Tuần 10. Hai đứa trẻ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Tú Anh
Ngày gửi: 14h:18' 27-02-2023
Dung lượng: 26.5 KB
Số lượt tải: 11
Nguồn:
Người gửi: Lê Tú Anh
Ngày gửi: 14h:18' 27-02-2023
Dung lượng: 26.5 KB
Số lượt tải: 11
Số lượt thích:
0 người
HAI ĐỨA
TRẺ
THẠCH LAM
Khi bàn về văn chương nghệ thuật, nhà văn Lâm Ngữ Đường từng chiêm
nghiệm: “Văn chương bất hủ cổ kim đều viết bằng huyết lệ”. Thật vậy, văn học
chân chính xưa nay bất biến với đời là nhờ tạo nên từ máu và nước mắt của người
nghệ sĩ. Trong hành trình khám phá ấy, “anh” đã hoà mình vào cuộc sống của nhân
dân để đồng cảm, sẻ chia và “cho máu”. Rồi từ đó mở ra nấc thang đưa con người
đến ánh sáng của giá trị nhân đạo, để tồn tại khát khao tốt đẹp với đời. Và tác phẩm
“Hai đứa trẻ” của nhà văn Thạch Lam là một tác phẩm như thế. Thông qua (bức
tranh phố huyện qua thời khắc chiều tàn và về đêm cùng cảnh đoàn tàu) đã thể hiện
(những nỗi niềm của tác giả dành cho những kiếp người tàn trước Cách mạng
tháng Tám).
Nhắc đến nhà văn Thạch Lam (1910 – 1942), độc giả liền nhớ ngay đến một
cây bút có biệt tài viết truyện ngắn, nhất là những truyện không có chuyện với
giọng văn trong sáng, giản dị mà thâm trầm, sâu sắc. Ông tên thật là Nguyễn
Tường Vinh, sau đổi thành Nguyễn Tường Lân; là người đôn hậu, điềm đạm, tinh
tế. Thuở sinh thời, ông là một thành viên trong nhóm Tự lực văn đoàn gồm tám
thành viên. Ông tham gia sáng tác với nhiều thể loại như tiểu luận, bút kí, truyện
ngắn, truyện dài nhưng gây tiếng vang nhất cho ông chính là thể loại truyện ngắn
với một số tác phẩm “Gió đầu mùa” (1937), “Nắng trong vườn” (1938), “Sợi tóc”
(1942), ... Mỗi tác phẩm của ông đều là những thứ tình cảm chân thật được kết lại
sau một hành trình dài cùng khám phá với đứa con tinh thần của mình.
Thạch Lam tuy là người gốc Hà Nội nhưng từ nhỏ sống ở quê ngoại tại
huyện Cẩm Giàng, thành phố Hải Dương. Có lẽ, chính vì sự gắn bó đó mà tác
1
phẩm “Hai đứa trẻ” mới được chọn bối cảnh từ một góc nhỏ của phố huyện Cẩm
Giàng. Tác phẩm được in trong tập “Nắng trong vườn” vào năm 1938 với cốt
truyện được chia làm ba phần diễn tả dưới cái nhìn và tâm trạng của nhân vật Liên.
Với cách thể hiện đó, mỗi bức tranh phố huyện hiện ra ở mọi không gian và thời
gian đều mang những vẻ đẹp chân thực, tuyệt diệu.
Tác phẩm được mở ra bằng cảnh sắc của một phố huyện nghèo lúc chiều tàn
yên bình, êm ả nhưng phảng phất buồn. Một phố huyện buồn đến kì lạ! Chẳng phải
ồn ào kẻ ngược người xuôi mà chỉ là những tiếng trống thu không (hồi trống báo
sắp tối) “từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều” hoà cùng tiếng ếch nhái kêu ran
ngoài đồng ruộng và tiếng muỗi vo ve. Bao nhiêu đó âm thanh vang lên là bấy
nhiêu nỗi buồn tẻ, cô đơn chồng chất và kẹt lại trên nền cảnh phố huyện khi chiều
tàn. Như chất chứa thêm nỗi buồn, buồn đến mức lụi tàn, trời “phương tây đỏ rực
như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn” làm cho “dãy tre
làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nên trời”… Phải chăng cái nghèo khổ,
cái sống mòn mỏi của những kiếp người tàn tại phố huyện Cẩm Giàng khi ấy
chẳng làm họ vui nổi khiến cảnh cũng phảng phất buồn theo như trong thi phẩm
“Truyện Kiểu” đại thi hào Nguyễn Du từng viết: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”? Dưới lăng kính quan sát là những tâm trạng
cảm xúc của Liên, một phố huyện cùng những con người sống trong nghèo đói,
khó khăn đến thảm hại hiện ra trước mắt độc giả: “Chợ họp giữ phố vãn từ lâu.
Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất. Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá
nhãn và lá mía. Một mùi âm ẩm bốc lên […]”. Trong cái giờ khắc ngày tàn được
thể hiện qua cảnh vãn chợ lòng Liên lại man mác buồn và cảm nhận lấy “mùi riêng
của đất, của quê hương này”. Có lẽ, em buồn cho cái phố huyện nghèo, buồn cho
em, buồn cho những cảnh đời như em khi phải chạy ăn từng bữa, chẳng thể dư giả
ra để mơ mộng về một thứ gì xa hoa hơn: những đứa trẻ con nghèo thì nhặt nhạnh
những gì còn lại xót lại nhưng chỉ là rác rưởi hoặc những cành cây khô, em động
lòng thương bọn trẻ nhưng đến chính em cũng còn gian hàng tạp hoá ế ẩm dù là
ngày phiên cũng chỉ bán được hai bánh xà phòng và nửa bánh nữa. Thế nhưng có
thể thấy Liên là một cô bé có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế và giàu lòng trắc ẩn, yêu
thương con người; đồng thời cũng phác hoạ rõ nét nhưng âm thanh, màu sắc, con
người nơi phố huyện tưởng rời rạc nhưng lại hoà quyện, cộng hưởng trong một
không gian u buồn và trầm mặc, cuộc đời nào cũng tàn tạ, cảnh đời nào cũng héo
hắt.
“Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió
mát.” – phố huyện Cẩm Giàng đã vào đêm, vào với không gian đầy bóng tối và
2
quẩn quanh. Bằng sự tài hoa và tinh tế của mình, tác giả Thạch Lam đã mở ra
không gian bao la và dày đặc của màn đêm với thủ pháp đối lập, sự đối lập giữa
ánh sáng và bóng tối. Trong cái khắc mà “các nhà đã đóng cửa im ỉm”, ánh sáng
chỉ còn là những “khe sáng”, những “vệt sáng” (đom đóm), rồi chỉ còn “quầng
sáng”, “chấm lửa” và thu nhỏ lại thành “hột sáng”. Trước cái yếu ớt, mờ nhạt và
nhỏ bé ấy của ánh sáng, bóng tối lại dày đặc và mênh mông như muốn tràn cả vào
tâm trí của độc giả (hơi tối, bóng tối ngập dần, nhá nhem tối, chứa đầy cả bóng tối,
tối hết cả). Qua đó cho thấy ánh sáng càng làm cho bóng tối trở nên dày đặc và sâu
thẳm hơn. Nhưng đối với một nhà văn có giọng văn giản dị nhưng thâm trầm như
Thạch Lam, hình ảnh bóng tối và ánh sáng ấy còn là phép ẩn dụ cho xã hội trước
Cách mạng lúc bấy giờ. Với ông, những ánh sáng yếu ớt ấy là đại diện cho những
kiếp người tàn với hi vọng sống mong manh, tội nghiệp, tựa hồ như chạm vào là sẽ
vỡ ra và tan biến; trong khi đó, cái bóng tối mênh mông và ngập tràn kia chính là
cuộc sống tối tăm, ngột ngạt và tù đọng, nuốt chửng tất thảy lương tri của những kẻ
thống trị cùng những mảnh đời cơ cực, lầm than. Những mảnh đời ấy chính là mẹ
con chị Tí ngày mò cua bắt tép, tối bán nước nhưng cuộc sống bấp bênh, chẳng
kiếm được bao nhiêu; là chị em Liên và An với gian tạp hoá ế ẩm; là bà cụ Thi hơi
điên, tiếng cười khanh khách và dáng đi xiêu vẹo trở thành nỗi ám ảnh về những
kiếp người tàn; là gánh phở xa xỉ không ai mua của bác Siêu; là gia đình bác xẩm
không có khách nghe hát. Tất cả họ, tuy khác nhau về công việc nhưng cùng chung
lại ở cuộc sống lay lắt, quẩn quanh, bế tắc, mòn mỏi và tù túng. Điều ấy khiến Liên
ý thức sâu sắc và đầy đủ cuộc sống buồn tẻ, tù đọng của mình: “Đêm tối đối với
Liên quen lắm, chị không sợ nó nữa.”; em nhìn lên các vì sao rồi lại cúi mặt về đất
và nhớ về Hà Nội – nhớ vễ những kí ức mờ nhạt về Thủ đô hoa lệ trong tâm trí em.
