Bài 6. Truyện Kiều của Nguyễn Du

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Quốc Hưng
Ngày gửi: 18h:27' 21-01-2023
Dung lượng: 3.8 MB
Số lượt tải: 42
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Quốc Hưng
Ngày gửi: 18h:27' 21-01-2023
Dung lượng: 3.8 MB
Số lượt tải: 42
Số lượt thích:
0 người
TRUYỆN KIỀU VÀ ĐỜI SỐNG NỘI TÂM CỦA CÁC NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN
KIỀU
I. VÀI NÉT VỀ ĐẠI THI HÀO NGUYỄN DU VÀ TÁC PHẨM TRUYỆN KIỀU:
1. Tác giả:
- Nguyễn Du (1765 – 1820) tên chữ Hán là Tố Như, hiệu Thanh Thiên, là người làng Tiên
Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh.
- Với những trải nghiệm phong phú và nguồn tri thức dồi dào, am hiểu văn hóa, những quan sát
trực tiếp hiện thực xã hội với những mặt đen tối khi lưu lạc của mình ông đã để lại nhiều nhiều
tác phẩm nổi bật, có giá trị về nghệ thuật:
+ Chữ Hán có 3 tập, gồm 243 bài: Thanh Thiên thi tập, Bắc Hành tạp lục, Nam Trung tạp
ngâm.
+ 2 tác phẩm được viết bằng chữ Nôm: Văn chiêu hồn, Đoạn trường tân thanh (thường gọi là
Truyện Kiều)
2. Truyện Kiều:
a) Xuất xứ: Truyện được sáng tác dựa trên cuốn “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài
Nhân
b) Thể loại: Truyện Nôm (Truyện thơ Nôm)
c) Phương thức biểu đạt: Tự sự
d) Kết cấu: gồm 3 phần
+ Phần 1: Gặp gỡ và đính ước
+ Phần 2: Gia biến và lưu lạc
+ Phần 3: Đoàn tụ
e) Các giá trị lớn của Truyện Kiều:
- Giá trị hiện thực: Phản ánh sâu sắc, chân xác hiện thực xã hội đương thời.
- Giá trị nhân đạo: Bao trùm cả tác phẩm là tấm lòng yêu thương, là sự trân trọng vẻ đẹp giá trị
con người, cái nhìn đầy nhân văn của tác giả đối với người phụ nữ.
- Giá trị nghệ thuật: là một kiệt tác với bút pháp của một nghệ sĩ thiên tài trên tất cả các phương
diện của truyện thơ Nôm như: thể loại ngôn từ, kết cấu, hình tượng nhân vật (chính diện và
phản diện), miêu tả ngoại hình, bút pháp tả cảnh ngụ tình, các biện pháp tu từ (ẩn dụ, so sánh,
nhân hóa, hoán dụ, điệp từ, nói quá,…).
* Trong các giá trị nghệ thuật thì nghệ thuật miều tả đời sống nội tâm của các nhân vật
trong truyện Kiều rất đặc sắc và cũng chính là nội dung chính của dự án nghiên cứu này.
II. ĐỜI SỐNG NỘI TÂM CỦA CÁC NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN KIỀU:
* Tâm lí, nội tâm con người vốn là vũ trụ đầy bí mật. Người nghệ sĩ chỉ có thể khám phá
được đời sống nội tâm con người nếu thực sự thấu hiểu và đồng cảm với nhân vật của
mình.
1) Nhân vật Thúy Kiều:
Nhân vật Nguyễn Du thương yêu nhất trong Truyện Kiều và có lẽ trong suốt đời thơ ông là
Thuý Kiều - người con gái tài hoa mà bạc mệnh. Trong hoàn cảnh nào, nhà thơ cũng thấu
hiểu, đồng cảm với Kiều đến mức mọi diễn biến tâm lí của nàng đêu được nắm bắt và thể hiện
một cách tỉnh tế.
- Trong trích đoạn “Trao duyên”, để khắc họa tâm lí Thuý Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng thành
công lời đối thoại và độc thoại của nhân vật. Đoạn trích mở đầu bằng những lời Kiều nói với
Vân:
“Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.”
Nhà thơ đã rất tỉnh tế khi để Kiều nói là “cậy” mà không phải là “nhờ” vì “cậy” hàm ý tin chắc
người được nhờ nhất định sẽ nghe mình. Hai chữ mặc em chốt lại màn đạo đầu nhưng lại mang
hàm ý giao phó trách nhiệm. Kiều ý thức rất rõ trao duyên cho em là việc cần thiết, quan trọng.
Nàng không chắc Thuý Vân sẽ nhận lời nên mỗi từ Thuý Kiều nói ra đều được cân nhắc kĩ
càng. Không thấu hiểu, đồng cảm với nhân vật của mình, Nguyễn Du không thể viết những câu
thơ với những từ ngữ đắt giá như thế.
Khi phải trao cho Thuý Vân những kỉ vật của tình yêu, trong Kiều nỗi đau cuộn lên thành
những mâu thuẫn giằng xé:
“Chiếc vành với bức tờ mây, .
Duyên này thì giữ, vật này của chung”
Theo lẽ thường khi yêu, lứa đôi hay trao cho nhau những kỉ vật, vừa để kỉ niệm, vừa để làm vật
chứng cho tình yêu, nhắc nhở mỗi người hãy nhớ đến người kia. Vậy mà khi quyết định nhờ
Thúy Vân trả nghĩa cho người yêu, Thúy Kiều buộc phải trao lại em hai kỉ vật thiêng liêng đó.
Hình như trao đi rồi mà vẫn tiếc, vẫn xót xa quá nên nàng phải buông lời: “Duyên này thì giữ,
vật này của chung”. Duyên phải trao đi vì nàng không thể cùng chàng Kim trọn lời thể ước.
Nhưng trao đi không có nghĩa là trao hẳn mà chỉ là để cho em giữ. Hai chữ “của chung” diễn tả
sâu đậm nỗi tiếc xót, nỗi đau đớn và cả sự níu kéo, giữ phần trong nàng. Màn trao kỉ vật chỉ vẻn
vẹn được Nguyễn Du họa lại bằng hai câu thơ nhưng cũng chỉ cần thế thôi cũng đủ để thi nhân
khắc sâu tô đậm tình yêu sâu nặng Thúy Kiều dành cho Kim Trọng.
Thúy Kiều như quên mất sự có mặt của em khi nhắn nhủ chuyện tương lai mà tâm tưởng nàng
lại đắm đuối và những kỉ niệm của tình yêu, của đêm thể nguyễn thiêng liêng hôm nào:
“Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy so tơ phím này.”
Điều này càng chứng minh trong tâm hồn Kiều, những kỉ niệm đẹp đẽ với chàng Kim có sức
sống thật mãnh liệt. Gợi lại cảnh chàng Kim cho thêm hương vào lò và cảnh Thúy Kiều đàn
cho Kim Trọng nghe trong đêm thể nguyền. Nguyễn Du tài tình quá khi để mỗi kỉ niệm đã qua
thêm lần nữa khắc sâu yêu dấu vào lòng nàng. Càng hồi tưởng lại càng yêu, nhưng càng yêu lại
càng cảm thấy cuộc đời trống trải, vô nghĩa khi tình yêu vuột mất. Có lẽ vì thế Kiều liên tưởng
đến cái chết, một cái chết đây oan nghiệt sẽ đến với nàng trong ngày không xa:
“Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.”
Từ những nghĩ suy về một tương lai đầy u ám. Thì khi trở về hiện tại, Kiều lại phải đối diện với
nỗi đau đớn khôn xiết khi đành dứt tình với chàng Kim:
“Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!”
Kiều như quên hết xung quanh, quên rằng bên mình đang còn có Thúy Vân, nàng chỉ còn khóc,
khóc thổn thức cho mình, cho mối tình đầu ngắn ngủi. Để rồi sau cùng, như oan uất quá, như
khao khát lắm một người để sẻ chia, để được thấu hiểu, Kiều đã cất tiếng kêu chàng Kim:
“Trăm ngàn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi! .
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”
“Tình quân”, “Kim lang”, “chàng”, tất cả những tiếng ấy đều là lời Thúy Kiều gọi Kim Trọng.
