Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

đơn yêu cầu công nhận sáng kiến thcs

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: lê thị thanh loan
Ngày gửi: 16h:20' 01-03-2023
Dung lượng: 540.5 KB
Số lượt tải: 384
Số lượt thích: 0 người
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập –Tự do –Hạnh phúc

ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi :
S
ố
TT
1

-

Họ và tên

Lưu Thị Cài

Hội đồng sáng kiến huyện Bù Đăng
Ngày,
tháng, năm
sinh

Nơi công tác

Chức
danh

Trình độ
chuyên
môn

Tỷ lệ (%)
đóng góp

24/12/1980

Trường THCS
Nghĩa Trung

Giáo viên

Đại học sư
phạm Ngữ
văn

100%

Điện thoại : 0982135299
Địa chỉ Mail: hoadienvi1980@gmail.com
Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến
Biện pháp rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội (Nghị luận về một vấn đề tư tưởng
đạo lí) cho học sinh lớp 9 trong tiết dạy buổi hai ở trường THCS Nghĩa Trung góp phần
nâng cao chất lượng bộ môn Văn.
Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến : Trường THCS Nghĩa Trung
Lĩnh vực áp dụng : Ngữ văn
Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu từ ngày 15/01/ 2021
- Mô tả bản chất của sáng kiến:
+ Tình trạng của giải pháp
Nghị Quyết số 29-NQ/TW của Trung ương Đảng khóa XI về “Đổi mới căn bản và toàn
diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã nhấn mạnh: Giáo dục là quốc
sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà Nước và toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho
phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội”
Thực hiện tinh thần Nghị Quyết Đại hội Đảng về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và
đào tạo; Đề án đổi mới toàn diện giáo dục đã chỉ rõ: Mục tiêu giáo dục là phát triển năng lực công
dân, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài;Thực hiện tốt nguyên lý giáo dục “Học đi đôi với hành,
giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp
với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”; Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu chú trọng

Trang

1

trang bị kiến thức (nâng cao dân trí) sang tập trung phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất
người học (năng lực công dân).
Bộ môn ngữ văn giữ một vị trí quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông. Trong đó kỹ
năng viết bài văn, viết đoạn văn nghị luận có ý nghĩa hết sức quan trọng ở phân môn Tập làm văn.
Nó chiếm 70% tổng số điểm trong bài thi kiểm tra đánh giá giữa kì; cuối kì của học sinh. Những
năm gần đây phần viết đoạn văn nghị luận đã bắt đầu chú trọng đến nội dung này và triển khai ở
khối lớp 8 và 9. Việc đưa nội dung nghị luận vào trong đề kiểm tra, đánh giá giữa kì và cuối kì đối
với học sinh lớp 8 và 9 cũng rất phù hợp với định hướng đổi mới giáo dục. thay đổi hình thức
kiểm tra đánh giá lấy học sinh làm trung tâm nhằm phát huy năng lực và phẩm chất của mỗi học
sinh.
Người ta thường nói “ Văn ôn, võ luyện”; một học sinh học được văn là phải biết viết văn.
Tuy nhiên để biết cách triển khai ý theo đoạn, theo bài mạch lạc không phải dễ dàng, đòi hỏi có
thời gian, người giáo viên phải rèn luyện, hướng dẫn cho học sinh của mình kiên trì. Trên thực tế
đa số các em vẫn còn xem nhẹ nội dung này, chưa chú trọng đến khâu viết, thực hành viết. Nhiều
học sinh học hành đối phó, gần thi mới học nên chủ yếu học thuộc lòng theo mẫu. Thời gian trôi
qua, vô hình dung các em tạo cho mình nếp lười viết, ngại viết dẫn đến lúng túng trong cách viết
ngay cả viết một đoạn văn đơn giản chứ chưa nói là đoạn văn bàn về vấn đề nào đó trong cuộc
sống. Là giáo viên trực tiếp giảng dạy học sinh lớp 9 mấy năm nay, bản thân tôi luôn trăn trở, suy
nghĩ làm sao để các em làm tốt phần này với mong muốn học sinh không ngại viết đồng thời góp
phần nâng cao chất lượng tuyển sinh 10 môn Ngữ văn của nhà trường. Với lý do đã nêu trên là cơ
sở để tôi chọn đề tài: “Biện pháp rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội (Nghị luận về một
vấn đề tư tưởng đạo lí) cho học sinh lớp 9 trong tiết dạy buổi hai ở trườngTHCS Nghĩa Trung
góp phần nâng cao chất lượng bộ môn.” thể hiện những nỗ lực của bản thân tôi trong quá trình
cải tiến phương pháp giảng dạy.
+ Tính mới của sáng kiến:
- Đề tài tiếp cận được với hình thức ra đề; kiểm tra đánh giá theo năng lực, phẩm chất học sinh.
- Là một trong những giải pháp nêu ra nhằm góp phần nâng cao chất lượng bộ môn Ngữ văn;
nâng cao hiệu quả giảng dạy trong nhà trường.
- Về nội dung của sáng kiến
Bộ môn Ngữ văn trong đó phân môn Tập làm văn thường chiếm 1 tiết/1 tuần, một thời
lượng khá khiêm tốn trong khung phân phối chương trình bậc THCS. Như vậy về dung lượng nó
chiếm số tiết không nhiều so với phân môn văn bản, nhưng ngược lại kiểm tra đánh giá nó lại chiếm
70% tổng số điểm của toàn bài (1 câu viết đoạn văn nghị luận xã hội 2.0 điểm; một câu viết bài văn
5.0 điểm). Thế nhưng rất nhiều học sinh lại ít quan tâm tới phân môn này và tỏ ra khá thờ ơ, ít
hứng thú khi học tiết tập làm văn. Nhất là phần làm văn nghị luận lại thường khô khan, trừu tượng,
khó hấp dẫn các em. Thực tế những năm gần đây kĩ năng viết văn của học sinh phổ thông có phần