Em dần chấp nhận và trở thành một phần của bức tranh phố huyện về đêm và cùng
“chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo
khổ hằng ngày của họ” – một ước mơ mong manh, mơ hồ. Qua đó, độc giả cảm
nhận rõ ràng hơn niềm xót thương da diết của tác giả Thạch Lam trước tình cảnh
tội nghiệp của những người sống mà không biết số phận mình sẽ ra sao cũng như
sự trân trọng của ông với ước mơ đổi đời tuy mờ nhạt của họ.
Đã từng có một nhà văn viết rằng: “Mẹ tôi vẫn bảo: có hai điều tồi tệ có thể
xảy đến với một đứa trẻ, đó là không bao giờ có được điều mình muốn hoặc là luôn
luôn có được điều mình muốn nhưng lại không biết mình muốn cái gì.” Có lẽ trong
cái tồn tàn của cuộc sống hiện tại, cả hai điều tồi tệ trên sẽ chẳng thể xảy ra với chị
em Liên và An, và cả những người dân phố huyện nghèo. Nghe lời mẹ dặn, hai chị
em Liên bán và trông coi gian tạp hoá để mẹ “bận làm gạo”. Tuy buồn ngủ ríu cả
3
mắt nhưng cố gượng mà thức, em thức để nhìn thấy chuyến tàu đêm – chuyến tàu
mang theo sự sang trọng, mang theo ước mơ và mang đến một thế giới khác. Hình
ảnh em của Liên – bé An “đã nằm xuống gối đầu lên đùi chị, mi mắt sắp sửa rơi
xuống, còn dặn với: “Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé.” cho thấy chị em Liên
háo hức và mong chờ biết bao được nhìn thấy chuyến tàu đêm này. Với tài quan
sát và ngòi bút miêu tả của mình, tác giả đã miêu tả lại hình ảnh đoàn tàu hết sức
tươi đẹp, lung linh, đối lập lại hoàn toàn với cuộc sống của người dân nơi phố
huyện. Từ xa, Liên nhìn thấy “ngọn lửa xanh biếc, sát mặc đất như ma trơi”, tiếng
còi xe vang lại và kéo dài trong đêm khuya tĩnh mịch mang theo đó là cái ồn ào
khe khẽ hoà cùng tiếng rít mạnh vào ghi của tàu tạo thành một khuông nhạc đầy sự
tập nập. Nghe tiếng chị đánh thức tàu đến, bé An nhỏm dậy và lấy tay dụi mắt cho
tỉnh hẳn, em muốn mình thật “tỉnh” để có thể ngắm thật kĩ về một thế giới khác.
