Tìm kiếm Giáo án
Giáo án học kì 1

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: BẢO NAM
Ngày gửi: 01h:07' 12-06-2021
Dung lượng: 428.0 KB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: BẢO NAM
Ngày gửi: 01h:07' 12-06-2021
Dung lượng: 428.0 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Tuần ......: Bài...... - Tiết ......: Đọc – Hiểu văn bản
CỔNG TRƯỜNG MỞ RA
- Lý Lan -
I. Tìm hiểu chung
1) Tác giả
- Lý Lan sinh năm 1957.
- Bà là một nhà văn, nhà thơ và dịch giả.
- Quê hương: Bà sinh ra tại Thủ Dầu 1, tỉnh Bình Dương.
- Một số tác phẩm sáng tác như: Chàng nghệ sĩ (truyện dài đầu tay), Cỏ hát (tập truyện ngắn đầu tay). Cổng trường mở ra được in trong SGK Ngữ Văn 7, tập 1
2) Tác phẩm
a. Hoàn cảnh sáng tác
Cổng trường mở ra được in trên báo Tuổi trẻ, số 166 ngày 1 tháng 9 năm 2000.
b. Tóm tắt
Vào đêm trước ngày khai trường của con, mẹ không ngủ được. Còn con thì háo hức nhưng mẹ chỉ dỗ một lát là con đã ngủ ngon lành. Khi con đã ngủ say, mẹ nhớ lại ngày đầu tiên con đi học lúc con mới ba tuổi. Nhìn con, mẹ cũng nhớ lại tuổi thơ của mình với buổi khai trường đầu tiên khi được bà ngoại đưa tới trường. Mẹ nhắc đến câu chuyện ở Nhật, người ta coi ngày lễ khai trường là ngày lễ của toàn xã hội. Người lớn thường nghỉ việc để đưa trẻ con đến trường còn đường phố thì được thu dọn sạch sẽ và trang hoàng lộng lẫy. Cuối cùng, mẹ tưởng tưởng về hình ảnh ngày mai, mẹ sẽ đưa con đến trường cầm tay con dắt qua cánh cổng rồi buông tau mà nói: “Đi đi con, hãy can đảm lên, thế giới này là của con, bước qua cánh cổng trường là một thế giới kì diệu sẽ mở ra”.
c. Bố cục
Gồm 2 phần:
• Phần 1: Từ đầu đến “mẹ vừa bước vào”. Diễn biến tâm trạng của người mẹ đêm trước ngày khai trường của con.
• Phần 2. Còn lại. Suy nghĩ của mẹ về vai trò của giáo dục.
II. Đọc - hiểu văn bản
1. Diễn biến tâm trạng của người mẹ đêm trước ngày khai trường của con
- Hành động của con:
• Háo hức như trước những chuyến đi chơi xa vì ngày mai vào lớp 1.
• Tranh dọn dẹp đồ chơi với mẹ.
• Chuẩn bị đầy đủ quần áo mới, giày nón mới, cặp sách mới, tập vở mới, mọi thứ đã sẵn sàng.
• Không có mối bận tâm nào khác ngoài ngày mai thức dậy cho kịp giờ.
• Giấc ngủ đến với con dễ dàng.
=> Con là một đứa trẻ hồn nhiên vô tư nhưng cũng ý thức được trách nhiệm khi bắt đầu vào học lớp Một.
- Diễn biến tâm trạng của mẹ:
• Không tập trung làm được một việc gì cả.
• Mẹ dặn mình phải đi ngủ sớm nhưng lại trằn trọc không ngủ được.
• Nhớ lại ngày đầu tiên con đi học hồi ba tuổi đã biết thế nào là trường, lớp, thầy, bạn. Cả ngôi trường mới cũng đã quen với thầy cô và bạn bè mới.
• Mẹ nhận ra không phải vì lo lắng cho con đến nỗi không ngủ được.
• Tin tưởng rằng con đã lớn và sự chuẩn bị chu đáo của con trước ngày khai trường.
• Nhớ lại kỉ niệm về ngày khai trường đầu tiên của chính mình.
• Cảm giác nôn nao, hồi hộp của ngày hôm ấy như vẫn còn y nguyên khi cùng bà ngoại đến trường.