Dẫu là “tình quân”, “Kim lang” hay “chàng”, tất cả đều đong đầy yêu thương, xót xa, đau
đớn… Riêng từ “Kim lang” được điệp thêm một lần nữa và đi liền sau các thán từ ôi, hỡi đây
thê thiết, điều đó chứng tỏ trong tâm tưởng, Thuý Kiều đã coi Kim Trọng là chồng. Tiếng gọi,
tiếng khóc cất lên vừa tiếc nuối vì tình lứa đôi lỡ dở vừa hàm chứa nỗi đau đớn khôn xiết trong
nàng.
=> Bằng cách xây dựng ngôn ngữ đối thoại và độc thoại, “Trao duyên” đã thể hiện thành công
diễn biến tâm lí trong nhân vật Thuý Kiều
- Trong trích đoạn "Kiều ở lầu Ngưng Bích" đoạn trích dựng lên tâm trạng cô đơn, buồn tủi và
tấm lòng thủy chung son sắt với người yêu, hiếu thảo với cha mẹ của Thúy Kiều khi đang phải
một mình bơ vơ, lạc lõng nơi xứ lạ người xa.
Sáu câu thơ đầu là tâm trạng cô đơn, bất hạnh, đáng thương và tội nghiệp của Kiều trước thiên
nhiên ở lầu Ngưng Bích. Ngay câu thơ mở đầu: "Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân", Nguyễn
Du đã nêu bật lên cảnh ngộ đáng thương của Kiều. Lầu Ngưng Bích như là nhà tù giam lỏng
cuộc đời Kiều, nó cho thấy tình cảnh đáng thương, xót xa mà nàng Kiều phải chịu đựng.
Những câu thơ tiếp theo, tái hiện quang cảnh xung quanh lầu Ngưng Bích rộng lớn, mênh mông
được nhìn dưới con mắt đầy tâm trạng của Kiều:
“Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.”
Nguyễn Du đã đặt Kiều trong một cảnh ngộ rất đặc biệt: một mình, cô đơn, trơ trọi, bẽ bàng
giữa một không gian rộng lớn, mênh mông: "bốn bề bát ngát". Đứng trên lầu Kiều chỉ thấy
"non xa", "tấm trăng gần”, khoảng không trống vắng, xa xa là những con sóng lượn, những bãi
cát dài phẳng lặng nối tiếp nhau. Ẩn sau ánh mắt nhìn "xa trông" như đang trông mong, ngóng
chờ ấy là niềm mong mỏi, khát khao, đợi chờ một tương lai hạnh phúc phía trước nhưng trước
không gian trống trải, hoang vắng ấy thì chắc chắn chỉ làm cho Kiều trở nên thất vọng, cô đơn
hơn mà thôi.
“Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.”
Tính từ “bẽ bàng” gợi lên sự xấu hổ và tủi thẹn của Kiều khi nghĩ đến thân phận và duyên phận
của mình. Có lẽ, nàng cảm thấy xấu hổ là vì bị Mã Giám Sinh lừa vào lầu xanh, nàng cảm thấy
tủi thẹn là vì cảm thấy không còn xứng đáng với tình cảm mà Kim Trọng mong chờ. Cụm từ
“mây sớm đèn khuya” gợi nên vòng tuần hoàn thời gian khép kín và ẩn sau đó là sự cô đơn,
đơn điệu, nhàm chán khi mà ở đó Kiều chỉ có một thân một mình đối diện với chính mình, sớm
thì làm bạn với mây, tối thì lại chỉ biết trò chuyện với bóng đèn.
Tám câu thơ tiếp là nỗi niềm thương nhớ Kim Trọng và cha mẹ của Kiều. Để diễn tả nỗi nhớ
của Kiều dành cho chàng Kim, tác giả đã dùng động từ “Tưởng”. Tưởng là nhớ tới mức hình
dung ra Kim Trọng đang ở trước mắt trò chuyện với Kiều. Kiều nhớ đến đêm chăng thề
nguyện, hai người cùng uống chén rượu thủy chung, hứa sẽ bên nhau trọn đời. Nhưng bây giờ
nàng đang phải lạc lõng nơi đất khách, nên nàng tưởng Kim Trọng đang đợi tin tức của mình,
còn mình thì bặt vô âm tín:
“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sướng luống những rày trông mai chờ”
Rồi nàng băn khoăn tự hỏi:
“Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.”
Câu thơ như một lời khẳng định về tấm lòng son sắt, thủy chung của Kiều đối với Kim Trọng
dù trên bước đường đời có phải trải qua bao sóng gió thì tấm lòng son ấy mãi vẹn nguyên.
Trong nỗi nhớ chằng Kim, Thúy Kiều không chỉ bộc lộ nỗi niềm mong ngóng khắc khoải mà
còn bộc lộ cả nỗi đau đớn, cùng cực, tủi hổ đến xe tâm can. Qua đó cho thấy được tấm lòng
thủy chung, son sắt của Kiều dành cho Kim Trọng.
Sau nỗi nhớ người yêu, Kiều tiếp tục nhớ tới cha mẹ - người thân yêu ruột thịt của mình:
“Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.”
Khi diễn tả tấm lòng hiếu lễ với cha mẹ của Kiều, tác giả sử dụng tính từ “xót”. Xót nghĩa là
thương, thương đến mức xót xa trong lòng. Không xót xa sao được khi một đứa con hiếu thảo
như Kiều lại cứ nghĩ đến hình ảnh cha mẹ đang tựa cửa ngóng chờ con trở về. Thành ngữ “quạt
nồng ấp lạnh” và điển tích Sân Lai, gốc tử càng nổi bật lên tấm lòng hiếu thuận của Thúy Kiều.
=> Nghệ thuật miêu tả nội tâm đạt đến sự điêu luyện của tác giả (độc thoại nội tâm, sử dụng
thành công các điển tích, điển cố, thành ngữ dân gian,..ẩn dụ “tấm son”, “gốc tử”)
Càng nhớ người yêu, càng nhớ cha mẹ, Kiều càng đau xót cho số phận và hoàn cảnh buồn khổ
của mình. Tâm trạng ấy của nàng tập trung vào tám câu thơ cuối đoạn trích. Cảnh vật được
miêu tả qua tâm trạng, tâm trạng nhuốm lên cảnh vật, cảnh vật thể hiện tâm trạng, sắc thái của
bức tranh thiên nhiên thể hiện từng trạng thái tình cảm của Thuý Kiều.
“Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu?”
Điệp ngữ “buồn trông” được lặp đi lặp lại bốn lần. Đây là điệp ngữ liên hoàn và đồng thời cũng
là điệp khúc của tâm trạng. Kiều buồn nên Kiều mới trông cảnh vật, khác với đoạn trước, Kiều
trông mới thấy buồn. Ở đây, vì buồn nên trông, mà càng trông thì Kiều lại càng buồn. Nỗi buồn
cứ thế điệp đi điệp lại dâng lên thành lớp lớp sóng trào, cứ cuộn xoáy trong tâm khảm của Kiều
mà trở thành gánh nặng tâm tư.
“Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”
Ngước mắt trông về phía xa của cửa biển Kiều chỉ càng cảm thấy rộng trống, cơ đơn, buồn tủi.
Kiều quay trở về nhìn xuống mặt đất quanh mình để tìm kiếm sự sống của cảnh vật xung quanh
thì lại chỉ thấy những đám cỏ xanh héo úa, lụi tàn. Hình ảnh “nội cỏ rầu rầu” là một hình ảnh
nhân hóa, biểu hiện tâm trạng của con người. Lòng người buồn nên nhìn đâu cũng thấy buồn;
nỗi buồn của Kiều như thấm vào cảnh vật khiến cho cảnh vật cũng nhuốm màu tâm trạng
“Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.”
Âm thanh dữ dội của gió, của sóng; gió làm cho mặt biển tung lên những con sóng ồ ạt đập vào
bờ mà phát ra tiếng kêu. Nhưng quan trọng, tiếng sóng ấy không đơn thuần là những con sóng
thực ở ngoài biển khơi mà đó còn là con sóng lòng của tâm trạng. Điệp khúc “buồn trông” ở
những câu thơ trên kết đọng, tích tụ rồi dồn đẩy xuống câu thơ cuối khiến cho nỗi buồn ngày
càng trở nên chồng chất như lớp lớp sóng trào. Tiếng sóng “ầm ầm” dữ dội ấy còn là hình ảnh
ẩn dụ cho cuộc đời phong ba bão táp đã và đang đổ ập xuống đời Kiều, đổ ập xuống đôi vai gầy
yếu của một cô gái trẻ đáng thương và tội nghiệp. Lúc này Kiều không chỉ buồn mà còn lo lắng,
sợ hãi như đang rơi vào vực thẳm một cách bất lực.
