Violet
Giaoan

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Giáo án

Tuần 13. Chí Phèo

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Tú Anh
Ngày gửi: 17h:40' 20-02-2023
Dung lượng: 32.4 KB
Số lượt tải: 55
Số lượt thích: 0 người
CHÍ PHÈO
NAM CAO
Khi bàn về văn chương nghệ thuật, nhà văn Lâm Ngữ Đường từng chiêm
nghiệm: “Văn chương bất hủ cổ kim đều viết bằng huyết lệ”. Thật vậy, văn học
chân chính xưa nay bất biến với đời là nhờ tạo nên từ máu và nước mắt của người
nghệ sĩ. Trong hành trình khám phá ấy, “anh” đã hoà mình vào cuộc sống của nhân
dân để đồng cảm, sẻ chia và “cho máu”. Rồi từ đó mở ra nấc thang đưa con người
đến ánh sáng của giá trị nhân đạo, để tồn tại khát khao tốt đẹp với đời. Và tác phẩm
“Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao là một tác phẩm như thế. Thông qua (quá trình
tha hoá của Chí Phèo/ diễn biến tâm trạng Chí Phèo khi gặp Thị Nở/ diễn biến tâm
trạng và hành động của Chí Phèo khi bị Thị Nở từ chối/ cái chết của Chí Phèo) đã
thể hiện (những nỗi niềm của tác giả dành cho những người nông dân trước Cách
mạng tháng Tám).
Cùng thời cầm bút để vạch rõ bộ mặt của xã hội đương thời với Ngô Tất Tố,
Vũ Trọng Phùng, Nguyễn Công Hoan trong phong trào văn học hiện thực (1930 –
1945), nhưng được đánh giá cao hơn cả là Nam Cao với những nét tả trần trụi đến
mức muốn “lột da lóc thịt” của bản chất thời đại để nói cho bằng hết. Nhà văn Nam
Cao tên thật là Trần Hữu Tri (1915 – 1951), là một nhà trí thức nghèo nhưng lại
trung thực vô ngần. Ông sinh ra tại làng Đại Hoàng, tỉnh Hà Nam; bề ngoài lạnh
lùng ít nói nhưng đời sống nội tâm phong phú. Trước Cách mạng, ông sống chật
vật bằng nghề viết văn làm gia sư, vì có bất hoà sâu sắc với xã hội đương thời mà
khi Cách mạng nổ ra, ông tích cực tham gia và viết văn phục vụ Cách mạng. Ông
còn có tầm lòng đôn hậu, yêu thương, gắn bó với người nghèo; là tấm gương đẹp
đẽ trong giới văn nghệ sĩ. Sinh thời trong lúc xã hội Việt Nam trước Cách mạng
theo chế độ thực dân nửa phong kiến, phải ngày ngày nhìn cảnh nhân dân chịu áp
bức, bóc lột, sống cơ cực lầm than đã trở thành tiền tố quan trọng tác động mạnh
mẽ đến tư tưởng, tình cảm của Nam Cao, thể hiện rõ không chỉ trong những đứa
con tinh thần mà ở cả những quan điểm về nghệ thuật vô cùng tiến bộ của mình.
Đối với Nam Cao mà nói, văn học là phải phán ánh chân thực cuộc sống đương
đại, cũng phải đề cao giá trị nhân đạo sâu sắc để giáo dục con người nhưng phải
thật sáng tạo và trên hết luôn tồn tại trong đó là lương tâm nghề nghiệp của một
1

người viết văn. Những quan điểm đó được ông duy trì và phát triển thành một quy
luật vàng khi sáng tác và chọn đề tài. Giọng văn của ông có lẽ cũng vì thế mà bị
ảnh hưởng sâu nặng: giọng điệu luôn buồn thương, chua chát, lạnh lùng nhưng đầy
thương cảm. Tiêu biểu như các tác phẩm “Đời thừa”, “Sống mòn”, “Giăng sáng”,
“Chí Phèo”, “Trẻ con không được ăn thịt chó”, “Lão Hạc”, … Mỗi tác phẩm đều
chỉ là những điều nhỏ bé nhưng được Nam Cao khơi mở thành những vấn đề to lớn
mang tính thời đại.