=> Mẹ luôn yêu thương và dành cho con sự quan tâm, tin tưởng. Sự kiện ngày khai trường đầu tiên khi con vào lớp Một đã gợi lại trong mẹ kỉ niệm về thời thơ ấu của người mẹ. Ngày đầu tiên khai trường với những hồi hộp và rạo rực.
2. Suy nghĩ của mẹ về vai trò của giáo dục
- Người mẹ nhớ đến câu chuyện ở Nhật:
• Ngày khai trường là một ngày lễ trọng đại của toàn xã hội. Người lớn nghỉ làm để đưa trẻ con đến trường, đường phố được dọn dẹp sạch sẽ và trang trí tươi vui.
• Các quan chức nhà nước vào buổi sáng ngày khai trường chia nhau đến dự lễ khai trường ở khắp các trường học không chỉ để thăm hỏi mà còn xem xét để kịp thời điều chỉnh chính sách giáo dục.
=> Tầm quan trọng của giáo dục: ảnh hưởng đến một thế hệ mai sau, sai một li có thể đi một dặm.
- Lời nhắn nhủ của mẹ: “Đi đi con, hãy can đảm lên, thế giới này là của con, bước qua cánh cổng trường là một thế giới kì diệu sẽ mở ra”.
=> Lời nhắn nhủ thể hiện niềm tin tưởng và lạc quan vào hành trình của con trong suốt những năm tháng sau này.
III. Tổng kết
.-. Giá trị nội dung
“Cổng trường mở ra” giống như những dòng nhật kí tâm tình nhỏ nhẹ và sâu lắng. Tác phẩm giúp người đọc hiểu được tấm lòng yêu thương của người mẹ dành cho đứa con và khẳng định vai trò to lớn của nhà trường.
.-. Giá trị nghệ thuật
- Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình.
- Ngôn ngữ giàu hình ảnh.
Bổ xung: bảng so sánh tâm trạng me-con
Tâm trạng
Mẹ
Con
Thao thức, không ngủ đươc, suy nghĩ triền miên
Thanh thản, nhẹ nhàng, vô tư
- Giấc ngủ đến với con dễ dàng . Qua đó thể hiện tâm trạng : nhẹ nhàng, thanh thản, vô tư của con.
- Con háo hức cảm nhận được sự quan trọng của ngày khai trường.
- Con thường háo hức mỗi khi được đi chơi xa đến nỗi lên giường mà không sao nằm yên được. Và mẹ biết đêm nay con cũng có những háo hức như vậy. Hơn nữa sự chuẩn bị sẵn sàng cho ngày đầu tiên vào lớp 1 đã khiến con cảm nhận được sự quan trọng cuả ngày khai truờng. Và con đã ý thức được "ngày mai phải thức dậy cho kịp giờ".
Tuần ......: Bài 1 - Tiết ......: Đọc – Hiểu văn bản:
MẸ TÔI
Ét-môn-đô đơ A-mi-xi
I. Tìm hiểu chung
1) Tác giả
- Ét-môn-đô đơ A-mi-xi (1846 - 1908) là nhà văn người I-ta-li-a.
- Ông là tác giả của những cuốn sách như: Cuộc đời của các chiến binh (tập truyện ngắn, 1868), Cuốn truyện của người thầy (1890), Giữa trường và nhà (tập truyện ngắn 1892)...
- Ông được biết đến với tác phẩm dành cho thiếu nhi nổi tiếng khắp thế giới: Những tấm lòng cao cả (1886).
2) Tác phẩm
1. Hoàn cảnh sáng tác
Văn bản “Mẹ tôi” trong SGK được rút ra từ tập truyện “Những tấm lòng cao cả” sáng tác năm 1886.
2. Tóm tắt
En-ri-cô đã có thái độ vô lễ với mẹ khi cô giáo đến thăm khiến cho bố rất phiền lòng. Chính vì vậy, bố đã viết thư cho em để bày tỏ thái độ và khuyên nhủ con. Bố cũng kể lại những việc làm, sự hy sinh và tình cảm của mẹ dành cho con. Cuối cùng là lời yêu thương và hy vọng En-ri-cô không tái phạm lại lỗi lầm.