Trang

2

hạn chế, lập luận thiếu thuyết phục, dẫn chứng đơn điệu, khai thác thông tin sơ sài…nguyên nhân
cũng bởi các em thiếu quan sát, thiếu trải nghiệm, lạm dụng công nghệ thông tin.
- Phương pháp tổ chức ôn tập chưa phân hóa được hết các đối tượng học sinh trong lớp.
- Hình thức chưa đa dạng, chưa linh hoạt để hấp dẫn các em.
- Cấu trúc sách giáo khoa dành cho phần tập làm văn quá ít, chủ yếu cung cấp lý thuyết ít chú
trọng thực hành.
- Tâm lý học sinh ngại học làm văn; giáo viên cũng ít đầu tư vào những tiết này vì nó ít “đất
diễn”.
- Ở các lớp học dưới ( lớp 7) các em chỉ làm văn tự sự, miêu tả, biểu cảm có phần dễ hơn. Lên lớp
9 các em làm văn nghị luận, đây là thể loại văn khó, đòi hỏi người viết nêu được quan điểm ý kiến
của mình về một vấn đề cần bàn. Làm tốt dạng bài này không hề dễ dàng với học sinh trung bình,
yếu, kém.
- Thực tế trên lớp hầu như giáo viên chỉ cung cấp được cho học sinh về mặt lý thuyết; phần thực
hành còn hạn chế vì không có thời gian.
- Theo thói quen từ lâu ít giáo viên nào chọn tiết tập làm văn để dự giờ, thao giảng, sinh hoạt
chuyên đề.
Dưới sự hướng dẫn của thầy cô các em cũng ít khi chú ý, có chăng cũng chỉ viết lại mà không
thêm được nhiều ý cá nhân, diễn đạt thiếu tự nhiên, thiếu tính liên kết. Vì thế diểm các em đạt
được ở câu viết đoạn không cao (thường chỉ ở mức 0,75 điểm đến 1.0 điểm).
BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1. Hệ thống lại kiến thức cốt lõi liên quan
- Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí (sách giáo khoa Ngữ văn 9 tập 2, trang 36): là
bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức lối sống…của con người.
- Cách làm bài văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí (SGK Ngữ văn 9 tập 2, trang 54)
trên cơ sở triển khai các ý trong bài giáo viên định hướng cách làm đoạn văn cho học sinh để phù
hợp với cấu trúc đề ra:
+ Mở đoạn: Dẫn dắt nêu vấn đề nghị luận.
+ Thân đoạn: Giải thích; nêu ra những biểu hiện; ý nghĩa; phê phán, bàn bạc mở rộng.
+ Kết đoạn: Chốt ý; liên hệ bản thân.
- Liên kết câu và liên kết đoạn văn ( sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập 2 trang 42): là kết nối câu với
câu trong một đoạn văn; đoạn văn với đoạn văn trong bố cục của một văn bản thành một thể
thống nhất về nội dung và hình thức.
- Đoạn văn (sách giáo khoa ngữ văn lớp 8 tập 1 trang 35): Là đơn vị để tạo thành văn bản. Nó là
một thể thống nhất thường bao gồm nhiều câu triển khai một tiểu chủ đề nhất định. Đoạn văn bắt
đầu bằng chữ cái viết hoa, thụt đầu hàng và kết thúc bằng dấu chấm câu, xuống hàng.
2. Phân biệt đoạn văn với bài văn
Quá trình giảng dạy và hướng dẫn các em kĩ năng viết đoạn nhiều em còn chưa phân biệt
được đoạn văn với bài văn. Khi viết đoạn văn nhiều em lại viết thành bài văn có bố cục 3 phần
( mở bài - thân bài - kết bài). Đối với những em học lực khá, giỏi việc phân biệt rất dễ dàng. Với
Trang

3

những em có học lực còn lại gặp nhiều khó khăn. Để các em hiểu kĩ, phân biệt rõ hơn bản thân đã
nêu ra điểm giống và khác nhau cụ thể, yêu cầu các em ghi chép vào tập cẩn thận. Quá trình ôn
tập tôi cũng thường xuyên chú ý gọi các em này, yêu cầu nhắc lại kiến thức với phương châm
“mưa dầm thấm lâu”.
* Giống nhau: Đều triển khai theo ba bước: mở-thân-kết
* Khác nhau: Về hình thức- giới hạn phạm vi
Bài văn