=> Qua đoạn trích chúng ta thấy được tâm trạng, cảnh ngộ cô đơn, đáng thương, tội nghiệp và
tấm lòng thủy chung son sắt với người yêu, hiếu thảo với cha mẹ của nàng Kiều, một con người
tài hoa mà bạc mệnh!
- Trong trích đoạn “Nỗi thương mình”, Nguyễn Du không lặp lại cách cũ để miêu tả tâm lí cho
chính nhân vật đó. Vẫn trên chất liệu ngôn từ, nhà thơ đã sử dụng các biện pháp nghệ thuật điệp
từ, cụm từ đan xen, lời nửa trực tiếp, hình thức đối để làm nổi bật tâm trạng Thuý Kiều trong
tình cảnh trớ trêu:
“Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật mình mình lại thương mình xót xo.”
Lời thơ là lời giãi bày, tâm sự bày tỏ tâm trạng, nỗi niềm của Kiều. Tỉnh dậy khi đêm tàn canh,
Kiều giật mình đối diện với chính mình. Giật mình vừa là sự tự ý thức về nhân phẩm, vừa là nỗi
thương thân xót phân.
“Khi sao phong gấm rủ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!
Mặc người mưa Sở, mây Tần,
Nghĩ mình nào biết có xuân là đì.”
Khi sao…. Giờ sao…, sự đối lập giữa thực tại và quá khứ thể hiện tiếc thương thân mình bị vùi
dập và nỗi đau về sự thay thân đổi phận. Kiều càng ngơ ngác, đau xót, không hiểu vì sao có thể
thay đổi thân phận nhanh như vậy. Cụm từ “bướm chán ong chường” chỉ tâm trạng chán
chường, ghê sợ chính bản thân của Kiểu. Trong cái kiếp sống làm vợ khắp người ta, Kiều chỉ
thấy nhục nhã, trơ lì vô cảm và chán ngán. Giữa cản sống xô bồ ở lầu xanh, Kiều vẫn còn giữ
nguyên một tấm lòng trinh bạch. Sau sự tự ý thức sâu sắc về cảnh ngộ, thân phận ê chế của
mình, Kiều nhận thấy mình lạc lõng, cô đơn và đau khổ đến tột đỉnh giữa chốn nhơ nhớp:
Đòi phen gió tựa hoa bê,
Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu.
Hai câu thơ tả cảnh thiên nhiên, tả cảnh Kiều cùng khách xem hoa hóng gió trong đêm trăng,
đêm tuyết… Kiều vốn là cô gái có đời sống nội tâm phong phú nhưng dẫu có yêu cảnh sắc
thiên nhiên đến mức nào, thì chốn lầu xanh, nàng cũng không thể toàn tâm toàn trí mà hưởng
thú vui. Vậy nên, việc ngắm cảnh đẹp cùng khách lúc này thực ra chỉ là sự giả tạo, nàng thờ ơ,
hờ hững, dửng dưng với tất cả cảnh vật xung quanh.
Vốn có tài năng cầm, kì, thi, hoạ nhưng ở chốn lầu xanh, Kiều cũng chỉ cố gắng tỏ ra vui một
cách gượng ép vì không thể tri âm cùng ai.
Vui là vui gượng kẻo là,
Ai tri âm đó mặn mà với di?
Nỗi thương mình đã trở thành một trong những đoạn tuyệt bút của Truyện Kiều khi dựng lại
một cách chân xác, xúc động tâm lí của Thúy Kiều trong hoàn cảnh trớ trêu, éo le, bất hạnh.
2) Nhân vật Kim Trọng:
Kim Trọng là một trong ba nhân vật đẹp nhất trong "Truyện Kiều" thể hiện cảm hứng nhân văn
về tình yêu tự do giữa đôi lứa "người quốc sắc, kẻ thiên tài". Kiều gặp Kim Trọng, Kiều – Kim.
Mở đầu là tiếng nhạc vàng, khúc nhạc của tình yêu, ánh sáng của tình yêu, ở đâu đó, nghe rõ
dần; tiếng nhạc vàng làm rung động và xôn xao cảnh vật, lòng người:
"Dùng dằng nửa ở nửa về,
Nhạc vàng đâu đó tiếng nghe gần gần"
Cảnh vật như sáng bừng lên; cỏ cây, không gian có một sự hóa thân kỳ diệu, trở nên diễm lệ
ngào ngạt sắc hương theo mỗi bước đi của thi sĩ,:
"Hài văn lần bước dặm xanh
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao"
Tình yêu của đôi lứa thanh tân nảy nở từ mau xanh ấy trong sự giao hòa của cây quỳnh cành
dao.
Kim Trọng với Vương Quan là bạn học thân thiết. Cả hai đều đã "trộm dấu thầm yêu" nàng
Kiều đã lâu mà chưa một lần hội ngộ. Hội Đạp thanh này đối với chàng Kim là dịp "thỏa lòng
tìm hoa". Một cái "nhác thấy" mà đã "mặn mà" biết bao:
"Bóng hồng nhác thấy nẻo xa,
Xuân lan, thu cúc mặn mà cả hai"
Hai trái tim đa tình, đa cảm đã có một tiếng nói chung. Thế nhưng vẫn dịu dàng, e ấp và kín
đáo:
"Tình trong như đã, mặt ngoài còn e"
Người đẹp đã làm cho chàng Kim choáng váng:
"Chập chờn cơn tỉnh cơn mê"
Trước tiếng sét ái tình. Kim Trọng vốn hào hoa, phong nhã đã làm chủ được tâm hồn trong một
cuộc tình trường:
"Rốn ngồi chẳng tiện, dứt về chỉn khôn"
Cuộc chia li không thể không diễn ra. Khoảnh khắc chia li của lứa đôi trong buổi đầu gặp gỡ
mang theo bao tình lưu luyến. Hai vế tiểu đối mà ra hai phía chân trời, tình lưu luyến mến
thương kéo dài vô tận:
"Khách đà lên ngựa người còn ghé theo"
Sau khi gặp chị em Kiều, Kim Trọng về nhà thương nhớ, nỗi nhớ không làm sao quên được.
Một ngày không được gặp Kiều thời gian dài chẳng khác gì ba năm mong đợi. Kim Trọng hình
dung hình ảnh Kiều ngồi trong cửa sổ nhà nàng mà lòng mình sầu nhớ miên man suốt cả một
tuần trăng (một tháng), đèn cạn dầu tắt lụi mà lòng vẫn còn vấn vương.
“Bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao.
Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao,
Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng.
Buồng văn hơi giá như đồng,
Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan.”
Lúc Kim Trọng Đi Tìm Kiều nếu chúng ta nhìn nhân vật Kim Trọng trong tinh thần mới, chúng
ta sẽ thấy những đoạn thơ có Kim Trọng, đặc biệt rất nhiều câu thơ trong phần cuối của Truyện
Kiều, thường phức tạp, ảo diệu và có một chất lượng triết lí rất sâu.
"Nỗi nàng nhớ đến bao giờ,
Tuôn châu đòi trận vò tơ trăm vòng.
Có khi vắng vẻ thư phòng,
Đốt lò hương giở phím đồng ngày xưa.
Bẽ bài rủ rỉ tiếng tơ,
Trầm bay nhạt khói gió đưa lay rèm.
Dường như bên nóc bên thềm,
Tiếng Kiều đồng vọng bóng xiêm mơ màng,
Bởi lòng tạc đá ghi vàng,
Tưởng nàng nên lại thấy nàng về đây."
3) Nhân vật Từ Hải:
Cuộc chia tay giữa Thúy Kiều và Từ Hải sau nửa năm chung sống mặn nồng. Từ Hải lên đường
thể hiện quyết tâm mưu đồ việc lớn của người anh hùng có hùng tâm tráng trí cao cả, lớn lao.