3. Bố cục
Gồm 2 phần:
• Phần 1: Từ đầu đến “xúc động vô cùng”. Lời bộc bạch của En-ri-cô khi nhận được thư của bố.
• Phần 2: Còn lại. Nội dung bức thư: Thái độ và lời khuyên nhủ của người bố dành cho En-ri-cô trước hành động thiếu lễ độ với mẹ.
III. Đọc - hiểu văn bản
1. Lời bộc bạch của En-ri-cô khi nhận được thư của bố
Bức thư được mở đầu một cách trực tiếp:
- Lý do viết bức thư:
• “Bố để ý là sáng nay, lúc cô giáo đến thăm, khi nói với mẹ, tôi có nhỡ thốt ra một lời thiếu lễ độ”.
• Để cảnh cáo En-ri-cô, người bố đã viết bức thư.
- Thái độ của En-ri-cô khi nhận thư: xúc động vô cùng.
=> Bức thư giống như “một món quà” về bài học ứng xử nhẹ nhàng mà sâu sắc dành cho En-ri-cô.
2. Nội dung bức thư
- Thái độ của bố trước hành động của con:
• Sự hỗ lão của con như một nhát dao đâm vào tim bố vậy.
• Tức giận khi nhớ lại hành động của con.
• Ngạc nhiên về thái độ của con: “Con mà lại xúc phạm đến mẹ con ư?”
- Hình ảnh người mẹ của En-ri-cô qua lời kể của bố:
• Thức suốt đêm, cúi mình trên chiếc nôi trông chừng con.
• Sẵn sàng bỏ một năm hạnh phúc để tránh cho con một giờ đau đớn.
• Có thể đi ăn xin để nuôi con, có thể hy sinh tính mạng để cứu sống con.
=> Đó là một người mẹ vĩ đại với tình yêu thương con vô bờ bến.
- Tưởng tượng về tương lai:
• Khi đã khôn lớn trưởng thành, chắc chắn sẽ có lúc con mong ước được nghe tiếng nói của mẹ, được mẹ ôm vào lòng.
• Con sẽ cay đắng khi nhớ lại day dứt khi nhớ lại hành động ngày hôm nay.
=> Khẳng định vai trò của gia đình: Tình yêu thương, kính trọng cha mẹ là tình cảm thiêng liêng hơn cả.
- Lời khuyên răn của bố:
• “Trước mặt cô giáo con đã thiếu lễ độ với mẹ. Việc như thế không bao giờ được tái phạm nữa”.
• “Từ nay con không được thốt ra một lời nói nặng với mẹ.
• Yêu cầu con phải xin lỗi mẹ.
• “Con hãy cầu xin mẹ hôn con, để cho chiếc hôn ấy xóa đi cái dấu vết vong ân bội nghĩa” .
=> Một lời khuyên nhủ quyết liệt nhưng thuyết phục, không gây cảm giác nặng nề, ép buộc.
3. Ý nghĩa của bức thư
- Đề cao vai trò của tình cảm gia đình.
- Khuyên nhủ con người phải biết kính trọng và yêu thương cha mẹ.
III. Tổng kết.
.-. Giá trị nội dung
Văn bản đề cao giá trị của tình cảm gia đình, nhất là tình cảm kính trọng yêu thương dành cho cha mẹ.
.-. Giá trị nghệ thuật
- Văn bản được viết dưới dạng một bức thư giúp người viết dễ dàng bộc lộ cảm xúc.
- Giọng văn nhẹ nhàng nhưng cũng mạnh mẽ góp phần thể hiện thái độ của người viết.
Tuần ......: Bài 1 - Tiết ......: Tiếng Việt:
TỪ GHÉP
I. Các loại từ ghép
1.
Trong các từ ghép bà ngoại, thơm phức ở những ví dụ trong SGK:
- Tiếng chính là: bà, tiếng phụ là: ngoại.
- Tiếng chính là: thơm, tiếng phụ là: phức.
- Nhận xét: Tiếng chính thường đứng trước tiếng phụ.
2. Các tiếng trong hai từ ghép quần áo, trầm bổng ở những ví dụ trong SGK (trích văn bản Cổng trường mở ra) có phân ra tiếng chính, tiếng phụ không?
Gợi ý: Các tiếng quần, áo hay trầm, bổng không phân ra tiếng chính, tiếng phụ.