Đoạn văn

- Bố cục: mở bài-thân bài- kết bài

- Bố cục: mở đoạn-thân đoạn- kết đoạn

Lưu ý:

Lưu ý:

+ Mở bài -> một đoạn văn

- Hình thức: viết một đoạn văn

+ Thân bài -> gồm nhiều đoạn, mỗi đoạn triển - Giới hạn: 150 từ -> 200 từ
khai một luận điểm làm rõ từng khía cạnh của
vấn đề nghị luận.
+ Kết bài-> một đoạn văn
+ Không giới hạn

Trang

4

3. Trình tự viết đoạn văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí

Nghị luận xã hội về một vấn đề tư tưởng, đạo lý là dạng đề khá quen thuộc, gần gũi (như bàn về
những phẩm chất, đức tính con người được rút ra từ ngữ liệu đọc hiểu trong cấu trúc đề) cho nên
các em dễ viết lan man, viết theo cảm tính của mình, không phân chia luận điểm rõ ràng, không
viết đầy đủ các bước nên không bao giờ có thể đạt được điểm cao. Dù đề bài ra theo hướng nào,
để làm tốt, học sinh có thể triển khai theo các bước sau:
+ Bước 1: Giải thích tư tư tưởng, đạo lí.
Đầu tiên, cần giải thích những từ trọng tâm, sau đó giải thích cả câu nói: giải thích các từ ngữ,
thuật ngữ, khái niệm, nghĩa đen, nghĩa bóng (nếu có); rút ra ý nghĩa chung của tư tưởng, đạo lý;
quan điểm của tác giả qua câu nói (thường dành cho đề bài có tư tưởng, đạo lý được thể hiện gián
tiếp qua câu danh ngôn, tục ngữ, ngạn ngữ,…). Thường trả lời câu hỏi: Là gì? Như thế nào?
+ Bước 2: Bàn luận
– Phân tích và chứng minh các mặt đúng của tư tưởng, đạo lý ( thường trả lời câu hỏi tại sao nói
như thế? Dùng dẫn chứng cuộc sống xã hội để chứng minh những biểu hiện cụ thể. Từ đó chỉ ra
tầm quan trọng, tác dụng của tư tưởng, đạo lý đối với đời sống xã hội).
- Bác bỏ (phê phán) những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề vì có những tư tưởng, đạo lý
đúng trong thời đại này nhưng còn hạn chế trong thời đại khác, đúng trong hoàn cảnh này nhưng
chưa thích hợp trong hoàn cảnh khác; dẫn chứng minh họa.
+ Bước 3: Mở rộng
- Mở rộng bằng cách giải thích và chứng minh.
- Mở rộng bằng cách đào sâu thêm vấn đề.
- Mở rộng bằng cách lật ngược vấn đề.
Người tham gia nghị luận đưa ra mặt trái của vấn đề, phủ nhận nó là công nhận cái đúng; ngược
lại ,nếu vấn đề bình luận là sai hãy lật ngược bằng cách đưa ra vấn đề đúng, bảo vệ cái đúng cũng
có nghĩa là phủ định cái sai. Trong các bước mở rộng, tuỳ vào từng trường hợp và khả năng của
mình mà áp dụng cho tốt, không nên cứng nhắc.
+ Bước 4: Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động.
Trang