Tác phẩm “Chí Phèo” là một trong nhiều tác phẩm góp phần làm nên tên
tuổi của Nam Cao và là những tác phẩm bất hủ của mọi thời đại. Được lấy bối
cảnh là xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám với những cảnh thật, người
thật ở làng quê Nam Cao, năm 1941, truyện ngắn “Chí Phèo” với tên ban đầu là
“Cái lò gạch cũ” ra đời. Câu chuyện được chia làm ba phần với hai giai đoạn chính
xoay quanh cuộc đời của nhân vật Chí Phèo với những khổ ải tận cùng từ lúc tha
hoá đến lúc thức tỉnh: bị bỏ rơi khi mới ra đời, bị bỏ tù oan và tha hoá, bị từ chối
tình cảm và chết đi đã thành những dòng văn ám ảnh với bao thế hệ độc giả vừa
thương xót cho anh Chí thiện lương ngày nào phải tha hoá, vừa cảm phục cái tài
hoa văn chương của Nam Cao.
Câu chuyện được dựng lên với bối cảnh của một ngôi làng hơn 2000 dân xa
phủ, xa tỉnh; thuộc dạng trung bình ở Đồng bằng Bắc Bộ. Làng ấy có tôn ti trật tự
nghiêm ngặt với thành phần dân cư phức tạp, chia nhiều tầng lớp. Cái làng đó là xã
hội phong kiến khép kín, tù đọng, ngột ngạt, không ổn định, mâu thuẫn giai cấp
gay gắt, âm thầm mà quyết liệt. Đó cũng là hình ảnh chân thực thu nhỏ của xã hội
Việt Nam trước Cách mạng.
Là nhân vật mà Nam Cao đặt toàn bộ những lời tố cáo về xã hội đương thời,
Chí Phèo được nhắc đến để mở đầu tác phẩm hết sức độc đáo: Chí Phèo hiện lên
bằng tiếng chửi của hắn. Theo lẽ thường tình, khi mở đầu một tác phẩm, các tác giả
sẽ chọn mở đầu bằng cách miêu tả không gian cảnh vật như “Tiếng trống thu
không trên cái chòi của huyện nhỏ; […]. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình
rõ rệt trên nền trời.” (“Hai đứa trẻ” – Thạch Lam) hoặc bằng tâm trạng của một
nhân vật “Nhĩ nằm im cho vợ chải những nhát lược cuối cùng […]” (“Bến quê” –
Nguyễn Minh Châu) … Trong những nhận định về văn học, Evgheny Evtusenko
cũng từng cho rằng “Tự tử với đời nghệ sĩ không phải là phát súng hay dây thừng
mà chính là khi ngồi vào bàn viết, không đem đến một cái gì mới mẻ”. Có lẽ với
Nam Cao cũng vậy. Cự tuyệt cách mở truyền thống, ông chọn cho Chí Phèo xuất
hiện đầy bất ngờ “hắn vừa đi vừa chửi” đã thu hút sự chú ý của đọc giả hơn vào
nhân vật này. Đi sát với cái quan niệm của mình, ông để tiếng chửi của Chí Phèo
2

thật vừa quen mà vừa lạ. Cái quen đấy là cái hoàn cảnh tiếng chửi cất lên: tiếng
lèm bèm chửi của một gã say rượu nhưng đồng thời cũng là cái lạ, lạ bởi một gã
say rượu vậy mà vẫn có thể chửi rất tuần tự. Ai cũng nhủ rằng “chắc nó trừ mình
ra!” nên chẳng ai rõ hắn chửi cái gì, cũng không ai nghe hắn chửi, lại càng không
ai chửi lại hắn, nhưng ai cùng biết hắn chửi trời, hắn chửi đời, chửi cái làng Vũ
Đại, chửi “đứa nào không chửi với hắn”, chửi cả “đứa chết mẹ nào đẻ ra hắn” …
Tiếng chửi ấy của Chí Phèo là những phản ứng đau đớn, đầy bất mãn với toàn bộ
cuộc đời, khát khao được giao tiếp nhưng không được ai công nhận sự tồn tại của
Chí. Tiếng chửi đó cũng là chi tiết nghệ thuật giàu tính hiện thực và nhân đạo, là
nét riêng trong văn của Nam Cao…
Như một lời giải thích thoả đáng cho tiếng chửi đầy bất mãn và đau đớn của