Trước đoạn trích này, ngay từ khi Từ Hải xuất hiện, Nguyễn Du đã cho người đọc thấy hình
ảnh người anh hùng ngay từ vẻ đẹp ngoại hình:
“Râu hùm hàm én mày ngài
Vai năm thước rộng thân mười thước cao
Hay vẻ đẹp ở phương diện tài năng:
Đường đường một đấng anh hào
Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài.”
Để làm bật vẻ đẹp đó, những câu thơ đã vẽ lên hình ảnh người anh hùng với khát khao, hoài
bão lớn lao, cao đẹp:
“Nửa năm hương lửa đương nồng
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương
Trông vời trời bể mênh mang
Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong”.
Giữa lúc cuộc sống của Từ Hải và Thúy Kiều đang ở độ đằm thắm, mặn nồng nhất thì Từ Hải
quyết định dứt áo lên đường thực hiện nguyện vọng lớn lao. Theo lẽ thường, những người đàn
ông sẽ khó có đủ quyết tâm để rời bỏ hạnh phúc riêng tư. Từ Hải lại là một người hoàn toàn
khác, mặc dù đang trong giai đoạn hạnh phúc nhất, nhưng sâu thẳm trong trái tim Từ Hải khát
khao, hoài bão, nguyện vọng đó vẫn luôn âm ỉ cháy bỏng, chỉ chờ thời cơ thích hợp để thực
hiện. Thái độ lên đường của Từ Hải hết sức dứt khoát, hành động “thoắt” cho thấy sự thay đổi
nhanh chóng trong con người Từ Hải.
Nguyễn Du đã khắc họa hình ảnh của một người anh hùng lí tưởng, phi thường, có ước mơ, có
hoài bão cao cả, có chí lớn ôm trọn của trời đất. Nguyễn Du đã rất khéo léo khi xây dựng hình
ảnh người anh hùng Từ Hải qua không gian rộng lớn, qua tư thế, hành động mạnh mẽ, dứt
khoát. Qua cuộc đối thoại với Thúy Kiều vẻ đẹp của người anh hùng Từ Hải càng được thể hiện
rõ nét hơn. Trước hết những lời đối thoại của Từ Hải đã cho thấy tình cảm chàng dành cho
Thúy Kiều, chàng ý thức được sự lo lắng, băn khoăn, hiểu được ý định xin được đi theo của
nàng Kiều nên đã nói chuyện với nàng để giải tỏa nỗi băn khoăn ấy. Chàng còn khẳng định tình
cảm tri ân tri kỷ giữa hai người, rồi trách móc nàng Kiều vẫn chưa thoát khỏi chuyện nữ nhi
thường tình:
Từ rằng: Tâm phúc tương tri
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình.
Từ Hải một người có ý chí, quyết tâm, ôm mộng lớn bao trùm thiên hạ bởi vậy vợ chàng, tri âm
tri kỷ của chàng cũng phải là người phụ nữ mạnh mẽ, hiểu chuyện, không nên có những thái độ
giống như những người phụ nữ bình thường khác. Ngoài ra, để làm Thúy Kiều yên tâm, chàng
còn khẳng định, đưa ra lời hứa hẹn:
Bao giờ mười vạn tinh binh
Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp trời
Làm cho rõ mặt phi thường
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.
Câu thơ là lời khẳng định tình cảm sâu sắc Từ Hải dành cho Thúy Kiều, đó làm tấm lòng trân
trọng, luôn lo lắng cho Thúy Kiều của Từ Hải. Đồng thời Từ Hải cũng phân tích để Thúy Kiều
hiểu được việc nàng muốn đi theo là không phù hợp: Bằng nay bốn bể không nhà/ Theo càng
thêm bận biết là đi đâu. Để rồi một lần nữa Từ hứa hẹn chắc chắn một năm sau sẽ trở về đón
nàng trong vinh quang. Đằng sau những lời nói của Từ Hải ta còn thấy được khát vọng lớn lao
của người anh hùng: muốn có một đội quân tinh nhuệ, hùng hậu, đủ sức làm rung chuyển thiên
hạ. Bày tỏ mục đích ra đi vì sự nghiệp lớn của mình là để khẳng định bản lĩnh nam nhi. Khát
vọng lớn lao của người anh hùng Từ Hải thể hiện qua thái độ dứt khoát, kiên quyết dẹp bỏ tình
riêng hết lòng vì sự nghiệp lớn.
Khát vọng lớn lao của Từ Hải còn được thể hiện ở lời khẳng định chỉ trong vòng một năm ngắn
ngủi sẽ hoàn thành sự nghiệp lớn để trở về. Đối với một người nam nhi làm sự nghiệp lớn, gây
dựng cơ đồ chỉ trong một năm quả là quá ngắn ngủi. Qua lớn khẳng định đó cho thấy sự bản
lĩnh, tự tin của Từ Hải vào tài năng của mình. Thông qua lời đối thoại với Thúy Kiều đã khắc
họa rõ nét, chân thực những khát vọng lớn lao, cao cả, mạnh mẽ và cả tình yêu tha thiết Từ Hải
dành cho Thúy Kiều.
=> Nguyễn Du đã có nhiều sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật miêu tả. Nhờ đó, hình tượng nhân
vật Từ Hải đã đi vào lòng mỗi người đọc với những ấn tượng đặc biệt, không thể lẫn với các
hình tượng anh hùng khác. Chính lòng yêu mến và tài năng nghệ thuật đã giúp Nguyễn Du có
được thành công lớn khi xây dựng hình tượng nhân vật Từ Hải
4) Nhân vật Hoạn Thư:
Hoạn Thư là một người có ăn có học, bà ta đánh ghen đều có tính toán, sắp xếp đâu ra đấy hết,
chứng tỏ bà là một người thông minh, xảo quyệt. Qua những lời nói đối đáp với Kiều, đủ hiểu
bà ta là người không phải nông cạn. Hoạn Thư đánh ghen phải để trả thù Thúy Kiều, chà đạp
lên cái nhân phẩm của người con gái đó, mà bà ta làm như thế để trả thù Thúc Sinh. Trong
truyện tác giả cũng có nhắc tới việc Hoạn Thư đã mở cửa cho Thúc Sinh đưa Kiều về ra mắt
nhưng Thúc Sinh sợ lại không dám đưa nàng về. Hoạn Thư là một con người có hiểu biết, có trí
tuệ và cách trả thù với người chồng bạc nghĩa không nông nổi, hồ đồ.
Ban đầu, trước những lời nói và thái độ của Thúy Kiều, Hoạn Thư như “hồn lạc, phách xiêu”,
nhưng với bản chất khôn ngoan của mình Hoạn Thư đã nhanh chóng trấn tĩnh lại để “liệu điều
kêu ca”. Những điều Hoạn Thư “kêu ca” thực chất là lí lẽ để Hoạn Thư tự gỡ tội cho mình hay
nói đúng hơn là đang tự biện minh cho mình. Trước hết, Hoạn Thư đã đưa ra tâm lí thường tình
của phụ nữ:
“Rằng: Tôi chút phận đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.”
Với lí lẽ này, sự đối lập giữa Thúy Kiều và Hoạn Thư đã bị xóa bỏ. Hoạn Thư khôn khéo đưa
Kiều từ vị thế đối lập trở thành người đồng cảnh, cùng chung “chút phận đàn bà”. Nếu Hoạn
Thư có tội thì cũng là do tâm lí chung của giới nữ: “Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”. Từ
“tội nhân”, Hoạn Thư đã lập luận để mình trở thành “nạn nhân” của chế độ đa thê.
Sau đó, Hoạn Thư kể lại “công” của mình đối với Kiều:
“Nghĩ cho khi gác viết kinh,
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.”
Vì là người hiền từ, nhân hậu dù đã bị Hoạn Thư hại cho ra nông nỗi này nhưng trước lời lẽ của
bà ta, Thúy Kiều có đôi chút băn khoăn, không biết nên trả thù nữa hay không hay là tha thứ
cho mụ ta.
“Tha ra, thì cũng may đời,
Làm ra, thì cũng ra người nhỏ nhen.”
Ta thấy Hoạn Thư là một con người có ăn có học, nó thể hiện qua cái cách đánh ghen và những
lời đối đáp có lý có tình với Kiều, nhưng vì tình yêu, vì sự bội bạc của người chồng nhu nhược,
nhút nhát đã khiến cho cả hai người đàn bà của anh ta đều đau khổ.