5

Đây là vấn đề cơ bản của một bài nghị luận bởi mục đích của việc nghị luận là rút ra những kết
luận đúng để thuyết phục người đọc áp dụng vào thực tiễn đời sống.
4. Hướng dẫn cách viết
4. 1. Viết mở đoạn:
Người xưa có câu “Đầu xuôi đuôi lọt”, vì vậy cách viết mở đoạn làm sao ấn tượng với
người đọc quả là không dễ dàng. Con đường hình thành tri thức song song với hình thành rèn
luyện kĩ năng. Đây là phần đầu tiên của phần hình thành kĩ năng viết văn nghị luận. Một bài văn
hay đoạn văn ấn tượng đến với người đọc đầu tiên đó chính là phần mở đoạn. Có nhiều cách viết
mở đoạn khác nhau, khi dạy dạng này tôi chia lớp thành bốn nhóm: Giỏi - Khá - Trung bình Yếu. Tuy nhiên đối tượng tôi lựa chọn để tiến thực hiện đề tài là lớp phần nhiều là trung bình,
yếu. Do vậy, để các em này thành thạo cách viết được phần mở đoạn đòi hỏi giáo viên phải kiên
trì, có thời gian và yêu cầu viết mở đoạn một cách đơn giản, đủ ý là được.
Với từng đối tượng tôi hướng dẫn các em cụ thể như sau:
* Đối với học sinh trung bình, yếu: Vào vấn đề trực tiếp - tức là đi thẳng vào vấn đề nghị luận
bằng một câu văn.
Ví dụ: Viết đoạn văn nghị luận 200 chữ trình bày suy nghĩ của em về ý chí, nghị lực.
-> Ý chí, nghị lực là điều rất quan trọng, đòi hỏi mỗi cá nhân phải hiểu rõ vai trò của nó đối với
sự thành đạt của mỗi con người.
->( hoặc) Ý chí, nghị lực là yếu tố vô cùng cần thiết với mỗi con người chúng ta để vượt qua mọi
nghịch cảnh.
-> (hoặc)Trong cuộc sống muốn thành công mỗi chúng ta không thể thiếu ý chí, nghị lực.
* Đối với học sinh khá, giỏi: Với những học sinh này các em có nhận thức, nắm bắt các ý tốt hơn
tôi hướng dẫn các em ở mức độ cao hơn: Đi từ cái chung đến cái riêng. Đi từ vấn đề chung của xã
hội đến vấn đề riêng của con người.
Ví dụ: Viết đoạn văn nghị luận 200 chữ trình bày suy nghĩ của em về ý chí, lòng kiên trì.
-> Ngày nay, cùng với những tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ thì xã hội cũng ngày càng
phát triển hơn. Sống trong thời đại 4.0, con người muốn thành công, bắt nhịp được với sự phát
triển ấy thì mỗi người – nhất là những bạn trẻ phải luôn có ý chí, lòng kiên trì để làm chủ cuộc
sống.
-> (hoặc) Ở đời mấy ai mà không mong muốn mình được thành công? Nhưng không phải ai cũng
có đủ niềm tin, nghị lực để tiếp tục bước đi trên con đường đầy chông gai ấy. Muốn được như thế,
mỗi trong chúng ta phải có ý chí và lòng kiên trì.
-> (Hoặc) Người trẻ đang bước vào tuổi thanh xuân tươi đẹp như mây trời với nhiều hoang mang
và thách thức. Có người sẽ chọn cho mình một khoảng thời gian an yên như con tàu nằm yên
trong bến cảng. Nhưng bạn biết không? Con tàu đâu phải rủ buồm nằm yên ở đó, ôm mỏ neo để
mộng những chân trời. Con người cũng thế, chúng ta sinh ra để trở thành chiến binh mạnh mẽ,

Trang

6

giương cánh buồm vượt đại dương đế với chân trời mơ ước. Muốn vậy, nhất thiết chúng ta phải
có ý chí và lòng kiên trì.
Với cách hướng dẫn như trên bản thân tôi dần phân hóa được từng đối tượng học sinh mà mình
giảng dạy. Với học sinh trung bình, bước đầu chỉ cần yêu cầu viết đơn giản như thế (nêu vấn đề
nghị luận). Còn với những em học sinh khá, giỏi yêu cầu cao hơn: không chỉ nêu được vấn đề
nghị luận mà còn biết cách dẫn dắt vào đề bằng nhiều cách, lời văn có hình ảnh hơn. Mô típ đó
giúp các em biết được, nhớ được cách mở đoạn để có thể áp dụng cho nhiều vấn đề nghị luận
khác nhau.
4. 2. Viết thân đoạn
4.2.1. Cách viết phần giải thích vấn đề nghị luận
Thông thường cách viết giải thích từ ngữ không khó đối với học sinh. Nhưng để đoạn văn có
tính liên thông, mạch lạc, kết cấu chặt chẽ cũng là một điều không hề đơn giản. Vậy làm sao để
phần mở đoạn và thân đoạn có sự kết nối? Tôi thường hướng dẫn các em với phần viết đoạn văn
giải thích thông thường có khoảng 3 câu:
+ Câu 1: Đặt một câu hỏi?
+ Câu 2: Giải thích vấn đề nghị luận bằng ba từ/cụm từ (dùng từ/cụm từ đồng nghĩa hoặc trái
nghĩa với vấn đề cần giải thích)
Ví dụ1: Lạc quan là luôn hướng về những điều tốt đẹp, nhìn nhận mọi việc theo hướng tích cực,
luôn luôn vui vẻ, sống yêu đời; không bi quan.
Ví dụ 2: Lòng dũng cảm là gan dạ, không sợ hiểm nguy; không hèn nhát, dám đương đầu với
nguy hiểm, khó khăn.
Lưu ý: Riêng đối với ca dao, tục ngữ thì giải thích nghĩa đen trước. Từ nghĩa đen ta suy ra
nghĩa bóng. Đây cũng là nghĩa chính của ca dao, tục ngữ.
+ Câu 3: Như vậy vấn đề đó khuyên răn/ nhắn nhủ điều gì? (Những phẩm chất tốt, lí
tưởng sống tốt đẹp của con người). Hoặc vấn đề nghị luận phơi bày thực trạng như thế nào?(Tính
xấu của con người - ích kỉ, hèn nhát, ỷ lại ….là vấn đề đáng báo động/phổ biến trong tầng lớp/
trong xã hội hiện nay)
Sau các tiết thực hành các em cũng viết được những đoạn cơ bản như:
Vậy thế nào là tính tự lập? Tự lập là tự làm những việc phù hợp với khả năng của bản
thân, tự xây dựng cuộc sống của mình không dựa dẫm, không ỷ lại, không trông chờ người khác.
Thế nhưng vấn đề này lại phơi bày một thực trạng trong xã hội:tính tự lập lại ít thấy trong lứa
tuổi học sinh, thanh thiếu niên hiện nay.
4.2.2. Cách viết phần biểu hiện vấn đề nghị luận
Mỗi vấn đề nghị luận thường đưa ra những vấn đề gần gũi, có tính giáo dục cao hoặc đáng
phơi bày một thực trạng nào đó đáng báo động trong xã hội. Vấn đề nghị luận thường khuyên
nhủ, răn dạy, nó như là kim chỉ nam cho con người giúp họ có nhận thức đúng đắn hơn trong cuộc
sống. Giúp họ nhận ra được tầm quan trong của vấn đề, thấy được ý nghĩa của cuộc sống, thấy
Trang