Liên dắt em đứng dậy để nhìn tàu, “hai chị em chờ không lâu”, tiếng còi tàu đã rít
lên và rầm rộ đi tới. Các toa tàu thắp đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống mặt
đường; toa sang trọng thì lố nhố người cùng đồng và kền lấp lánh… Liên tập trung
ngắm nhìn đoàn tàu đến nỗi không để ý đến câu hỏi của An (Tàu hôm nay không
đông, chị nhỉ.) cho thấy niềm sung sướng, vui mừng, say mê khi được ngắm nhìn
đoàn tàu của Liên. Đã đến lúc tàu tiếp tục hành trình, có thể là về ga cuối, có thể là
lại qua một khu phố huyện khác ở phía bên kia màn đêm. Chị em Liên vẫn nuối
tiếc mà “nhìn theo cái chấm nhỏ của chiếc đèn xanh treo toa sau cùng” cho đến khi
tàu khuất sau rặng tre. Cái nhìn theo của hai em mang theo đó là bâng khuâng, tiếc
nuối và khát khao, lặng tưởng. Em tưởng về những ngày ở Hà Nội, tưởng về một
cuộc sống khác đủ đầy và sang trọng, tưởng về sự đổi thay của phố huyện vào một
ngày nào đó, … Chuyến tàu đêm ấy đến trong sự chờ đợi và háo hức, đi qua với sự
nuối tiếc của hai đứa trẻ và chở đầy theo đó là hồi ức, hoài niệm về những điều xa
xăm, … Đoàn tàu ấy thổi vào trong phố huyện một làn gió mới, mang đến một thế
giới khác, một ước mơ về cuộc sống tốt đẹp và sang trọng, náo nhiệt và rầm rộ; đối
lập với cái buồn bã, tăm tối và nghèo khổ thuở bấy giờ.
Nguyên Ngọc nói rằng: “Truyện ngắn mang rất tõ cái chất của từng người
viết, nhất là cái chất quả quyết, đột ngột. Viết truyện ngắn phải có nghề lắm. Vả lại
phải viết về những cái mới, những cái không dễ thấy, những cái ở chiều sâu của
nó, cuộc đời đang đặt ra”. Có lẽ nhận định đó của Nguyên Ngọc là dành riêng cho
Thạch Lam và “Hai đứa trẻ”. Bởi nhờ ngòi bút nhân hậu cùng giọng điệu nhỏ nhẹ
mà thắm thiết sâu nặng kết hợp với miêu tả tâm lí nhân vật và xây dụng các hình
ảnh tạo thành các phép đối thêm cùng ngôi kể thứ ba mang điểm nhìn của Liên,
Thạch Lam đã tái hiện bức tranh phố huyện với những kiếp người quẩn quanh, tồi
4
tàn đại diện cho cuộc sống nông thôn Việt Nam trước Cách mạng. Đồng thời là
nhiềm xót thương sâu sắc với những kiếp người nhỏ bé tội nghiệp với sự trân trọng
những ước mơ nhỏ bé, mong manh và mơ hồ của họ.
5
TRẺ
THẠCH LAM
Khi bàn về văn chương nghệ thuật, nhà văn Lâm Ngữ Đường từng chiêm
nghiệm: “Văn chương bất hủ cổ kim đều viết bằng huyết lệ”. Thật vậy, văn học
chân chính xưa nay bất biến với đời là nhờ tạo nên từ máu và nước mắt của người
nghệ sĩ. Trong hành trình khám phá ấy, “anh” đã hoà mình vào cuộc sống của nhân
dân để đồng cảm, sẻ chia và “cho máu”. Rồi từ đó mở ra nấc thang đưa con người
đến ánh sáng của giá trị nhân đạo, để tồn tại khát khao tốt đẹp với đời. Và tác phẩm
“Hai đứa trẻ” của nhà văn Thạch Lam là một tác phẩm như thế. Thông qua (bức
tranh phố huyện qua thời khắc chiều tàn và về đêm cùng cảnh đoàn tàu) đã thể hiện
(những nỗi niềm của tác giả dành cho những kiếp người tàn trước Cách mạng
tháng Tám).
Nhắc đến nhà văn Thạch Lam (1910 – 1942), độc giả liền nhớ ngay đến một
cây bút có biệt tài viết truyện ngắn, nhất là những truyện không có chuyện với
giọng văn trong sáng, giản dị mà thâm trầm, sâu sắc. Ông tên thật là Nguyễn
Tường Vinh, sau đổi thành Nguyễn Tường Lân; là người đôn hậu, điềm đạm, tinh
tế. Thuở sinh thời, ông là một thành viên trong nhóm Tự lực văn đoàn gồm tám
thành viên. Ông tham gia sáng tác với nhiều thể loại như tiểu luận, bút kí, truyện
ngắn, truyện dài nhưng gây tiếng vang nhất cho ông chính là thể loại truyện ngắn
với một số tác phẩm “Gió đầu mùa” (1937), “Nắng trong vườn” (1938), “Sợi tóc”
(1942), ... Mỗi tác phẩm của ông đều là những thứ tình cảm chân thật được kết lại
sau một hành trình dài cùng khám phá với đứa con tinh thần của mình.