Chí Phèo, Nam Cao đã chắp bút ngay sau đó là những lớp tâm hồn đầu tiên của
một anh Chí chất phác như bao người nông dân khác trước khi bị bào mòn. “Một
anh đi thả ống lươn, một buổi sáng tinh sương đã thấy hắn trần truồng và xám ngắt
trong cái váy đụp để bên một lò gạch bỏ không …” Chí thật là một con người bất
hạnh, đáng thương. Hắn từ khi sinh ra đã bị bỏ rơi, chẳng rõ cha mẹ là ai; hắn
không nhà, không cửa, nay ở nhà này, mai ở nhà khác. Nuôi hắn đến khi hắn có thể
tự lo cho bản thân cũng là do một tay dân làng nhặt về từ cái lò gạch cũ, truyền tay
nhau mà chăm sóc. Đến tuổi 20, hắn sống bằng chính sức lao động của mình, làm
thuê, làm mướn cho các nhà giàu, địa chủ. Khi ấy nhắc về hắn, người làng vẫn nói
hắn “hiền như cục đất”, vẫn thấy hắn đầy tự trọng và ý thức rất cao về nhân phẩm
của mình. Cũng là vì cái lẽ tự trọng ấy, Chí xấu hổ và nhục nhã khi bị vợ ba lí Kiến
sai làm việc xấu xa để “sao cho thoả nó”, với Chí khi ấy “hắn thấy nhục hơn là
thích, huống hồ lại sợ”. Và cũng như bao cậu chàng bằng vai phải lứa khi ấy, Chí
cũng mang trong mình một ước mơ giản dị: “một ngôi nhà […] chồng cày thuê
[…] vợ dệt vải.''. Ồ, Chí Phèo khi ấy, không đúng, phải là anh Chí khi ấy có cái
tâm hồn trong sáng và lương thiện lắm! Hắn xứng đáng có quyền được sống cuộc
đời bình dị như những người lao động khác. Thế nhưng đau đớn thay, cái bóng tối
bất lương mang tên xã hội đương thời ấy lại vươn tay lạnh lùng bóp nát một ước
mơ bình dị của một con người – một ước mơ lương thiện. Một cơn ghen vu vơ của
lão cáo già lí Kiến, Chí bị đẩy vào cành tù tội. Quả là không đày đoạ những người
sống khốn khổ, không phải là phong kiến, không phải là thực dân … Những song
sắt của cái nhà tù thực dân như nối dài thêm cho lão lí Kiến những sợi xiềng xích
để trói chặt những ước mơ bình dị của một anh canh điền khoẻ mạnh, biến anh
thành một kẻ tội đồ, thành con quỷ dữ, thành nỗi khiếp sợ của bao người. Cuộc đời
của Chí từ đấy bước sang trang mới, một trang đầy bóng tối và khổ đau.
3

Bảy hay tám năm sau, cánh cửa nhà tù thực dân trả lại cho làng Vũ Đại một
con quỷ, một con quỷ thực sự cả nhân hình và nhân tính. Chừng ấy thời gian Chí
trong tù là chừng bấy lâu để chế độ thực dân nhào nặn ra tuyệt tác ghê rợn của
chúng: “Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà nhìn rất
cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết! […] Cái ngực phanh, đầy những
nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chuỳ, cả hai cánh tay cũng thế!”
Hắn thay đổi nhiều quá! Thay đổi nhiều đến mức “mới đầu chẳng ai biết hắn là ai”,
hắn về mang dáng dấp của một kẻ lưu manh thực thụ. Nhân hình thay đổi, nhân
tính hắn cùng vì thế mà biến dạng. Hắn từ một anh Chí ngày ngày chăm chỉ làm
lụng trở thành một Chí Phèo ngày qua ngày uống rượu đến say khướt, say thì lại
chửi bới, lại rạch mặt ăn vạ. Chí Phèo trở thành tay sai đắc lực cho bá Kiến: đòi nợ,
ức hiếp, phá phách, đâm chém, mưu hại, … Chí Phèo khi này hung hãn và ngang
ngược, hắn lúc này là nỗi khiếp sợ của cả cái làng khi xưa từng nuôi hắn khôn lớn.