“Hỏi thế gian tình ái là chi
Mà lứa đôi thề nguyền sống chết”.
KIỀU
I. VÀI NÉT VỀ ĐẠI THI HÀO NGUYỄN DU VÀ TÁC PHẨM TRUYỆN KIỀU:
1. Tác giả:
- Nguyễn Du (1765 – 1820) tên chữ Hán là Tố Như, hiệu Thanh Thiên, là người làng Tiên
Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh.
- Với những trải nghiệm phong phú và nguồn tri thức dồi dào, am hiểu văn hóa, những quan sát
trực tiếp hiện thực xã hội với những mặt đen tối khi lưu lạc của mình ông đã để lại nhiều nhiều
tác phẩm nổi bật, có giá trị về nghệ thuật:
+ Chữ Hán có 3 tập, gồm 243 bài: Thanh Thiên thi tập, Bắc Hành tạp lục, Nam Trung tạp
ngâm.
+ 2 tác phẩm được viết bằng chữ Nôm: Văn chiêu hồn, Đoạn trường tân thanh (thường gọi là
Truyện Kiều)
2. Truyện Kiều:
a) Xuất xứ: Truyện được sáng tác dựa trên cuốn “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài
Nhân
b) Thể loại: Truyện Nôm (Truyện thơ Nôm)
c) Phương thức biểu đạt: Tự sự
d) Kết cấu: gồm 3 phần
+ Phần 1: Gặp gỡ và đính ước
+ Phần 2: Gia biến và lưu lạc
+ Phần 3: Đoàn tụ
e) Các giá trị lớn của Truyện Kiều:
- Giá trị hiện thực: Phản ánh sâu sắc, chân xác hiện thực xã hội đương thời.
- Giá trị nhân đạo: Bao trùm cả tác phẩm là tấm lòng yêu thương, là sự trân trọng vẻ đẹp giá trị
con người, cái nhìn đầy nhân văn của tác giả đối với người phụ nữ.
- Giá trị nghệ thuật: là một kiệt tác với bút pháp của một nghệ sĩ thiên tài trên tất cả các phương
diện của truyện thơ Nôm như: thể loại ngôn từ, kết cấu, hình tượng nhân vật (chính diện và
phản diện), miêu tả ngoại hình, bút pháp tả cảnh ngụ tình, các biện pháp tu từ (ẩn dụ, so sánh,
nhân hóa, hoán dụ, điệp từ, nói quá,…).
* Trong các giá trị nghệ thuật thì nghệ thuật miều tả đời sống nội tâm của các nhân vật
trong truyện Kiều rất đặc sắc và cũng chính là nội dung chính của dự án nghiên cứu này.
II. ĐỜI SỐNG NỘI TÂM CỦA CÁC NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN KIỀU:
* Tâm lí, nội tâm con người vốn là vũ trụ đầy bí mật. Người nghệ sĩ chỉ có thể khám phá
được đời sống nội tâm con người nếu thực sự thấu hiểu và đồng cảm với nhân vật của
mình.
1) Nhân vật Thúy Kiều:
Nhân vật Nguyễn Du thương yêu nhất trong Truyện Kiều và có lẽ trong suốt đời thơ ông là
Thuý Kiều - người con gái tài hoa mà bạc mệnh. Trong hoàn cảnh nào, nhà thơ cũng thấu
hiểu, đồng cảm với Kiều đến mức mọi diễn biến tâm lí của nàng đêu được nắm bắt và thể hiện
một cách tỉnh tế.
- Trong trích đoạn “Trao duyên”, để khắc họa tâm lí Thuý Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng thành
công lời đối thoại và độc thoại của nhân vật. Đoạn trích mở đầu bằng những lời Kiều nói với
Vân:
“Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.”
Nhà thơ đã rất tỉnh tế khi để Kiều nói là “cậy” mà không phải là “nhờ” vì “cậy” hàm ý tin chắc
người được nhờ nhất định sẽ nghe mình. Hai chữ mặc em chốt lại màn đạo đầu nhưng lại mang
hàm ý giao phó trách nhiệm. Kiều ý thức rất rõ trao duyên cho em là việc cần thiết, quan trọng.
Nàng không chắc Thuý Vân sẽ nhận lời nên mỗi từ Thuý Kiều nói ra đều được cân nhắc kĩ
càng. Không thấu hiểu, đồng cảm với nhân vật của mình, Nguyễn Du không thể viết những câu
thơ với những từ ngữ đắt giá như thế.
Khi phải trao cho Thuý Vân những kỉ vật của tình yêu, trong Kiều nỗi đau cuộn lên thành
những mâu thuẫn giằng xé:
“Chiếc vành với bức tờ mây, .
Duyên này thì giữ, vật này của chung”
Theo lẽ thường khi yêu, lứa đôi hay trao cho nhau những kỉ vật, vừa để kỉ niệm, vừa để làm vật
chứng cho tình yêu, nhắc nhở mỗi người hãy nhớ đến người kia. Vậy mà khi quyết định nhờ
Thúy Vân trả nghĩa cho người yêu, Thúy Kiều buộc phải trao lại em hai kỉ vật thiêng liêng đó.
Hình như trao đi rồi mà vẫn tiếc, vẫn xót xa quá nên nàng phải buông lời: “Duyên này thì giữ,
vật này của chung”. Duyên phải trao đi vì nàng không thể cùng chàng Kim trọn lời thể ước.
Nhưng trao đi không có nghĩa là trao hẳn mà chỉ là để cho em giữ. Hai chữ “của chung” diễn tả
sâu đậm nỗi tiếc xót, nỗi đau đớn và cả sự níu kéo, giữ phần trong nàng. Màn trao kỉ vật chỉ vẻn
vẹn được Nguyễn Du họa lại bằng hai câu thơ nhưng cũng chỉ cần thế thôi cũng đủ để thi nhân
khắc sâu tô đậm tình yêu sâu nặng Thúy Kiều dành cho Kim Trọng.
Thúy Kiều như quên mất sự có mặt của em khi nhắn nhủ chuyện tương lai mà tâm tưởng nàng
lại đắm đuối và những kỉ niệm của tình yêu, của đêm thể nguyễn thiêng liêng hôm nào:
“Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy so tơ phím này.”
Điều này càng chứng minh trong tâm hồn Kiều, những kỉ niệm đẹp đẽ với chàng Kim có sức
sống thật mãnh liệt. Gợi lại cảnh chàng Kim cho thêm hương vào lò và cảnh Thúy Kiều đàn
cho Kim Trọng nghe trong đêm thể nguyền. Nguyễn Du tài tình quá khi để mỗi kỉ niệm đã qua
thêm lần nữa khắc sâu yêu dấu vào lòng nàng. Càng hồi tưởng lại càng yêu, nhưng càng yêu lại
càng cảm thấy cuộc đời trống trải, vô nghĩa khi tình yêu vuột mất. Có lẽ vì thế Kiều liên tưởng
đến cái chết, một cái chết đây oan nghiệt sẽ đến với nàng trong ngày không xa:
“Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.”
Từ những nghĩ suy về một tương lai đầy u ám. Thì khi trở về hiện tại, Kiều lại phải đối diện với
nỗi đau đớn khôn xiết khi đành dứt tình với chàng Kim:
“Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!”
Kiều như quên hết xung quanh, quên rằng bên mình đang còn có Thúy Vân, nàng chỉ còn khóc,
khóc thổn thức cho mình, cho mối tình đầu ngắn ngủi. Để rồi sau cùng, như oan uất quá, như
khao khát lắm một người để sẻ chia, để được thấu hiểu, Kiều đã cất tiếng kêu chàng Kim:
“Trăm ngàn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi! .
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”
“Tình quân”, “Kim lang”, “chàng”, tất cả những tiếng ấy đều là lời Thúy Kiều gọi Kim Trọng.
Dẫu là “tình quân”, “Kim lang” hay “chàng”, tất cả đều đong đầy yêu thương, xót xa, đau
đớn… Riêng từ “Kim lang” được điệp thêm một lần nữa và đi liền sau các thán từ ôi, hỡi đây
thê thiết, điều đó chứng tỏ trong tâm tưởng, Thuý Kiều đã coi Kim Trọng là chồng. Tiếng gọi,
tiếng khóc cất lên vừa tiếc nuối vì tình lứa đôi lỡ dở vừa hàm chứa nỗi đau đớn khôn xiết trong
nàng.