7

được những phẩm chất tốt đẹp của con người trong xã hội. Không những vậy họ còn nhận ra được
những điều hay lẽ phải để học hỏi, bài trừ cái xấu, cái ác. Biểu hiện của vấn đề nghị luận rất là
quan trọng trong mỗi vấn đề cần đưa ra bàn bạc. Nhận thức được tầm quan trọng của phần biểu
hiện vấn đề cần nghị luận, phần này đối với học sinh cũng tương đối khó. Hạn chế ở chỗ này là đa
số các em chỉ nêu ra được rất ít biểu hiện, biểu hiện không có tính tiêu biểu, chung chung, mơ hồ.
nguyên nhân do thiếu kĩ năng quan sát, ít trải nghiệm. Các em thường chỉ trình bày được 2 đến 3
ý về vấn đề nhìn thấy trong cuộc sống. Để trả lời được phần này tôi hướng dẫn các em viết bằng
cách đặt ra câu hỏi: Như thế nào? Vì sao? Tại sao?...Khi các em trả lời câu hỏi này các em sẽ thấy
được những biểu hiện của vấn đề.
Trình tự, nhiệm vụ của các câu như sau:
+ Câu 1: Khẳng định phẩm chất đó cần thiết của con người. Bởi vì…….(lí lẽ).
+ Câu….: Biểu hiện cụ thể (dẫn chứng: trong học tập, trong gia đình, ngoài xã hội…)
+ Câu…: Có vai trò gì trong đời sống ?
Phiếu học tập liệt kê một số chủ đề thuộc lĩnh vực tư tưởng đạo lý
để học sinh thực hiện:
Chủ đề

Cách thức triển khai biểu hiện của vấn đề

Tinh thần đoàn kết
Lòng dũng cảm
Lòng biết ơn
Ý chí, nghị lực, lòng
kiên trì
Lý tưởng sống
Sống đẹp, sống có ích
Lời cảm ơn, xin lỗi
Ích kỷ
Tự ti
……
Lưu ý: Đoạn văn có sức thuyết phục ngoài phần lí lẽ ra thì dẫn chứng minh họa phải tiêu biểu,
người thật, việc thật, các sự kiện diễn ra trong đời sống hằng ngày. Dẫn chứng đưa vào để bàn
luận phải có sức lan tỏa, có tầm ảnh hưởng thì mới thuyết phục được người đọc, người nghe.
Ở nội dung này để học sinh dễ hình dung về cách lấy dẫn chứng tôi sử dụng giáo án Poiwer
point trình chiếu hình ảnh, đoạn clip ngắn về nhân vật, các sự kiện trong đời sống thường ngày.
Và đây là một số hình ảnh minh họa:

Trang

8

Hình ảnh nhân vật NICK VUJICIC- Tấm gương về ý chí, nghị lực sống.

Thầy NGUYỄN NGỌC KÍ-Tấm gương về lòng kiên trì, nhẫn nại, thành công

Hình ảnh giúp đồng bào lũ lụt miền Trung– tinh thần đoàn kết; tình yêu thương.
Sau khi trình chiếu hình ảnh, xem clip tôi cũng hướng dẫn các em cụ thể cách lấy dẫn chứng và
phân tích dẫn chứng:

Trang

9

- Trình bày (liệt kê) một số nhân vật trở thành huyền thoại.
- Giới thiệu ngắn gọn về cuộc đời của nhân vật.
- Trình bày biểu hiện thường thấy trong đời sống hàng ngày của nhân vật
* Chú ý:
+Mỗi dẫn chứng các em trình bày ngắn gọn khoảng 2-> 3 dòng về cuộc đời nhân vật, sự kiện,…
+ Không lấy quá nhiều ví dụ làm minh chứng (Bài viết không quá hai dẫn chứng) tránh tình
trạng viết lan man, dài dòng.
VD1: Trình bày ngắn gọn về cuộc đời nhân vật
Ý chí nghị lực vượt khó: Tất cả chúng ta hẳn chưa quên chàng trai Nick Vujicic bị hội
chứng tetra - amelia bẩm sinh, một loại rối loạn hiếm gặp, gây ra sự thiếu vắng cả bốn chi. Từ
thuở ấu thơ, anh đã phải đấu tranh cả về tinh thần, tình cảm cũng như thể xác, nhưng rồi cuối
cùng anh đã quyết định đối mặt với khuyết tật của mình. Với tinh thần ý chí, nghị lực cùng sự
quyết tâm vươn lên trong cuộc sống anh đã truyền cảm hứng sống cho biết bao nhiêu người trên
thế giới, cho các bạn trẻ khi sinh ra không được may mắn, lành lặn…như anh.
Ví dụ 2: Liệt kê nhân vật
Lòng yêu thương con người: Chính nếp sống nhân đạo cao đẹp, biết hi sinh bản thân
mình vì người khác mới là nhân tố quyết định, góp phần làm tôn lên giá trị của mỗi người chúng
ta. Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh, Lí Bạch, Đỗ Phủ, Lep Tôn-xtôi, Macxime Gorki,
Puskin đều trở nên vĩ đại là vì từ trong cuộc đời và tác phẩm của họ đều toát lên một tấm lòng
yêu thương con người bao la rộng lớn.
Ví dụ 3: Biểu hiện (Sự kiện) thường thấy trong đời sống
Tinh thần đoàn kết: Toàn dân cùng nhau tăng gia sản xuất, cùng giúp nhau xây dựng đời
sống xã hội văn minh tốt đẹp, tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau trong hoàn cảnh khó khăn. Ví dụ như
phát động chiến dịch "Hướng về miền Trung" - cùng chung tay khắc phục thảm họa sau lũ lụt
cùng đồng bào miền Trung. Hay chiến dịch "Giải cứu dưa hấu", giúp đỡ bà con nông dân khi cơn
lũ kéo theo mùa màng trôi đi. Đó cũng chính là nghĩa cử cao đẹp, với tinh thần “một miếng khi
đói bằng một gói khi no”.
4.2.3. Cách viết ý nghĩa của vấn đề nghị luận
Nhà văn Mác - xim Go - rơ - ki đã từng viết “Văn học là nhân học”, quả đúng như vậy, nói
đến văn học là nói đến chức năng giáo dục, hướng con người đến Chân - Thiện - Mĩ, văn học làm
cho tâm hồn con người trở nên thư thái hơn, hướng con người ta đến những cung bậc cảm xúc, tới
những điều tốt đẹp trong cuộc đời. Với văn nghị luận cũng vậy, mỗi vấn đề đưa ra nghị luận đều
mang tính giáo dục, hướng con người đến những vấn đề gần gũi của cuộc sống, làm cho con
người có lối sống tích cực, lạc quan, yêu đời. Cho nên trong phần văn nghị luận về tư tưởng đạo
lí, bao giờ cũng có phần ý nghĩa trong đó. Các em học sinh đa số còn ở độ tuổi rất vô tư, hồn
nhiên, dễ nhớ nhưng lại dễ quên chưa được va chạm thực tế xã hội nhiều, chưa hiểu hết được ý
nghĩa của cuộc sống. Cho nên ở phần này thông thường với đối tượng học sinh lớp 9, việc giáo
Trang

10

dục các em từ những vấn đề rất nhỏ cũng sẽ giúp các em nhận thức được. Từ đó hướng các em
đến những điều tốt hơn trong cuộc sống, hướng các em có thái độ sống tích cực, trau dồi, hoàn
thiện về phẩm chất đạo đức, nhân cách bản thân hoàn thiện hơn.
Với nội dung này không phải là khó, dung lượng viết phần này khoảng 4 đến 5 dòng. Vì vậy tôi
thường hướng dẫn các em trả lời các câu hỏi sau:
+ Vấn đề đó có ý nghĩa như thế nào đối với bản thân?
+ Có ý nghĩa như thế nào với đời sống, với xã hội?
Trả lời được những câu hỏi này tức là các em đã rút ra được ý nghĩa của vấn đề nghị luận.
Chủ đề

Ý nghĩa của vấn đề nghị luận
- Tạo nên sức mạnh to lớn cho cộng đồng, cho quốc gia, dân tộc.

Tinh thần
đoàn kết

- Giúp con người không bị lạc lõng, luôn có động lực để phấn đấu, hướng tới những
điều tốt đẹp.
- Tạo nên mối quan hệ giữa người với người gắn bó, thấu hiểu nhau.
- Trong cuộc sống cá nhân không thể tách khỏi cộng đồng, tình yêu thương là sợi
dây gắn kết con người với nhau.

Lòng yêu

- Sửa ấm tâm hồn cho những người cô đơn, đau khổ. Tạo sức mạnh cầm hóa sự kỳ

thương con

diệu đối với những người lầm đường lạc lối. Truyền sức mạnh niềm tin ý chí nghị

người

lực để chúng ta vượt qua nghịch cảnh.
- Người có lòng yêu thương thì sẽ được mọi người yêu mến, nể phục, mến trọng. 
- Lòng yêu thương là thước đo phẩm giá mỗi người.
- Tạo cho con người tính năng động, sáng tạo, tự tin, bản lĩnh, làm chủ cuộc sống.
- Người tự lập sẽ được mọi người yêu quý, tin yêu, mến phục, nể trọng, có được

Tính tự lập

cuộc sống tốt đẹp hơn.
- Đức tính cần thiết nhất là lớp trẻ để chinh phục thành công; đóng góp xã hội.
- Làm xã hội văn minh, phát triển.
- Là khởi nguồn của mọi đức tính tốt đẹp nhất của con người.
- Đạo lý sống tốt đẹp ở đời; truyền thống văn hóa của người Việt.