Hắn đắm mình trong những cơn say triền miên, ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say,
đập đầu, rạch mặt, chửi bới trong lúc say, … Hắn đơn độc, lạc loài, bị gạt ra khỏi
xã hội loài người. Qua hình ảnh con quỷ dữ Chí Phèo, Nam Cao một lần nứa xé tan
đi lớp vỏ bọc của chế độ thực dân lúc bấy giờ. Nó nuốt trọn những thứ thuần khiến
nhất và tiêm nhiễm vào họ những thứ u ám và tăm tối. Không biết đó là gì nhưng
những ai dính vào nó, khó mà giữ được cái chất ban đầu, minh chứng là không chỉ
Chí Phèo, trong nguyên tác đầy đủ còn có Năm Thọ, Binh Chức cũng là hạng cùng
đinh bị tha hoá. Một xã hội tồi tàn, rách nát và thiếu mất sự soi sáng của ánh sáng
chính nghĩa.
Ngỡ tưởng sẽ chẳng có thứ gì cảm hoá được trái tim tha hoá của Chí Phèo
nữa. Cứ ngỡ sẽ chẳng có gì có thể lôi được Chí trong Chí Phèo ra nữa, đó là tận
cùng rồi, đó là vực thẳm rồi, … Nhưng với Nam Cao, đó mới chỉ là tỉnh dậy sau
một giấc ngủ dài. Trong “Chuyến phiêu lưu diệu kỳ của Edward Tulen” do Kate
DiCamillo chắp bút, có một câu văn thế này: “Hãy mở rộng trái tim. Ai đó sẽ tới.
Ai đó sẽ tới vì anh.” Có lẽ Chí Phèo đóng băng trái tim mình lâu quá nên cứ ngày
qua ngày mặc nó bị bao lấy trong những đau khổ, bất mãn. Nam Cao rất thấu hiểu
cho đứa con tinh thần của mình, thế rồi chẳng hay là vô tình hay cố ý, lá cờ tiên
phong của văn học hiện thực đã để những rung cảm của tình yêu thương chạm và
sửa ấm cho trái tim của con thú dữ, phá bỏ từng lớp xích quấn quanh con thú đó,
làm nó hiền lại, lôi Chí bị vùi sâu sau cái vỏ bọc kia ra lại với xã hội. Sự xuất hiện
của Thị Nở trong cuộc đời của Chí có ý nghĩa thật đặc biệt. Sau đêm tư tình ở vườn
chuối, một người phụ nữ xấu đến độ “ma chê quỷ hờn” lại trở thành nguồn sáng
ấm áp chiếu rọi vào tầm cam của Chí Phèo, thắp lên trong hắn ngọn lửa khao khát
được hoàn lương, được trở về với thế giới loài người của Chí. Thị mang tới cho
4

Chí một bát cháo hành – lần đầu tiên trong cuộc đời có một người tình nguyện cho
hắn một thứ gì đó mà hắn không phải chà đạp lên máu và nước mắt của người khác
để có được. Bát cháo hành ấy không chỉ là liều thuốc giải cảm mà còn mang một ý
nghĩa cao cả: cứu rỗi tâm hồn của một con sau những cơn say triền miên, bừng tỉnh
và muốn được hoàn lương, trở về với cuộc sống bình thường. Nếu trong truyện
ngắn “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài mang tiếng sáo thành chi tiết đánh
động trong lòng Mị tình yêu cuộc sống, khát khao sống mãnh liệt sau những ngày
tháng “lùi lùi như một con rùa bên xó cửa” thì trong truyện ngắn “Chí Phèo”, hình
ảnh bát cháo hành của Thị Nở cũng mang ý nghĩa tương tự như thế. Đã bao lâu
rồi? Đã bao lâu rồi hắn mới tỉnh táo được như thế? Có lẽ, từ khi trở về từ nhà tù
thực dân, đây là lần đầu tiên Chí Phèo tỉnh táo. Chí nhìn thấy ánh nắng đã lên cao,
