinh”
Hoặc:
“Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”
Màu trắng đã trở thành một ám ảnh trong thơ Hàn Mặc Tử. Ở bài thơ này, vẻ đẹp
của sắc áo trắng thanh khiết tinh khôi và rực rỡ như một vẻ đẹp đáng tôn thờ và mơ
ước. Hình ảnh người con gái càng đẹp, càng tinh khiết lại càng xa vời. Khổ thơ
trên ý nghĩa bề mặt của nó đã vẽ lên bức tranh đẹp về người con gái Huế và cảnh
sương khói thơ mộng của xứ Huế. Nhưng đâu chỉ là sương khói của thời gian, và
cả sương khói mịt mờ trong vùng đau thương của riêng người thi sĩ. “Ở đây” đâu
phải là thôn Vĩ Dạ, mà là thế giới riêng của một linh hồn bất hạnh, “ở đây” con
người nhà thơ đang mờ dần, đang sắp tan biến vào cõi hư vô. Hàn Mặc Tử đã rời
khỏi thôn Vĩ trong tưởng tượng để trở về với thế giới bất hạnh của mình, mịt mờ
sương khói và đầy băn khoăn nghi ngại. Tại đây, sự tồn tại của nhà thơ sao quá đỗi
mong manh, không biết mình có được đón nhận tình người đậm đà của cuộc đời
không? Câu hỏi cuối bài thơ với hai chữ “ai” thật xa vời đã khép bài thơ với nỗi
ngậm ngùi, bởi tình người quá mong manh, xa vời giữa sương khói của vùng đau
thương tuyệt vọng.
Bằng tình yêu tha thiết đối với cuộc đời, Hàn Mặc Tử để lại cho thơ ca một
bức tranh đẹp và tuyệt vời, thơ mộng về xứ Huế qua những câu thơ tài hoa của
“Đây thôn Vĩ Dạ”. Bài thơ còn như một thông điệp của tâm hồn thi sĩ gửi đến
người đời: hãy cảm thông và chia sẻ nỗi đau thương với những linh hồn bất hạnh.
THÔN VĨ
DẠ
HÀN MẶC TỬ
Nhà thơ Lê Quý Đôn từng nói về sự tuyệt diệu của thơ: “Ý hết mà lời dừng,
ấy là lời rất mực trong thiên hạ. Nhưng lời dừng mà ý chưa hết, ấy là điều tuyệt vời
của thi ca”. Đơn giản thôi, thơ ca là thể loại văn học có độ hàm súc cao, là sự dồn
nén cảm xúc đến mức cô đúc để rồi phát nổ bằng một hình thức ngôn ngữ tổng hợp
kết tinh có vần điệu. Những nét đặc trưng ấy của thơ ta nhìn thấy rõ ở tác phẩm
“Đây thôn Vĩ Dạ” của nhà thơ Hàn Mặc Tử. Thi phẩm đã mang đến cho người đọc
bức tranh thuỷ mặc đẹp đẽ của một vùng cố đô Huế cùng tiếng lòng của một con
người tha thiết yêu đời, yêu người.
Nhắc tới nhà thơ Hàn Mặc Tử, độc giả sẽ nhớ tới ngay một nhà thơ kí dị vô
cùng tiêu biểu của phong trào Thơ mới những năm 1932 – 1945. Hàn Mặc Tử
(1912 – 1940) là bút danh của Nguyễn Trọng Trí, sinh ở Đồng Hới (Quảng Bình),
trong một gia đình viên chức nhỏ theo đạo Thiên Chúa. Ông là nhà thơ có sức sáng
tạo mạnh mẽ trong phong trào thơ mới với bút pháp lãng mạn chắp vào cùng thơ
cổ điển Đường luật. Tuy vậy nhưng cuộc đời ông lại vô cùng ngắn ngủi, bất hạnh.
Làm thơ từ năm 16 tuổi đến trước khi qua đời vì bệnh phong vào năm 1940, Hàn
Mặc Tử đã để lại cho đời vô số thi phẩm và tập thơ với những hình tượng, ngôn từ
đầy ấn tượng. Đáng phải nhắc đến như: “Thơ Điên” (sau đổi thành “Đau thương”),
“Xuân như ý”, “Thượng thanh khí”, …
“Đây thôn Vĩ Dạ” in trong tập “Thơ điên” (Đau thương), sáng tác năm 1938.