=> Bằng cách xây dựng ngôn ngữ đối thoại và độc thoại, “Trao duyên” đã thể hiện thành công
diễn biến tâm lí trong nhân vật Thuý Kiều
- Trong trích đoạn "Kiều ở lầu Ngưng Bích" đoạn trích dựng lên tâm trạng cô đơn, buồn tủi và
tấm lòng thủy chung son sắt với người yêu, hiếu thảo với cha mẹ của Thúy Kiều khi đang phải
một mình bơ vơ, lạc lõng nơi xứ lạ người xa.
Sáu câu thơ đầu là tâm trạng cô đơn, bất hạnh, đáng thương và tội nghiệp của Kiều trước thiên
nhiên ở lầu Ngưng Bích. Ngay câu thơ mở đầu: "Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân", Nguyễn
Du đã nêu bật lên cảnh ngộ đáng thương của Kiều. Lầu Ngưng Bích như là nhà tù giam lỏng
cuộc đời Kiều, nó cho thấy tình cảnh đáng thương, xót xa mà nàng Kiều phải chịu đựng.
Những câu thơ tiếp theo, tái hiện quang cảnh xung quanh lầu Ngưng Bích rộng lớn, mênh mông
được nhìn dưới con mắt đầy tâm trạng của Kiều:
“Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.”
Nguyễn Du đã đặt Kiều trong một cảnh ngộ rất đặc biệt: một mình, cô đơn, trơ trọi, bẽ bàng
giữa một không gian rộng lớn, mênh mông: "bốn bề bát ngát". Đứng trên lầu Kiều chỉ thấy
"non xa", "tấm trăng gần”, khoảng không trống vắng, xa xa là những con sóng lượn, những bãi
cát dài phẳng lặng nối tiếp nhau. Ẩn sau ánh mắt nhìn "xa trông" như đang trông mong, ngóng
chờ ấy là niềm mong mỏi, khát khao, đợi chờ một tương lai hạnh phúc phía trước nhưng trước
không gian trống trải, hoang vắng ấy thì chắc chắn chỉ làm cho Kiều trở nên thất vọng, cô đơn
hơn mà thôi.
“Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.”
Tính từ “bẽ bàng” gợi lên sự xấu hổ và tủi thẹn của Kiều khi nghĩ đến thân phận và duyên phận
của mình. Có lẽ, nàng cảm thấy xấu hổ là vì bị Mã Giám Sinh lừa vào lầu xanh, nàng cảm thấy
tủi thẹn là vì cảm thấy không còn xứng đáng với tình cảm mà Kim Trọng mong chờ. Cụm từ
“mây sớm đèn khuya” gợi nên vòng tuần hoàn thời gian khép kín và ẩn sau đó là sự cô đơn,
đơn điệu, nhàm chán khi mà ở đó Kiều chỉ có một thân một mình đối diện với chính mình, sớm
thì làm bạn với mây, tối thì lại chỉ biết trò chuyện với bóng đèn.
Tám câu thơ tiếp là nỗi niềm thương nhớ Kim Trọng và cha mẹ của Kiều. Để diễn tả nỗi nhớ
của Kiều dành cho chàng Kim, tác giả đã dùng động từ “Tưởng”. Tưởng là nhớ tới mức hình
dung ra Kim Trọng đang ở trước mắt trò chuyện với Kiều. Kiều nhớ đến đêm chăng thề
nguyện, hai người cùng uống chén rượu thủy chung, hứa sẽ bên nhau trọn đời. Nhưng bây giờ
nàng đang phải lạc lõng nơi đất khách, nên nàng tưởng Kim Trọng đang đợi tin tức của mình,
còn mình thì bặt vô âm tín:
“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sướng luống những rày trông mai chờ”
Rồi nàng băn khoăn tự hỏi:
“Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.”
Câu thơ như một lời khẳng định về tấm lòng son sắt, thủy chung của Kiều đối với Kim Trọng
dù trên bước đường đời có phải trải qua bao sóng gió thì tấm lòng son ấy mãi vẹn nguyên.
Trong nỗi nhớ chằng Kim, Thúy Kiều không chỉ bộc lộ nỗi niềm mong ngóng khắc khoải mà
còn bộc lộ cả nỗi đau đớn, cùng cực, tủi hổ đến xe tâm can. Qua đó cho thấy được tấm lòng
thủy chung, son sắt của Kiều dành cho Kim Trọng.
Sau nỗi nhớ người yêu, Kiều tiếp tục nhớ tới cha mẹ - người thân yêu ruột thịt của mình:
“Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.”
Khi diễn tả tấm lòng hiếu lễ với cha mẹ của Kiều, tác giả sử dụng tính từ “xót”. Xót nghĩa là
thương, thương đến mức xót xa trong lòng. Không xót xa sao được khi một đứa con hiếu thảo
như Kiều lại cứ nghĩ đến hình ảnh cha mẹ đang tựa cửa ngóng chờ con trở về. Thành ngữ “quạt
nồng ấp lạnh” và điển tích Sân Lai, gốc tử càng nổi bật lên tấm lòng hiếu thuận của Thúy Kiều.
=> Nghệ thuật miêu tả nội tâm đạt đến sự điêu luyện của tác giả (độc thoại nội tâm, sử dụng
thành công các điển tích, điển cố, thành ngữ dân gian,..ẩn dụ “tấm son”, “gốc tử”)
Càng nhớ người yêu, càng nhớ cha mẹ, Kiều càng đau xót cho số phận và hoàn cảnh buồn khổ
của mình. Tâm trạng ấy của nàng tập trung vào tám câu thơ cuối đoạn trích. Cảnh vật được
miêu tả qua tâm trạng, tâm trạng nhuốm lên cảnh vật, cảnh vật thể hiện tâm trạng, sắc thái của
bức tranh thiên nhiên thể hiện từng trạng thái tình cảm của Thuý Kiều.
“Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu?”
Điệp ngữ “buồn trông” được lặp đi lặp lại bốn lần. Đây là điệp ngữ liên hoàn và đồng thời cũng
là điệp khúc của tâm trạng. Kiều buồn nên Kiều mới trông cảnh vật, khác với đoạn trước, Kiều
trông mới thấy buồn. Ở đây, vì buồn nên trông, mà càng trông thì Kiều lại càng buồn. Nỗi buồn
cứ thế điệp đi điệp lại dâng lên thành lớp lớp sóng trào, cứ cuộn xoáy trong tâm khảm của Kiều
mà trở thành gánh nặng tâm tư.
“Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”
Ngước mắt trông về phía xa của cửa biển Kiều chỉ càng cảm thấy rộng trống, cơ đơn, buồn tủi.
Kiều quay trở về nhìn xuống mặt đất quanh mình để tìm kiếm sự sống của cảnh vật xung quanh
thì lại chỉ thấy những đám cỏ xanh héo úa, lụi tàn. Hình ảnh “nội cỏ rầu rầu” là một hình ảnh
nhân hóa, biểu hiện tâm trạng của con người. Lòng người buồn nên nhìn đâu cũng thấy buồn;
nỗi buồn của Kiều như thấm vào cảnh vật khiến cho cảnh vật cũng nhuốm màu tâm trạng
“Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.”
Âm thanh dữ dội của gió, của sóng; gió làm cho mặt biển tung lên những con sóng ồ ạt đập vào
bờ mà phát ra tiếng kêu. Nhưng quan trọng, tiếng sóng ấy không đơn thuần là những con sóng
thực ở ngoài biển khơi mà đó còn là con sóng lòng của tâm trạng. Điệp khúc “buồn trông” ở
những câu thơ trên kết đọng, tích tụ rồi dồn đẩy xuống câu thơ cuối khiến cho nỗi buồn ngày
càng trở nên chồng chất như lớp lớp sóng trào. Tiếng sóng “ầm ầm” dữ dội ấy còn là hình ảnh
ẩn dụ cho cuộc đời phong ba bão táp đã và đang đổ ập xuống đời Kiều, đổ ập xuống đôi vai gầy
yếu của một cô gái trẻ đáng thương và tội nghiệp. Lúc này Kiều không chỉ buồn mà còn lo lắng,
sợ hãi như đang rơi vào vực thẳm một cách bất lực.