Lòng biết
ơn

-Người có lòng biết ơn sẽ được yêu quý trân trọng. Họ sẽ nhận được sự giúp đỡ
nồng nhiệt bất cứ khi nào họ gặp khó khăn.
- Người được biết ơn cũng sẽ cảm thấy vui vẻ nhiệt tình hơn khi giúp đỡ, từ đó các
mối quan hệ giữa người với người cũng phát triển ngày một khăng khít hơn.

…….

………………

4.2.4. Cách viết phần mở rộng, phê phán của vấn đề nghị luận
Bản thân mỗi con người không ai hoàn hảo “nhân vô thập toàn”, trong con người chúng ta
luôn luôn tồn tại hai mặt tốt, xấu. Điều đó nó được biểu hiện cụ thể qua việc làm, suy nghĩ, tính
Trang

11

cách của mỗi con người. Nghị luận về tư tưởng đạo lí chủ yếu bàn về tư tưởng, phẩm chất của mỗi
con người để mỗi người có thể rút ra bài học cho bản thân mình.Tuy nhiên bên cạnh những phẩm
chất tốt đẹp thì vẫn còn tồn tại những mặt trái của nó, đi ngược lại với những phẩm chất tốt đẹp
mà con người hướng tới. Đối với những trường hợp này chúng ta phải lên án, phê phán, bày tỏ
thái độ không đồng tình.
Phần này tôi hướng dẫn các em viết ba đến bốn câu đi vào vấn đề như sau:
+ Có cách hiểu khác về vấn đề trên như thế nào?
+ Phản đề: Tuy nhiên trong cuộc sống, bên cạnh đó vấn còn… (trái ngược với cái đề đã
cho).
+ Hậu quả để lại là gì?
Với nội dung này giúp học sinh nhìn nhận, mở rộng được vấn đề cần bàn luận: học tập, tu dưỡng
và rèn luyện những phẩm chất tốt đẹp sẵn có trong mỗi con người. phê phán quan điểm sai lệch và
tác hại của nó để lại. Để thay đổi không khí lớp học tôi phát phiếu học tập và tổ chức cho học
sinh thảo luận theo nhóm.
PHIẾU HỌC TẬP
Ví dụ: Lòng biết ơn
? Chúng ta cần phải làm gì để nối tiếp những
truyền thống quý báu của cha ông ta để xứng
đáng với thế hệ cha ông đi trước.
? Đối lập với lòng biết ơn là gì.
? Liệt kê hậu quả để lại.

Sản phẩm dự kiến: bàn bạc, mở rộng và phê phán về lòng biết ơn
- Mỗi người chỉ được sống một lần, chúng ta hãy sống với lòng biết ơn, yêu thương và trân trọng
mọi người vì vốn dĩ: “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”.
- Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều người sống vô ơn bội nghĩa, nhận được sự giúp đỡ của
người khác nhưng ngoảnh mặt làm ngơ hoặc đứng nhìn người khác gặp hoàn cảnh khó khăn mà
không giúp đỡ.
- Cuộc sống sẽ chẳng còn tốt đẹp và ý nghĩa khi chúng ta quên đi sự biết ơn, nó đẩy chúng ta lạc
lõng trong xã hội, thật bạc bẽo khi bạn đang sống cuộc sống hôm nay trên mồ hôi, nước mắt và
máu của những người đã đi trước mà bạn lại vô tâm không nhớ đến.
4.2.5. Cách viết kết đoạn
Kết đoạn là chốt ý của cả đoạn văn. Phần này người viết có nhiệm vụ khái quát chung lại
vấn đề và rút ra bài học, cách rèn luyện cho bản thân mình. Yêu cầu khoảng 2 câu.
+ Câu 1: Khẳng định lại vấn đề có ý nghĩa như thế nào?
+ Câu 2: Rút ra bài học và cách rèn luyện cho bản thân.