Thạch Lam tuy là người gốc Hà Nội nhưng từ nhỏ sống ở quê ngoại tại
huyện Cẩm Giàng, thành phố Hải Dương. Có lẽ, chính vì sự gắn bó đó mà tác
1
phẩm “Hai đứa trẻ” mới được chọn bối cảnh từ một góc nhỏ của phố huyện Cẩm
Giàng. Tác phẩm được in trong tập “Nắng trong vườn” vào năm 1938 với cốt
truyện được chia làm ba phần diễn tả dưới cái nhìn và tâm trạng của nhân vật Liên.
Với cách thể hiện đó, mỗi bức tranh phố huyện hiện ra ở mọi không gian và thời
gian đều mang những vẻ đẹp chân thực, tuyệt diệu.
Tác phẩm được mở ra bằng cảnh sắc của một phố huyện nghèo lúc chiều tàn
yên bình, êm ả nhưng phảng phất buồn. Một phố huyện buồn đến kì lạ! Chẳng phải
ồn ào kẻ ngược người xuôi mà chỉ là những tiếng trống thu không (hồi trống báo
sắp tối) “từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều” hoà cùng tiếng ếch nhái kêu ran
ngoài đồng ruộng và tiếng muỗi vo ve. Bao nhiêu đó âm thanh vang lên là bấy
nhiêu nỗi buồn tẻ, cô đơn chồng chất và kẹt lại trên nền cảnh phố huyện khi chiều
tàn. Như chất chứa thêm nỗi buồn, buồn đến mức lụi tàn, trời “phương tây đỏ rực
như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn” làm cho “dãy tre
làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nên trời”… Phải chăng cái nghèo khổ,
cái sống mòn mỏi của những kiếp người tàn tại phố huyện Cẩm Giàng khi ấy
chẳng làm họ vui nổi khiến cảnh cũng phảng phất buồn theo như trong thi phẩm
“Truyện Kiểu” đại thi hào Nguyễn Du từng viết: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”? Dưới lăng kính quan sát là những tâm trạng
cảm xúc của Liên, một phố huyện cùng những con người sống trong nghèo đói,
khó khăn đến thảm hại hiện ra trước mắt độc giả: “Chợ họp giữ phố vãn từ lâu.
Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất. Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá
nhãn và lá mía. Một mùi âm ẩm bốc lên […]”. Trong cái giờ khắc ngày tàn được
thể hiện qua cảnh vãn chợ lòng Liên lại man mác buồn và cảm nhận lấy “mùi riêng
của đất, của quê hương này”. Có lẽ, em buồn cho cái phố huyện nghèo, buồn cho
em, buồn cho những cảnh đời như em khi phải chạy ăn từng bữa, chẳng thể dư giả
ra để mơ mộng về một thứ gì xa hoa hơn: những đứa trẻ con nghèo thì nhặt nhạnh
những gì còn lại xót lại nhưng chỉ là rác rưởi hoặc những cành cây khô, em động
lòng thương bọn trẻ nhưng đến chính em cũng còn gian hàng tạp hoá ế ẩm dù là
ngày phiên cũng chỉ bán được hai bánh xà phòng và nửa bánh nữa. Thế nhưng có
thể thấy Liên là một cô bé có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế và giàu lòng trắc ẩn, yêu
thương con người; đồng thời cũng phác hoạ rõ nét nhưng âm thanh, màu sắc, con
người nơi phố huyện tưởng rời rạc nhưng lại hoà quyện, cộng hưởng trong một
không gian u buồn và trầm mặc, cuộc đời nào cũng tàn tạ, cảnh đời nào cũng héo
hắt.
“Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió
mát.” – phố huyện Cẩm Giàng đã vào đêm, vào với không gian đầy bóng tối và
2
quẩn quanh. Bằng sự tài hoa và tinh tế của mình, tác giả Thạch Lam đã mở ra
không gian bao la và dày đặc của màn đêm với thủ pháp đối lập, sự đối lập giữa
ánh sáng và bóng tối. Trong cái khắc mà “các nhà đã đóng cửa im ỉm”, ánh sáng
chỉ còn là những “khe sáng”, những “vệt sáng” (đom đóm), rồi chỉ còn “quầng
sáng”, “chấm lửa” và thu nhỏ lại thành “hột sáng”. Trước cái yếu ớt, mờ nhạt và
nhỏ bé ấy của ánh sáng, bóng tối lại dày đặc và mênh mông như muốn tràn cả vào
tâm trí của độc giả (hơi tối, bóng tối ngập dần, nhá nhem tối, chứa đầy cả bóng tối,
tối hết cả). Qua đó cho thấy ánh sáng càng làm cho bóng tối trở nên dày đặc và sâu
thẳm hơn. Nhưng đối với một nhà văn có giọng văn giản dị nhưng thâm trầm như
Thạch Lam, hình ảnh bóng tối và ánh sáng ấy còn là phép ẩn dụ cho xã hội trước
Cách mạng lúc bấy giờ. Với ông, những ánh sáng yếu ớt ấy là đại diện cho những
kiếp người tàn với hi vọng sống mong manh, tội nghiệp, tựa hồ như chạm vào là sẽ
vỡ ra và tan biến; trong khi đó, cái bóng tối mênh mông và ngập tràn kia chính là
cuộc sống tối tăm, ngột ngạt và tù đọng, nuốt chửng tất thảy lương tri của những kẻ
thống trị cùng những mảnh đời cơ cực, lầm than. Những mảnh đời ấy chính là mẹ
con chị Tí ngày mò cua bắt tép, tối bán nước nhưng cuộc sống bấp bênh, chẳng
kiếm được bao nhiêu; là chị em Liên và An với gian tạp hoá ế ẩm; là bà cụ Thi hơi
điên, tiếng cười khanh khách và dáng đi xiêu vẹo trở thành nỗi ám ảnh về những
kiếp người tàn; là gánh phở xa xỉ không ai mua của bác Siêu; là gia đình bác xẩm
không có khách nghe hát. Tất cả họ, tuy khác nhau về công việc nhưng cùng chung
lại ở cuộc sống lay lắt, quẩn quanh, bế tắc, mòn mỏi và tù túng. Điều ấy khiến Liên
ý thức sâu sắc và đầy đủ cuộc sống buồn tẻ, tù đọng của mình: “Đêm tối đối với
Liên quen lắm, chị không sợ nó nữa.”; em nhìn lên các vì sao rồi lại cúi mặt về đất
và nhớ về Hà Nội – nhớ vễ những kí ức mờ nhạt về Thủ đô hoa lệ trong tâm trí em.
Em dần chấp nhận và trở thành một phần của bức tranh phố huyện về đêm và cùng
“chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo
khổ hằng ngày của họ” – một ước mơ mong manh, mơ hồ. Qua đó, độc giả cảm
nhận rõ ràng hơn niềm xót thương da diết của tác giả Thạch Lam trước tình cảnh
tội nghiệp của những người sống mà không biết số phận mình sẽ ra sao cũng như
sự trân trọng của ông với ước mơ đổi đời tuy mờ nhạt của họ.