=> Qua đoạn trích chúng ta thấy được tâm trạng, cảnh ngộ cô đơn, đáng thương, tội nghiệp và
tấm lòng thủy chung son sắt với người yêu, hiếu thảo với cha mẹ của nàng Kiều, một con người
tài hoa mà bạc mệnh!
- Trong trích đoạn “Nỗi thương mình”, Nguyễn Du không lặp lại cách cũ để miêu tả tâm lí cho
chính nhân vật đó. Vẫn trên chất liệu ngôn từ, nhà thơ đã sử dụng các biện pháp nghệ thuật điệp
từ, cụm từ đan xen, lời nửa trực tiếp, hình thức đối để làm nổi bật tâm trạng Thuý Kiều trong
tình cảnh trớ trêu:
“Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật mình mình lại thương mình xót xo.”
Lời thơ là lời giãi bày, tâm sự bày tỏ tâm trạng, nỗi niềm của Kiều. Tỉnh dậy khi đêm tàn canh,
Kiều giật mình đối diện với chính mình. Giật mình vừa là sự tự ý thức về nhân phẩm, vừa là nỗi
thương thân xót phân.
“Khi sao phong gấm rủ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!
Mặc người mưa Sở, mây Tần,
Nghĩ mình nào biết có xuân là đì.”
Khi sao…. Giờ sao…, sự đối lập giữa thực tại và quá khứ thể hiện tiếc thương thân mình bị vùi
dập và nỗi đau về sự thay thân đổi phận. Kiều càng ngơ ngác, đau xót, không hiểu vì sao có thể
thay đổi thân phận nhanh như vậy. Cụm từ “bướm chán ong chường” chỉ tâm trạng chán
chường, ghê sợ chính bản thân của Kiểu. Trong cái kiếp sống làm vợ khắp người ta, Kiều chỉ
thấy nhục nhã, trơ lì vô cảm và chán ngán. Giữa cản sống xô bồ ở lầu xanh, Kiều vẫn còn giữ
nguyên một tấm lòng trinh bạch. Sau sự tự ý thức sâu sắc về cảnh ngộ, thân phận ê chế của
mình, Kiều nhận thấy mình lạc lõng, cô đơn và đau khổ đến tột đỉnh giữa chốn nhơ nhớp:
Đòi phen gió tựa hoa bê,
Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu.
Hai câu thơ tả cảnh thiên nhiên, tả cảnh Kiều cùng khách xem hoa hóng gió trong đêm trăng,
đêm tuyết… Kiều vốn là cô gái có đời sống nội tâm phong phú nhưng dẫu có yêu cảnh sắc
thiên nhiên đến mức nào, thì chốn lầu xanh, nàng cũng không thể toàn tâm toàn trí mà hưởng
thú vui. Vậy nên, việc ngắm cảnh đẹp cùng khách lúc này thực ra chỉ là sự giả tạo, nàng thờ ơ,
hờ hững, dửng dưng với tất cả cảnh vật xung quanh.
Vốn có tài năng cầm, kì, thi, hoạ nhưng ở chốn lầu xanh, Kiều cũng chỉ cố gắng tỏ ra vui một
cách gượng ép vì không thể tri âm cùng ai.
Vui là vui gượng kẻo là,
Ai tri âm đó mặn mà với di?
Nỗi thương mình đã trở thành một trong những đoạn tuyệt bút của Truyện Kiều khi dựng lại
một cách chân xác, xúc động tâm lí của Thúy Kiều trong hoàn cảnh trớ trêu, éo le, bất hạnh.
2) Nhân vật Kim Trọng:
Kim Trọng là một trong ba nhân vật đẹp nhất trong "Truyện Kiều" thể hiện cảm hứng nhân văn
về tình yêu tự do giữa đôi lứa "người quốc sắc, kẻ thiên tài". Kiều gặp Kim Trọng, Kiều – Kim.
Mở đầu là tiếng nhạc vàng, khúc nhạc của tình yêu, ánh sáng của tình yêu, ở đâu đó, nghe rõ
dần; tiếng nhạc vàng làm rung động và xôn xao cảnh vật, lòng người:
"Dùng dằng nửa ở nửa về,
Nhạc vàng đâu đó tiếng nghe gần gần"
Cảnh vật như sáng bừng lên; cỏ cây, không gian có một sự hóa thân kỳ diệu, trở nên diễm lệ
ngào ngạt sắc hương theo mỗi bước đi của thi sĩ,:
"Hài văn lần bước dặm xanh
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao"
Tình yêu của đôi lứa thanh tân nảy nở từ mau xanh ấy trong sự giao hòa của cây quỳnh cành
dao.
Kim Trọng với Vương Quan là bạn học thân thiết. Cả hai đều đã "trộm dấu thầm yêu" nàng
Kiều đã lâu mà chưa một lần hội ngộ. Hội Đạp thanh này đối với chàng Kim là dịp "thỏa lòng
tìm hoa". Một cái "nhác thấy" mà đã "mặn mà" biết bao:
"Bóng hồng nhác thấy nẻo xa,
Xuân lan, thu cúc mặn mà cả hai"
Hai trái tim đa tình, đa cảm đã có một tiếng nói chung. Thế nhưng vẫn dịu dàng, e ấp và kín
đáo:
"Tình trong như đã, mặt ngoài còn e"
Người đẹp đã làm cho chàng Kim choáng váng:
"Chập chờn cơn tỉnh cơn mê"
Trước tiếng sét ái tình. Kim Trọng vốn hào hoa, phong nhã đã làm chủ được tâm hồn trong một
cuộc tình trường:
"Rốn ngồi chẳng tiện, dứt về chỉn khôn"
Cuộc chia li không thể không diễn ra. Khoảnh khắc chia li của lứa đôi trong buổi đầu gặp gỡ
mang theo bao tình lưu luyến. Hai vế tiểu đối mà ra hai phía chân trời, tình lưu luyến mến
thương kéo dài vô tận:
"Khách đà lên ngựa người còn ghé theo"
Sau khi gặp chị em Kiều, Kim Trọng về nhà thương nhớ, nỗi nhớ không làm sao quên được.
Một ngày không được gặp Kiều thời gian dài chẳng khác gì ba năm mong đợi. Kim Trọng hình
dung hình ảnh Kiều ngồi trong cửa sổ nhà nàng mà lòng mình sầu nhớ miên man suốt cả một
tuần trăng (một tháng), đèn cạn dầu tắt lụi mà lòng vẫn còn vấn vương.
“Bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao.
Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao,
Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng.
Buồng văn hơi giá như đồng,
Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan.”
Lúc Kim Trọng Đi Tìm Kiều nếu chúng ta nhìn nhân vật Kim Trọng trong tinh thần mới, chúng
ta sẽ thấy những đoạn thơ có Kim Trọng, đặc biệt rất nhiều câu thơ trong phần cuối của Truyện
Kiều, thường phức tạp, ảo diệu và có một chất lượng triết lí rất sâu.
"Nỗi nàng nhớ đến bao giờ,
Tuôn châu đòi trận vò tơ trăm vòng.
Có khi vắng vẻ thư phòng,
Đốt lò hương giở phím đồng ngày xưa.
Bẽ bài rủ rỉ tiếng tơ,
Trầm bay nhạt khói gió đưa lay rèm.
Dường như bên nóc bên thềm,
Tiếng Kiều đồng vọng bóng xiêm mơ màng,
Bởi lòng tạc đá ghi vàng,
Tưởng nàng nên lại thấy nàng về đây."
3) Nhân vật Từ Hải:
Cuộc chia tay giữa Thúy Kiều và Từ Hải sau nửa năm chung sống mặn nồng. Từ Hải lên đường
thể hiện quyết tâm mưu đồ việc lớn của người anh hùng có hùng tâm tráng trí cao cả, lớn lao.
Trước đoạn trích này, ngay từ khi Từ Hải xuất hiện, Nguyễn Du đã cho người đọc thấy hình
ảnh người anh hùng ngay từ vẻ đẹp ngoại hình:
“Râu hùm hàm én mày ngài
Vai năm thước rộng thân mười thước cao
Hay vẻ đẹp ở phương diện tài năng:
Đường đường một đấng anh hào
Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài.”