nghe thấy tiếng chim hót ríu rít, nghe tiếng lao xao của những người đi chợ, nghe
tiếng gõ đuổi cá của người kéo chài, … những thanh âm gần gũi của cuộc sống mà
đã lâu lắm rồi Chí chẳng thể nghe thấy. Hắn đã tỉnh, tỉnh nhờ bát cháo hành nóng
hổi của Thị Nở, Chí còn tỉnh táo hơn khi chợt nhìn lại cuộc đời trong quá khứ, ở
hiện tại và cả tương lai. Hắn nhớ lại những ước mở giản dị của hắn; hắn ý thức về
hiện tại buồn khi “tỉnh đậy hắn thấy hắn già mà vẫn cô độc”, “hắn đã tới cái dốc
bên kia của cuộc đời”; rồi bất giác hắn nghĩ về tương lại và hắn sợ. Lần đầu con
quỷ của làng Vũ Đại biết sợ, hắn chẳng sợ trời hay đất, hắn chửi biết bao nhiêu là
người, đến cả nhà lão cáo già bá Kiến hắn cũng chửi, vậy mà bây giờ hắn lại sợ,
hắn sợ sự cô độc suốt quãng đời còn lại. Hắn đã từng hiền lành và lương thiện biết
bao, hắn nhớ là như thế. Hắn đã từng ước mở, ước mơ tuy giản đơn nhỏ bé những
với hắn vậy là đủ, hắn nhớ là như thế. Nhìn lại về cái cảnh sống bây giờ của hắn và
kéo dài đến mai sau, hắn khóc mất, nếu Thị Nở không qua đúng lúc, có lẽ hắn sẽ
khóc mất. Chí Phèo bưng bát cháo hành mà thấy “mắt hình như ươn ướt”. Nhìn
Thị, hắn như muốn khóc, hắn cảm động ngay trong chốc lát “hắn thấy lòng thành
trẻ con. Hắn muốn làm nũng với Thị như với mẹ.” Đó là giây phút hắn “người”
nhất sau bao năm hắn chìm sâu trong nhưng cơn triền miên. Đã hai lần Thị Nở phải
thốt lên “Ôi sao mà hắn hiền!” rồi “Những lúc tỉnh táo hắn cười nghe thật hiền.”
Bằng ngòi bút của mình, Nam Cao đã khiến cho độc giả dù chỉ cảm nhận Chí qua
sau những trang sách cũng thấy được tình yêu thương kia đã cảm hoá nỗi khiếp sợ
của cả làng Vũ Đại – Chí Phèo – như thế nào. Chí nhận ra tình trạng bi đát của đời
mình cũng là lúc sự thay đổi về cảm giác và tư tưởng làm sống dậy ý thức làm
người của hắn: “Bấy giờ mới nguy! Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm
hoà với mọi người biết bao!” Hắn ân hận vì những gì hắn làm. Hắn muốn được trở
lại làm người, hắn muốn làm hoà với mọi người trong làng và Thị Nở chính là cây
cầu duy nhất để đưa Chí về lại với cuộc sống con người. Chí nói với Thị rằng: “Giá
cứ thế này mãi thì thích nhỉ?”, thậm chí, hắn còn tỏ tình với Thị: “Hay là mình
5

sang đây ở với tớ một nhà cho vui.”. Độc giả như chúng ta có lẽ đã có chút giật
mình và không tin rằng đó lạ là câu nói được thốt ra từ một con quỷ, từ một nỗi
khiếp sợ của bao người dân làng Vũ Đại. Một lời ngỏ ý, một lời cầu hôn ngô nghê
những lại vô cùng tình tứ khiến cho trái tim của mỗi chúng ta đều thương cảm và
ấm áp theo. Bản chất thiện lương của Chí đang trỗi dậy, nhen nhóm lên một tia hi
vọng về sự đổi thay của Chí. Mạch cảm xúc của truyện không hề bị đứt đoạn mà
vẫn vận hành hết sức tự nhiên, hợp lý đã thể hiện vào đó là niềm tin về bản chất tốt
đẹp của con người và cũng là tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà văn.