=> Tổng kết:
- Từ ghép có hai loại: từ ghép chính phụ và từ ghép đẳng lập
- Từ ghép chính phụ có tiếng chính và tiếng phụ bổ sung ý nghĩa cho tiếng chính. Tiếng chính đứng trước, tiếng phụ đứng sau.
- Từ ghép đẳng lập có các tiếng bình đẳng về mặt ngữ pháp (không phân ra tiếng chính, tiếng phụ).
II. Nghĩa của từ ghép
1. So sánh nghĩa của từ bà ngoại với nghĩa của bà, nghĩa của từ thơm phức với nghĩa của thơm, em thấy có gì khác nhau?
Gợi ý:
- Các từ: bà, bà ngoại:
• bà: người phụ nữ sinh ra bố hoặc mẹ
• bà ngoại: người phụ nữ sinh ra mẹ
- Các từ: thơm, thơm phức:
• thơm: mùi hương dễ chịu
• thơm phức: mùi hương dễ chịu, chỉ đồ ăn
2. So sánh nghĩa của từ quần áo với nghĩa của mỗi từ quần, áo; nghĩa của từ trầm bổng với mỗi từ trầm, bổng.
Gợi ý:
- Các từ: quần áo, quần, áo:
• quần áo: quần áo để mặc nói chung
• áo: đồ dùng để mặc che phần thân trên và hai tay
• quần: đồ dùng để mặc che phần thân dưới.
- Các từ: trầm bổng, trầm, bổng:
• trầm bổng: âm thanh nghe êm tai, nhẹ nhàng.
• trầm: âm vực thấp
• bổng: âm vực cao.
=> Tổng kết:
- Từ ghép chính phụ có tính chất phân nghĩa. Nghĩa của từ ghép chính phụ hẹp hơn nghĩa của tiếng chính.
- Từ ghép đẳng lập có tính chất hợp nghĩa. Nghĩa của từ ghép đẳng lập khái quát hơn nghĩa của các tiếng tạo nên nó.
III. Luyện tập
Câu 1. Xếp các từ ghép: suy nghĩ, lâu đời, xanh ngắt, nhà máy, nhà ăn, chài lưới, cây cỏ, ẩm ướt, đầu đuôi, cười nụ theo bảng phân loại sau đây:
Từ ghép chính phụ
lâu đời, xanh ngắt, nhà máy, nhà ăn, cười nụ
Từ ghép đẳng lập
suy nghĩ, chài lưới, cây cỏ, ẩm ướt, đầu đuôi
Câu 2. Điền thêm tiếng vào sau các tiếng dưới đây để tạo thành từ ghép chính phụ:
- bút: bút bi, bút mực, bút xóa, bút chì, bút màu, bút chì kim, bút chì gỗ…
- thước: thước kẻ, thước dây, thước gỗ…
- mưa: mưa phùn, mưa bay, mưa bụi, mưa rào, mưa đá…
- làm: làm việc, làm đồng, làm cảnh, làm màu…
- ăn: ăn cơm, ăn mì, ăn cháo, ăn thóc…
- trắng: trắng tinh, trắng muốt, trắng lóa, trắng sáng, trắng đục, trắng nhợt…
nhát: nhát gan…
Câu 3. Điển thêm tiếng vào sau các tiếng dưới đây để tạo từ ghép đẳng lập.
- núi: núi rừng, núi đồi, núi non
- ham: ham thích, ham muốn
- xinh: xinh đẹp, xinh tươi
- mặt: mặt mũi, mặt mày
- học: học tập, học hành
- tươi: tươi vui, tươi đẹp
Câu 4. Tại sao có thể nói một cuốn sách, một cuốn vở mà không thể nói một cuốn sách vở?
Lý do:
- Sách, vở là các danh từ chỉ sự vật tồn tại ở dạng có thể đếm được.
- Sách vở là từ ghép đẳng lập với nghĩa chỉ sách vở nói chung, không thể đếm được.
Câu 5.
a. Có phải mọi thứ hoa có màu hồng đều là hoa hồng không?