Theo một số tài liệu, từ 1932 -1933, Hàn Mặc Tử có thầm yêu một cô gái quê ở Vĩ
Dạ. Về sau (tức năm 1938), nhân nhận được tập thơ “Gái quê” do tự tay ông gửi
tặng, cô đã gửi cho nhà thơ một bức tranh phong cảnh Huế với lời thăm hỏi, chúc
thi sĩ mau bình phục. Chính sự việc này đã gợi cảm hứng cho thi sĩ viết “Đây thôn
Vĩ Dạ”. Có thể xem bài thơ là lời tỏ tình với cuộc đời của một hồn thơ tha thiết
nhưng tuyệt vọng. Với thể thơ thất ngôn với những nỗi niềm chôn chặt trong cả ba
khổ, những câu hỏi buông ra không lời đáp mang lại cảm xúc u hoài với âm điệu
khắc khoải, da diết.
Mở đầu bài thơ là một câu hỏi nhiều sắc thái: “Sao anh không về chơi thôn
Vĩ?”. Câu hỏi vang lên vừa mang ý hỏi, vừa như nhắc nhở, lại có chút gì như trách
móc, cũng thoảng đâu đó là một lời mời. Ở câu thơ mở đầu, nhà thơ không viết “về
thăm” mà sử dụng “về chơi” đã gợi cho độc giả cảm giác bản thân Hàn Mặc Tử vô
cùng quen thuộc và gắn bó với thôn Vĩ khiến ông phải phân thân để hỏi chính
mình. Đến mức niềm khao khát được về thăm lại thôn Vĩ đã cất lên thành lời tự
vấn.
Trong niềm khát khao ấy, nhà thơ chắp bút vẽ lại cảnh vườn thôn Vĩ trong
ba câu sau:
“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh ngọc,
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”
Mỗi câu một chi tiết vườn với điểm nhìn từ cao xuống thấp, tất cả hợp lại và ánh
lên một vẻ đẹp tinh khôi thanh khiết. Nắng trên hàng cau là những tia nắng mới
của bình minh trên tàu lá cau còn ướt sương đêm và xanh rời rợi. Nắng mai cứ theo
thân cau và rót dần vào khu vườn. Đến khi tràn đầy thì nó biến cả khu vườn xanh
thành một viên ngọc lớn. Hai chữ “mướt quá” tác động trực tiếp đến xúc cảm của
người đọc, bởi nó như một tiếng reo ngỡ ngàng đầy hạnh phúc của thi sĩ. Chỉ là
trong tưởng tượng, nhưng cứ tưởng như nhà thơ đang đứng trước khu vườn tràn
ngập sắc xanh và toả vào không gian những ánh sáng đầy sức sống, đơn sơ mà
lộng lẫy, thanh tú. Câu thơ thứ tư gây nhiều tranh luận: “Là trúc che ngang mặt chữ
điền”. Có thể đó là khuôn mặt người thôn Vĩ duyên dáng sau cành lá trúc – một nét
vẽ tạo hình đậm chất cổ điển, thể hiện sự hài hoà giữa thiên nhiên và con người
thôn Vĩ. Nhưng cũng có thể hiểu đó là gương mặt người trở về thăm thôn Vĩ, đứng
bên ngoài vịn cành lá trúc mà say ngắm vẻ đẹp thần tiên của khu vườn. Và cảnh
vườn thôn Vĩ – cũng là hình ảnh cuộc đời – như một thiên đường trần gian, một ao
ước ngoài tầm với, một hạnh phúc ngoài tầm tay…
Đến với khổ thứ hai, Hàn Mặc Tử tiếp tục chắp bút vẽ lên bức tranh sông
Hương đêm trăng:
“Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?”