Tôi nhớ mãi bố tôi từng nói: “Điều tệ nhất đối với một con người không phải
là không ai cứu giúp khi rơi vào tăm tối mà chính là được họ cứu lên từ nơi sâu
thẳm nhất và cũng bị chính người giữ dây đẩy xuống vực thẳm ấy lần nữa, thậm
chí còn sâu hơn trước đó.” Tôi từng rất không tin tưởng vào điều bố tôi nói, tôi còn
cho rằng nó quá cực đoan, cho đến khi tôi bất giác nếm được vị mặn vô tình lướt
trên môi mình khi đọc đến những trang cuối “Chí Phèo”, tôi mới biết hoá ra, điều
bố tôi nói có phần nào đó là sự thật. Đã từng có lúc tôi còn trách nhà văn Nam Cao
tại sao không để Chí Phèo quay về làm Chí và sống một cuộc đời lương thiện suốt
phần đời còn lại. Thế nhưng, muốn trách nhưng không thể trách bởi văn học hiện
thực là vậy, nó buộc chúng ta phải chấp nhận những điều không mong muốn thành
sự thật. Thật đau đớn thay khi tia hi vọng mới le lói nơi trái tim của Chí Phèo là
Thị Nở ngay lập tức bị dập tắt. Lời nói của bà cô Thị Nở như một gáo nước lạnh
tạt thẳng vào mặt Chí Phèo, rửa trôi theo đó là bao nhiêu mong mỏi, khát khao và
hi vọng làm người: “Ai lại đâm đầu đi lấy một thằng không cha không mẹ như cái
thằng Chí Phèo”. Cảnh cửa quay đầu vừa hé mở đã ngay tức khắc đóng sầm lại chỉ
vì những định kiến, những suy nghĩ cổ hủ xuất phát từ một bà cô già. Thị Nở
khước từ Chí, để lại một con thú dữ đang muốn quay đầu với đống ngổn ngang là
những suy nghĩ. Chí tuyệt vọng và tìm đến rượu để giải toả hết những thất vọng và
sầu muộn, muốn thật say để thoát khỏi sự bi kịch của cuộc mình. Có lẽ, câu thơ
“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh” của bà Chúa thơ Nôm mới có thể diễn tả rõ
nhất tình cảnh của Chí lúc này: một người cố vùng vẫy thoát ra khỏi bóng tối
nhưng vô tình là bị nhấn chìm sâu hơn vào vũng lầy ấy. Chí Phèo càng uống càng
tỉnh, Chí nhận ra bị kịch đời mình và Chí đau đớn xiết bao khi nghe “thoang
thoảng mùi cháo hành”. Hắn đã khóc. Chí đã ôm mặt róc rưng rức. Phẫn uất vô
cùng, Chí quyết định xách dao đến nhà Thị Nở để chém chết con “khọm già”, con
“đĩ Nở” thế nhưng, lối mòn của tội ác lại đưa bước chân Chí đến một nơi quen
thuộc – nhà bá Kiến. Hơn ai hết, Chí hiểu được sâu sắc ai đã đưa cuộc đời của
mình đến việc đội lốt quỷ để sống. Hắn hiểu kẻ đã làm cho hắn đến nông nỗi này
chính là bá Kiến. Chí Phèo đến nhà bá Kiến dõng dạc dòi lại quyền làm người với
6

một nỗi căm hờn: “Tao muốn làm người lương thiện”, “Ai cho tao lương thiện?”.