Trang

12

Ví dụ: Đức tính kiên trì
-> Kết đoạn: Tóm lại kiên trì là đức tính rất cần thiết với mỗi người trong cuộc sống. Hiểu
được ý nghĩa ấy bản thân em sẽ tích cực rèn luyện đức tính này để trở thành người có ích
trong xã hội.
5. Tìm những đoạn văn có cùng chung chủ đề
Văn nghị luận cũng giống như các thể loại văn khác, chủ đề rất rộng. Đối với học sinh
khá, giỏi giáo viên gợi ý một lần các em có thể dễ dàng phân biệt được. Nhưng với học trò yếu,
trung bình để tìm được luận điểm của một bài viết không phải là một điều dễ dàng. Chính vì thế,
trước khi đi hướng dẫn cụ thể tôi cho các em nhận diện những đề bài có cùng chung chủ điểm
như: tình cảm gia đình; lý tưởng và khát vọng sống; đức tính tốt; thói hư tật xấu con người……
Bới vì:
+ Đối với những đoạn văn có cùng chủ đề: Nội dung nghị luận là giống nhau
+ Có cách mở đoạn tương đối giống nhau.
+ Ý nghĩa, mở rộng và phê phán vấn đề bàn luận giống nhau.
+ Dẫn chứng giống nhau, gần giống nhau.
+ Kết đoạn giống nhau.
Với cách hướng dẫn tìm và nhóm vào chủ đề như vậy các em có thể dễ dàng triển khai các ý và
lập luận trôi chảy, rõ ràng, rành mạch; không còn lung túng vì đã nắm được cách giáo viên triển
khai.
Giáo dục không phải là chìa khóa vạn năng thì cũng không có một phương pháp học nào là
"vạn năng". Người giáo viên muốn học sinh mình có kĩ năng viết đoạn tốt thì phải cho các em
thực hành nhiều giống như kiểu “nên nói ít làm nhiều” cùng với phương châm “ văn ôn, võ luyện”
cùng với sự nhiệt tình của giáo viên chắc chắn con đường chúng ta đang đi sẽ đúng hướng. Và
bản thân tôi tin là như vậy!
- Khả năng áp dụng của sáng kiến: Với sáng kiến này, khả năng áp dụng của nó không chỉ
được thực hiện đối với học sinh lớp 9 THCS mà cả đối với học sinh lớp 6 đang học bộ “Chân
trời sáng tạo” của CTGDPT 2018. Và nó không chỉ áp dụng ở tại trường THCS Nghĩa Trung mà
còn có thể áp dụng rộng rãi ở các trường khác.
- Những thông tin cần bảo mật : Không
- Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
* Đối với học sinh:
- Học sinh ở nhà phải học bài cũ và chuẩn bị kĩ bài trước khi lên lớp học . Ở trên lớp thì các em
phải có đầy đủ sách giáo khoa và luôn luôn học tập chủ động, chú ý lắng nghe giáo viên giảng bài,
hăng hái phát biểu ý kiến để tăng thêm tinh thần học hỏi, tự tin.
- Xác định môn Văn là môn học cần thiết và thiết thực và nuôi dưỡng sự yêu thích.
* Đối với giáo viên:
Qua thực tế giảng dạy, tôi rút ra được một số bài học kinh nghiệm sau:
Trang

13

- Giáo viên phải biết chia nhỏ từng đơn vị kiến thức theo từng giai đoạn.
- Động viên, khuyến khích học sinh, không tạo tâm lý áp lực cho học sinh
- Quan sát quá trình nhận thức của các em để có cách điều chỉnh phương pháp cho phù hợp.
- Nội dung ghi cần ngắn gọn, tránh rườm rà, dài dòng dẫn đến học sinh ngại học bài.
- Khuyến khích động viên kịp thời những em có kĩ năng viết tốt, lí lẽ, dẫn chứng giàu sức thuyết
phục bằng nhiều hình thức.
- Nhắc nhở các em không được học vẹt, học tủ mà phải nắm kiến thức tổng quát, rèn kĩ năng, hình
thành phương pháp.
- Luôn tìm tòi, nghiên cứu, học tập kinh nghiệm từ đồng nghiệp, tự học, tự nâng cao trình độ hiểu
biết của mình từ kênh truyền thông. Việc đầu tư, nghiên cứu của giáo viên đòi hỏi sự kiên trì,
nhẫn nại, tinh thần học tập nghiêm túc.
-Tập làm văn là phân môn có tính tổng hợp, sáng tạo, thực hành và thể hiện được đậm nét dấu ấn
cá nhân. Người giáo viên đã dạy học theo tinh thần đổi mới phương pháp thì không áp đặt,
không làm thay, chỉ gợi mở để học sinh tự lựa chọn.
- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến
của tác giả:
Qua một thời gian rèn luyện; cùng với tháng ôn tuyển sinh 10 tích hợp trong cấu trúc chung
của đề thi, bản thân tôi nhận thấy như sau:
+ Học sinh đã biết phân biệt về hình thức giữa đoạn văn với bài văn.
+ Học sinh biết cách sắp xếp triển khai các ý theo một trình tự hợp lí trong đoạn văn nghị luận.
+ Học sinh dễ dàng viết được mở đoạn và kết đoạn.
+ Các em biết cách lựa chọn dẫn chứng, lí lẽ nêu ra thuyết phục
+ Đối với học sinh yếu kém: Các em có thể liệt kê được các ý cơ bản để không bị điểm liệt hoặc
điểm quá thấp (phổ điểm đạt ở mức 1.0 ->1.5).
+ Với học sinh khá, giỏi các em có thể lấy điểm gần tuyệt đối (phổ điểm ở mức 1.75 -> 2.0).
Bảng so sánh lượng hóa sự tiến bộ rõ rệt của học sinh lớp 9/4 .

Trang

14

Trước khi thực hiện

Sau khi thực hiện

- Chưa phân biệt được hình thức đoạn văn với - Phân biệt được hình thức đoạn văn với bài
bài văn.

văn.

- Sắp xếp các ý còn lộn xộn

- Sắp xếp các ý theo trình tự hợp lí

- Chưa biết triển khai bố cục của một đoạn - Biết triển khai bố cục của một đoạn văn
văn nghị luận (150->200 chữ).

nghị luận (150->200 chữ).

- Giải thích từ ngữ, nội dung vấn đề nghị luận - Giải thích từ ngữ, nội dung vấn đề nghị luận
cò...
 
Gửi ý kiến