- Ý kiến: không phải
- Lý do: Hoa hồng là từ ghép chính phụ, đây là tên gọi của một loại hoa. Hoa hồng cũng có nhiều màu sắc khác nhau: trắng, đỏ, vàng…
b. Em Nam nói: “Cái áo dài của chị em ngắn quá!”. Nói như thế có đúng không? Tại sao?
- Ý kiến: đúng
- Lý do: áo dài là tên gọi một loại trang phục truyền thống của người Việt Nam, ngày nay có nhiều loại áo dài cách tân được thiết kế khá ngắn.
c. Có phải mọi loại cà chua đều chua không? Nói: “Quả cà chua này ngọt quá có được không?”
- Ý kiến: được
- Lý do: cà chua là tên gọi của một loại quả, chứ không phải để chỉ vị của loại quả ấy.
d. Có phải mọi loại cá màu vàng đều là cá vàng không? Cá vàng là loại cá như thế nào?
- Ý kiến: không phải
- Cá vàng là loại cá mắt lồi, thân ngắn, tròn, có vây rất dài và thường được nuôi làm cảnh. Có loại có màu vàng, nhưng cũng có nhiều màu khác như đỏ, đen, trắng…
Câu 6. So sánh nghĩa của các từ ghép mát tay, nóng lòng, gang thép (Anh ấy là một chiến sĩ gang thép), tay chân (một tay chân thân tín) với nghĩa của những tiếng tạo nên chúng.
- mát tay: có vẻ như thích hợp hoặc rất khéo tay nên dễ thành công, đạt được kết quả tốt trong những công việc cụ thể
• mát: có nhiệt độ vừa phải, không nóng, nhưng cũng không lạnh, gây cảm giác dễ chịu
• tay: bộ phận của cơ thể người, từ vai đến các ngón, dùng để cầm, nắm
- nóng lòng: có tâm trạng thôi thúc muốn được làm ngay việc gì vì không thể chờ đợi lâu hơn được nữa
• nóng: có nhiệt độ cao hơn so với nhiệt độ cơ thể người, hoặc cao hơn mức được coi là trung bình
• lòng: phần ở giữa hay ở trong một số vật, có khả năng chứa đựng hay che chở
- gang thép: cứng cỏi, vững vàng đến mức không gì lay chuyển được (tựa như gang và thép)
• gang: hợp kim của sắt với cacbon và một số nguyên tố, thường dùng để đúc đồ vật.
• thép: hợp kim của sắt với một lượng nhỏ carbon, bền, cứng và dẻo
- tay chân: kẻ giúp việc đắc lực, tin cẩn (hàm ý không coi trọng)
• tay: bộ phận của cơ thể người, từ vai đến các ngón, dùng để cầm, nắm
• chân: bộ phận dưới cùng của cơ thể người hay động vật, dùng để đi, đứng, chạy, nhảy, v.v.
=> Nghĩa của các từ trên hoàn toàn khác so với các tiếng tạo thành.
Câu 7. Phân tích cấu tạo từ ghép: máy hơi nước, than tổ ong, bánh đa nem theo mẫu.
- Máy hơi nước: tiếng chính: máy, tiếng phụ: hơi nước( trong tiếng phụ: hơi là tiếng chính, nước là tiếng phụ).
- Than tổ ong: tiếng chính: than, tiếng phụ: tổ ong (trong tiếng phụ: tổ là tiếng chính, ông là tiếng phụ)
- Bánh đa nem: tiếng chính: bánh, tiếng phụ: đa nem (trong tiếng phụ: đa: tiếng chính, nem: tiếng phụ).
* Bài tập ôn luyện:
Câu 1. Tìm từ ghép trong đoạn văn sau:
“Biển luôn thay đổi tuỳ theo màu sắc mây trời. Trời xanh thẳm, biển cũng thẳm xanh, như dâng cao lên chắc nịch. Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi sương. Trời âm u mây mưa, biển xám xịt, nặng nề . Trời ầm ầm dông gió, biển đục ngầu giận giữ. Như một con người biết buồn vui. Biển lúc tẻ nhạt, lạnh lùng, lúc sôi nổi, hả hê, lúc đăm chiêu, gắt gỏng.”
Câu 2. Thi tìm nhanh các từ ghép chính phụ chỉ tên các loài hoa, tên các phương tiện giao thông.
Gợi ý:
Câu 1.