Những câu hỏi bỏ ngỏ của Chí là những tiếng kêu cứu thống thiết của một con
người mong muốn được quay về, được hoà nhập, được thực hiện những ước mơ
giản dị của mình nhưng lại bị cả xã hội ruồng bỏ. Câu hỏi đánh thẳng vào trái tim
của độc giả khiến bao người vì thế mà nhói lên. Câu hỏi đánh thẳng vào bộ mặt của
xã hội bất lương, vô nhân đạo đẩy con người vào bước đường cùng. Chi tiết Chí
Phèo giết bá Kiến, sau đó tự kết liễu đời mình mang đầy bi thảm. Mượn cái chết
của Chí, tác giả Nam Cao hoàn thành bản cáo trạng tội ác bằng lời kết tội đanh
thép với xã hội thực dân nửa phong kiến vô nhân tính. Đồng thời thay bao nhiêu
người nông dân cực khổ bần hàn vang lên tiếng kêu cứu khẩn thiết: “Hãy cứu lấy
con người”. Nam Cao để đứa con tinh thần của mình – Chí Phèo giết bá Kiến cùng
hành động tự sát diễn ra rất nhanh, có lẽ bởi ông sợ nhân vật của mình sẽ vì những
phút giây trì hoãn mà thay đổi. Cái chết bi thảm của Chí là lựa chọn tốt nhất kết lại
cuộc đời tăm tối của hắn, để ai nhìn thấy cùng lấy đấy làm một cái gương soi mà
tránh bị đời như hắn. Qua đó, tác giả cũng kịp “trả lại” cho Chí sự thiện lương và
tính cách ban đầu mà hắn có. Từ đấy đẩy hình tượng của Chí Phèo trở thành nét
điển hình cho người nông dân tha hoá đã thức tính, hồi sinh; hình thành một tư
tưởng nhân đạo mới ở Nam Cao…
Nhiều ý kiến cho rằng sự tha hoá của Chí Phèo là hiện tượng mang tính chất
quy luật. Nếu chỉ mới đọc qua tác phẩm một vài lần, có lẽ sẽ chẳng ai tin vào ý
kiến ấy. Nhưng nếu dành thời gian để đọc và nghiền ngẫm về hình tượng nhân vật
Chí Phèo, không ai có thể phản bác được ý kiến ấy. Chí Phèo là sản phẩm của chế
độ nhà tù đen tối, của sự áp bức tàn khốc; điển hình cho người lao động lương
thiện bị đẩy vào con đường tha hoá; bị tàn phá về nhân hình, huỷ diệt về nhân tính.
Nhìn lại toàn bộ quá trình phát triển tâm lý nhân vật từ lúc tha hoá đến khi thức
tỉnh của Chí Phèo, ta thấy nó diễn ra như một điều được báo trước, và thậm chí có
thể tính được. Vô hình chung, nó trở thành một phần đường tối mà những người
chắp bút điêu tạc lên nhân vật ra đời trong chủ nghĩa văn học hiện thực phải đau
đớn nhìn đứa con tinh thần của mình đi qua để từ đó, những nhà văn tài hoa có thể
lột tả trọn vẹn nhất và mài ra những thanh chuỷ thủ sắc bén nhất mà rạch nát tấm
chướng che phủ toàn bộ những cái vô nhân tính của xã hội thực dân nửa phong
kiến.
Nguyên Ngọc nói rằng: “Truyện ngắn mang rất tõ cái chất của từng người
viết, nhất là cái chất quả quyết, đột ngột. Viết truyện ngắn phải có nghề lắm. Vả lại
phải viết về những cái mới, những cái không dễ thấy, những cái ở chiều sâu của
nó, cuộc đời đang đặt ra”. Có lẽ nhận định đó của Nguyên Ngọc là dành riêng cho
Nam Cao cùng “Chí Phèo”. Bởi nhờ nghệ thuật miêu tả nội tâm kết hợp cùng kết
7

cấu mới mẻ đầy hiện đại và cốt truyện hấp dẫn, kịch tính, giọng điệu biến hoá,
ngôn ngữ điêu luyện, truyện ngắn “Chí Phèo” đã phản ánh và tố cáo xã hội thực
dân phong kiến đã đẩy người nông dân lương thiện vào con đường tha hoá. Đồng
thời cũng khẳng định bản chất tốt đẹp của người nông dân ngay cả khi tưởng như
họ đã biến thành quỷ dữ, tưởng như họ chẳng thể quay đầu …

8
 
Gửi ý kiến