Để làm bật vẻ đẹp đó, những câu thơ đã vẽ lên hình ảnh người anh hùng với khát khao, hoài
bão lớn lao, cao đẹp:
“Nửa năm hương lửa đương nồng
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương
Trông vời trời bể mênh mang
Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong”.
Giữa lúc cuộc sống của Từ Hải và Thúy Kiều đang ở độ đằm thắm, mặn nồng nhất thì Từ Hải
quyết định dứt áo lên đường thực hiện nguyện vọng lớn lao. Theo lẽ thường, những người đàn
ông sẽ khó có đủ quyết tâm để rời bỏ hạnh phúc riêng tư. Từ Hải lại là một người hoàn toàn
khác, mặc dù đang trong giai đoạn hạnh phúc nhất, nhưng sâu thẳm trong trái tim Từ Hải khát
khao, hoài bão, nguyện vọng đó vẫn luôn âm ỉ cháy bỏng, chỉ chờ thời cơ thích hợp để thực
hiện. Thái độ lên đường của Từ Hải hết sức dứt khoát, hành động “thoắt” cho thấy sự thay đổi
nhanh chóng trong con người Từ Hải.
Nguyễn Du đã khắc họa hình ảnh của một người anh hùng lí tưởng, phi thường, có ước mơ, có
hoài bão cao cả, có chí lớn ôm trọn của trời đất. Nguyễn Du đã rất khéo léo khi xây dựng hình
ảnh người anh hùng Từ Hải qua không gian rộng lớn, qua tư thế, hành động mạnh mẽ, dứt
khoát. Qua cuộc đối thoại với Thúy Kiều vẻ đẹp của người anh hùng Từ Hải càng được thể hiện
rõ nét hơn. Trước hết những lời đối thoại của Từ Hải đã cho thấy tình cảm chàng dành cho
Thúy Kiều, chàng ý thức được sự lo lắng, băn khoăn, hiểu được ý định xin được đi theo của
nàng Kiều nên đã nói chuyện với nàng để giải tỏa nỗi băn khoăn ấy. Chàng còn khẳng định tình
cảm tri ân tri kỷ giữa hai người, rồi trách móc nàng Kiều vẫn chưa thoát khỏi chuyện nữ nhi
thường tình:
Từ rằng: Tâm phúc tương tri
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình.
Từ Hải một người có ý chí, quyết tâm, ôm mộng lớn bao trùm thiên hạ bởi vậy vợ chàng, tri âm
tri kỷ của chàng cũng phải là người phụ nữ mạnh mẽ, hiểu chuyện, không nên có những thái độ
giống như những người phụ nữ bình thường khác. Ngoài ra, để làm Thúy Kiều yên tâm, chàng
còn khẳng định, đưa ra lời hứa hẹn:
Bao giờ mười vạn tinh binh
Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp trời
Làm cho rõ mặt phi thường
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.
Câu thơ là lời khẳng định tình cảm sâu sắc Từ Hải dành cho Thúy Kiều, đó làm tấm lòng trân
trọng, luôn lo lắng cho Thúy Kiều của Từ Hải. Đồng thời Từ Hải cũng phân tích để Thúy Kiều
hiểu được việc nàng muốn đi theo là không phù hợp: Bằng nay bốn bể không nhà/ Theo càng
thêm bận biết là đi đâu. Để rồi một lần nữa Từ hứa hẹn chắc chắn một năm sau sẽ trở về đón
nàng trong vinh quang. Đằng sau những lời nói của Từ Hải ta còn thấy được khát vọng lớn lao
của người anh hùng: muốn có một đội quân tinh nhuệ, hùng hậu, đủ sức làm rung chuyển thiên
hạ. Bày tỏ mục đích ra đi vì sự nghiệp lớn của mình là để khẳng định bản lĩnh nam nhi. Khát
vọng lớn lao của người anh hùng Từ Hải thể hiện qua thái độ dứt khoát, kiên quyết dẹp bỏ tình
riêng hết lòng vì sự nghiệp lớn.
Khát vọng lớn lao của Từ Hải còn được thể hiện ở lời khẳng định chỉ trong vòng một năm ngắn
ngủi sẽ hoàn thành sự nghiệp lớn để trở về. Đối với một người nam nhi làm sự nghiệp lớn, gây
dựng cơ đồ chỉ trong một năm quả là quá ngắn ngủi. Qua lớn khẳng định đó cho thấy sự bản
lĩnh, tự tin của Từ Hải vào tài năng của mình. Thông qua lời đối thoại với Thúy Kiều đã khắc
họa rõ nét, chân thực những khát vọng lớn lao, cao cả, mạnh mẽ và cả tình yêu tha thiết Từ Hải
dành cho Thúy Kiều.
=> Nguyễn Du đã có nhiều sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật miêu tả. Nhờ đó, hình tượng nhân
vật Từ Hải đã đi vào lòng mỗi người đọc với những ấn tượng đặc biệt, không thể lẫn với các
hình tượng anh hùng khác. Chính lòng yêu mến và tài năng nghệ thuật đã giúp Nguyễn Du có
được thành công lớn khi xây dựng hình tượng nhân vật Từ Hải
4) Nhân vật Hoạn Thư:
Hoạn Thư là một người có ăn có học, bà ta đánh ghen đều có tính toán, sắp xếp đâu ra đấy hết,
chứng tỏ bà là một người thông minh, xảo quyệt. Qua những lời nói đối đáp với Kiều, đủ hiểu
bà ta là người không phải nông cạn. Hoạn Thư đánh ghen phải để trả thù Thúy Kiều, chà đạp
lên cái nhân phẩm của người con gái đó, mà bà ta làm như thế để trả thù Thúc Sinh. Trong
truyện tác giả cũng có nhắc tới việc Hoạn Thư đã mở cửa cho Thúc Sinh đưa Kiều về ra mắt
nhưng Thúc Sinh sợ lại không dám đưa nàng về. Hoạn Thư là một con người có hiểu biết, có trí
tuệ và cách trả thù với người chồng bạc nghĩa không nông nổi, hồ đồ.
Ban đầu, trước những lời nói và thái độ của Thúy Kiều, Hoạn Thư như “hồn lạc, phách xiêu”,
nhưng với bản chất khôn ngoan của mình Hoạn Thư đã nhanh chóng trấn tĩnh lại để “liệu điều
kêu ca”. Những điều Hoạn Thư “kêu ca” thực chất là lí lẽ để Hoạn Thư tự gỡ tội cho mình hay
nói đúng hơn là đang tự biện minh cho mình. Trước hết, Hoạn Thư đã đưa ra tâm lí thường tình
của phụ nữ:
“Rằng: Tôi chút phận đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.”
Với lí lẽ này, sự đối lập giữa Thúy Kiều và Hoạn Thư đã bị xóa bỏ. Hoạn Thư khôn khéo đưa
Kiều từ vị thế đối lập trở thành người đồng cảnh, cùng chung “chút phận đàn bà”. Nếu Hoạn
Thư có tội thì cũng là do tâm lí chung của giới nữ: “Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”. Từ
“tội nhân”, Hoạn Thư đã lập luận để mình trở thành “nạn nhân” của chế độ đa thê.
Sau đó, Hoạn Thư kể lại “công” của mình đối với Kiều:
“Nghĩ cho khi gác viết kinh,
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.”
Vì là người hiền từ, nhân hậu dù đã bị Hoạn Thư hại cho ra nông nỗi này nhưng trước lời lẽ của
bà ta, Thúy Kiều có đôi chút băn khoăn, không biết nên trả thù nữa hay không hay là tha thứ
cho mụ ta.
“Tha ra, thì cũng may đời,
Làm ra, thì cũng ra người nhỏ nhen.”
Ta thấy Hoạn Thư là một con người có ăn có học, nó thể hiện qua cái cách đánh ghen và những
lời đối đáp có lý có tình với Kiều, nhưng vì tình yêu, vì sự bội bạc của người chồng nhu nhược,
nhút nhát đã khiến cho cả hai người đàn bà của anh ta đều đau khổ.
“Hỏi thế gian tình ái là chi
Mà lứa đôi thề nguyền sống chết”.
 








Các ý kiến mới nhất