Các từ ghép là: màu sắc, mây trời, xanh thẳm, thẳm xanh, dâng cao, chắc nịch, mây trắng, mây mưa, dông gió, đục ngầu, con người, buồn vui, tẻ nhạt, đăm chiêu.
Câu 2.
- Tên các loài hoa: hoa hồng, hoa lan, hoa cẩm chướng, hoa xoan, hoa sữa, hoa đào, hoa mơ, hoa cẩm tú cầu…
- Tên các phương tiện giao thông: xe máy, xe đạp, xe ô tô, xe buýt, xe khách…
Tuần ......: Bài 1 - Tiết ......: Tiếng Việt:
LIÊN KẾT TRONG VĂN BẢN
I. Liên kết và phương tiện liên kết trong văn bản
1. Tính liên kết của văn bản
a. Nếu bố của En-ri-cô chỉ viết như đoạn văn trong SGK, thì En-ri-cô sẽ chưa hiểu được điều bố muốn nói.
b. Lý do: Vì giữa các câu chưa có sự liên kết
c. Muốn cho đoạn văn có thể hiểu được thì cần tạo ra sự liên kết giữa các câu văn.
2. Phương tiện liên kết trong văn bản
a.
- Đoạn văn khó hiểu do thiếu sự liên kết.
- Sửa lại: Thêm các câu văn kết nối: “Sự hỗn láo của con như một nhát dao…”
b.
Sửa lại: Một ngày kia, con xa lắm, ngày đó con sẽ biết được thế nào là không ngủ được. Còn bây giờ, giấc ngủ đến với con dễ dàng như uống một ly sữa, ăn một cái kẹo. Gương mặt thanh thoát của con tựa nghiêng trên gối mềm, đôi môi hé mở và thỉnh thoảng chúm lại như đang mút kẹo.
c. Để văn bản có tính liên kết thì người viết phải làm cho nội dung của các câu, các đoạn thống nhất và gắn bó chặt chẽ với nhau.
Các câu trong đoạn văn phải liên kết bằng những phương tiện ngôn ngữ thích hợp.
=> Tổng kết:
- Phép liên kết là một trong những tính chất quan trọng nhất của văn bản , làm cho văn bản trở nên có nghĩa, dễ hiểu.
Để văn bản có tính liên kết, người viết (người nói) phải làm cho nội dung của các câu, các đoạn thống nhất và gắn bó chặt chẽ với nhau; đồng thời phải biết kết nối các câu, các đoạn bằng những phương tiện ngôn ngữ (từ, câu…) thích hợp.
II. Luyện tập
Câu 1. Sắp xếp các câu trong đoạn văn ở SGK theo một thứ tự hợp lí để tạo thành một đoạn văn có tính liên kết.
Gợi ý: Sắp xếp: (1), (4), (2), (5), (3)
Câu 2. Các câu văn trong SGK có tính liên kết chưa? Tại sao?
- Khi đọc đoạn văn, xét về hình thức các câu văn có vẻ rất liên kết khi đang viết về mẹ.
- Nhưng khi đọc từng câu, nội dung của các câu không liên quan gì đến nhau:
• Câu văn 1: Nhân vật “tôi” nhớ về mẹ lúc “tôi lên mười”
• Câu văn 2: Nhân vật tôi kể lại việc mẹ dắt đi trên con đường làng.
• Câu văn 3: Nhân vật tôi kể chuyện buổi sáng: tôi nói lời thiếu lễ độ với mẹ
• Câu văn 4: Nhân vật tôi kể chuyện buổi chiều: mẹ cho đi chơi.
=> Người mẹ trong 4 câu chẳng có liên quan gì đến nhau.
Câu 3. Điền từ thích hợp vào chỗ trống.
“Bà ơi! Cháu thường về đây, ra vườn, đứng dưới gốc na, gốc ổi mong tìm lại hình bóng của bà và nhớ lại ngày nào bà trồng cây, cháu chạy lon ton bên bà. Bà bảo khi nào có quả bà sẽ giành quả to nhất, ngon nhất cho cháu nhưng cháu lại bảo quả to nhất, ngon nhất phải để phần bà. Thế là bà ôm cháu vào lòng, hôn cháu một cái thật kêu”
Câu 4.