Đã từng có một nhà văn viết rằng: “Mẹ tôi vẫn bảo: có hai điều tồi tệ có thể
xảy đến với một đứa trẻ, đó là không bao giờ có được điều mình muốn hoặc là luôn
luôn có được điều mình muốn nhưng lại không biết mình muốn cái gì.” Có lẽ trong
cái tồn tàn của cuộc sống hiện tại, cả hai điều tồi tệ trên sẽ chẳng thể xảy ra với chị
em Liên và An, và cả những người dân phố huyện nghèo. Nghe lời mẹ dặn, hai chị
em Liên bán và trông coi gian tạp hoá để mẹ “bận làm gạo”. Tuy buồn ngủ ríu cả
3
mắt nhưng cố gượng mà thức, em thức để nhìn thấy chuyến tàu đêm – chuyến tàu
mang theo sự sang trọng, mang theo ước mơ và mang đến một thế giới khác. Hình
ảnh em của Liên – bé An “đã nằm xuống gối đầu lên đùi chị, mi mắt sắp sửa rơi
xuống, còn dặn với: “Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé.” cho thấy chị em Liên
háo hức và mong chờ biết bao được nhìn thấy chuyến tàu đêm này. Với tài quan
sát và ngòi bút miêu tả của mình, tác giả đã miêu tả lại hình ảnh đoàn tàu hết sức
tươi đẹp, lung linh, đối lập lại hoàn toàn với cuộc sống của người dân nơi phố
huyện. Từ xa, Liên nhìn thấy “ngọn lửa xanh biếc, sát mặc đất như ma trơi”, tiếng
còi xe vang lại và kéo dài trong đêm khuya tĩnh mịch mang theo đó là cái ồn ào
khe khẽ hoà cùng tiếng rít mạnh vào ghi của tàu tạo thành một khuông nhạc đầy sự
tập nập. Nghe tiếng chị đánh thức tàu đến, bé An nhỏm dậy và lấy tay dụi mắt cho
tỉnh hẳn, em muốn mình thật “tỉnh” để có thể ngắm thật kĩ về một thế giới khác.
Liên dắt em đứng dậy để nhìn tàu, “hai chị em chờ không lâu”, tiếng còi tàu đã rít
lên và rầm rộ đi tới. Các toa tàu thắp đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống mặt
đường; toa sang trọng thì lố nhố người cùng đồng và kền lấp lánh… Liên tập trung
ngắm nhìn đoàn tàu đến nỗi không để ý đến câu hỏi của An (Tàu hôm nay không
đông, chị nhỉ.) cho thấy niềm sung sướng, vui mừng, say mê khi được ngắm nhìn
đoàn tàu của Liên. Đã đến lúc tàu tiếp tục hành trình, có thể là về ga cuối, có thể là
lại qua một khu phố huyện khác ở phía bên kia màn đêm. Chị em Liên vẫn nuối
tiếc mà “nhìn theo cái chấm nhỏ của chiếc đèn xanh treo toa sau cùng” cho đến khi
tàu khuất sau rặng tre. Cái nhìn theo của hai em mang theo đó là bâng khuâng, tiếc
nuối và khát khao, lặng tưởng. Em tưởng về những ngày ở Hà Nội, tưởng về một
cuộc sống khác đủ đầy và sang trọng, tưởng về sự đổi thay của phố huyện vào một
ngày nào đó, … Chuyến tàu đêm ấy đến trong sự chờ đợi và háo hức, đi qua với sự
nuối tiếc của hai đứa trẻ và chở đầy theo đó là hồi ức, hoài niệm về những điều xa
xăm, … Đoàn tàu ấy thổi vào trong phố huyện một làn gió mới, mang đến một thế
giới khác, một ước mơ về cuộc sống tốt đẹp và sang trọng, náo nhiệt và rầm rộ; đối
lập với cái buồn bã, tăm tối và nghèo khổ thuở bấy giờ.
Nguyên Ngọc nói rằng: “Truyện ngắn mang rất tõ cái chất của từng người
viết, nhất là cái chất quả quyết, đột ngột. Viết truyện ngắn phải có nghề lắm. Vả lại
phải viết về những cái mới, những cái không dễ thấy, những cái ở chiều sâu của
nó, cuộc đời đang đặt ra”. Có lẽ nhận định đó của Nguyên Ngọc là dành riêng cho
Thạch Lam và “Hai đứa trẻ”. Bởi nhờ ngòi bút nhân hậu cùng giọng điệu nhỏ nhẹ
mà thắm thiết sâu nặng kết hợp với miêu tả tâm lí nhân vật và xây dụng các hình
ảnh tạo thành các phép đối thêm cùng ngôi kể thứ ba mang điểm nhìn của Liên,
Thạch Lam đã tái hiện bức tranh phố huyện với những kiếp người quẩn quanh, tồi
4
tàn đại diện cho cuộc sống nông thôn Việt Nam trước Cách mạng. Đồng thời là
nhiềm xót thương sâu sắc với những kiếp người nhỏ bé tội nghiệp với sự trân trọng
những ước mơ nhỏ bé, mong manh và mơ hồ của họ.
5
 








Các ý kiến mới nhất