Mặc cảm chia lìa đã hiện ra trong câu chữ, hình ảnh và giọng điệu. Hai câu trên
diễn tả một thực tại chia li, tất cả dường như đang bỏ đi. Nỗi buồn chia lìa của gió
mây đôi ngả đã thấm vào dòng nước buồn thiu và hoa bắp lay buồn hiu hắt. Trên
cái xu thế tất cả đang bỏ đi ấy, thi sĩ chợt ao ước một thứ có thể ngược dòng về với
mình: “trăng”. Trong thế giới tâm hồn của Hàn Mặc Tử, trăng như một tri âm, một
niềm tin cậy, một nỗi khát khao, một vị cứu tinh. “Sông trăng”, “thuyền trăng” là
những hình ảnh đầy chất thơ, huyền ảo như cõi mộng. Từ cõi thực, cảm xúc thơ
dần chuyển qua mộng ảo, hư huyền. Câu thơ cuối là một câu hỏi đầy tâm sự: “Có
chở trăng về kịp tối nay?”. Tại sao phải “kịp” và phải là “tối nay”? Có phải nếu
không kịp thì tất cả sẽ trở thành muộn màng? Phải chăng thi sĩ đã dự cảm về một
kết thức đau thương của mình? Chữ “kịp” thật bình thường mà chất chứa bi kịch
tâm hồn và một nỗi ám ảnh với thời gian của Hàn Mặc Tử. Chữ “kịp” ấy đã mở ra
một mặc cảm về thực tại xa vời, hiện tại ngắn ngủi và sự tồn tại mong manh. Câu
thơ là câu hỏi của một niềm ước mong khắc khoải muốn được đón nhận vẻ đẹp của
trăng, vẻ đẹp của cuộc đời.
Đến khổ thơ cuối, giọng khắc khoải đã thể hiện thành nhịp điệu:
“Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?”
Nhà thơ khi này đang mơ, ở trong cõi đau thương của riêng mình mà mơ. Giấc mơ
ấy là niềm ước mong đến tận cùng một hình bóng đẹp của “em”, của “khách đường
xa”. “Em” là người của cõi đời, giờ đã thành xa xôi quá! Ba chữ “khách đường xa”
được lặp lại hai lần càng nhấn mạnh sự xa xôi ấy. Câu thơ “Áo em trắng quá nhìn
không ra” có vẻ thật bâng khuâng, khó hiểu. “Trắng quá”, đó là cách nói đầy cảm
xúc để tả sắc trắng của “áo em”. Ba chữ “nhìn không ra” là một cách nói đầy ấn
tượng để cực tả sắc trắng ấy. Trong thơ Hàn Mặc Tử, ta vẫn thường gặp lối nói
giàu ấn tượng như vậy:
“Chết rồi xiêm áo trắng như tinh”
Hoặc:
“Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”
Màu trắng đã trở thành một ám ảnh trong thơ Hàn Mặc Tử. Ở bài thơ này, vẻ đẹp
của sắc áo trắng thanh khiết tinh khôi và rực rỡ như một vẻ đẹp đáng tôn thờ và mơ
ước. Hình ảnh người con gái càng đẹp, càng tinh khiết lại càng xa vời. Khổ thơ
trên ý nghĩa bề mặt của nó đã vẽ lên bức tranh đẹp về người con gái Huế và cảnh
sương khói thơ mộng của xứ Huế. Nhưng đâu chỉ là sương khói của thời gian, và
cả sương khói mịt mờ trong vùng đau thương của riêng người thi sĩ. “Ở đây” đâu
phải là thôn Vĩ Dạ, mà là thế giới riêng của một linh hồn bất hạnh, “ở đây” con
người nhà thơ đang mờ dần, đang sắp tan biến vào cõi hư vô. Hàn Mặc Tử đã rời
khỏi thôn Vĩ trong tưởng tượng để trở về với thế giới bất hạnh của mình, mịt mờ
sương khói và đầy băn khoăn nghi ngại. Tại đây, sự tồn tại của nhà thơ sao quá đỗi
mong manh, không biết mình có được đón nhận tình người đậm đà của cuộc đời
không? Câu hỏi cuối bài thơ với hai chữ “ai” thật xa vời đã khép bài thơ với nỗi
ngậm ngùi, bởi tình người quá mong manh, xa vời giữa sương khói của vùng đau
thương tuyệt vọng.
Bằng tình yêu tha thiết đối với cuộc đời, Hàn Mặc Tử để lại cho thơ ca một
bức tranh đẹp và tuyệt vời, thơ mộng về xứ Huế qua những câu thơ tài hoa của
“Đây thôn Vĩ Dạ”. Bài thơ còn như một thông điệp của tâm hồn thi sĩ gửi đến
người đời: hãy cảm thông và chia sẻ nỗi đau thương với những linh hồn bất hạnh.
 








Các ý kiến mới nhất