• Câu văn1: Nói về việc mẹ không ngủ được
• Câu văn 2: Nói về việc ngày mai là ngày khai trường của con.
- Hai câu trong văn bản Cổng trường mở ra có sự liên kết không chặt chẽ nhưng vẫn được đặt cạnh nhau. Cần chú ý đến câu tiếp theo: “Mẹ sẽ đưa con đến trường, mẹ sẽ cầm tay con…” thì giữa ba câu đã có sự liên kết. Người mẹ không ngủ được vì ngày mai sẽ là ngày khai trường lớp 1 của con, đó là một ngày có ý nghĩa trọng đại mà mẹ sẽ cùng con trải qua.
Câu 5.
Nếu không có phép màu của bụt thì cây tre trăm đốt chỉ là những khúc trẻ rời rạc, nhỏ bé và vô dụng mà thôi.
Câu chuyện giúp em hiểu ra vai trò quan trọng của liên kết trong văn bản. Nếu không có sự liên kết thì các câu văn sẽ không tạo thành một chỉnh thể trọn vẹn.
PBS:
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………
Tuần ......: Bài 2 - Tiết ......: Đọc – Hiểu văn bản
CUỘC CHIA TAY CỦA NHỮNG CON BÚP BÊ
I. Tìm hiểu chung
1) Tác giả
- Khánh Hoài sinh năm 1937, quê ở Đông Hưng, Thái Bình.
- Một số tác phẩm của ông đã được xuất bản: Trận chung kết (truyện dài, 1975), Những chuyện bất ngờ (truyện vừa 1978), Chuyện ở lớp, chuyện ở nhà (hay Băng ngũ hổ, truyện vừa, 1993-1994), Cuộc chia tay của những con búp bê (truyện, 1992)...
- Một số giải thưởng ông đã đạt được:
+ Giải A, giải Văn nghệ Vĩnh Phú 10 năm (1975-1985) (truyện dài Trận chung kết).
+ Giải Nhì cuộc thi thơ -văn viết về quyền trẻ em do Viện Khoa học Giáo dục và Tổ chức cứu trợ trẻ em Rát-đa Bác-nen (Thụy Điển) tổ chức (cho truyện ngắn Cuộc chia tay của những con búp bê)
+ Giải chính thức giải thưởng Hùng Vương (Hội Văn nghệ Vĩnh Phú) (cho tập Chuyện ở lớp, chuyện ở nhà).
2) Tác phẩm
1. Hoàn cảnh sáng tác
- Cuộc chia tay của những con búp bê được sáng tác năm 1992.
- Truyện được trao giải Nhì trong cuộc thi thơ - văn viết về quyền trẻ em do Viện Khoa học Giáo dục và Tổ chức cứu trợ trẻ em Rát-đa Bác-nen - Thụy Điển tổ chức vào năm 1992.
2. Tóm tắt
Hai anh em Thành và Thủy hết mực yêu thương nhau. Nhưng vì bố mẹ ly hôn nên hai anh em không thể tiếp tục sống với nhau được nữa. Trước ngày chia tay, mẹ ra lệnh cho cả hai phải chia đồ chơi. Thành dành hầu hết số đồ chơi cho em: bộ tú lơ khơ, bàn cá ngựa, những con ốc biển và bộ chỉ màu và ngay cả hai con búp bê là Em Nhỏ và Vệ Sĩ. Ngày hôm sau, Thành đưa Thủy đến trường để chia tay cô giáo và bạn bè. Cô tặng cho Thủy một quyển sổ và một chiếc bút mực nhưng Thủy không dám nhận vì không còn được đi học nữa. Khi hai anh em về đến nhà thì đã nhìn thấy một chiếc xe tải đỗ trước cổng, cuộc chia tay quá đột ngột khiến cả hai bàng hoàng. Thủy chạy vào nhà lấy con Vệ Sĩ đưa cho Thành để nó gác cho anh ngủ. Nhưng sau đó, cô bé lại đem cả con Em Nhỏ lại cho anh và bắt anh hứa không bao giờ để chúng phải xa nhau nữa.
3. Bố cục
Gồm 3 phần:
• Phần 1: Từ đầu đến “hiếu thảo như vậy”. Cảnh hai anh em chia đồ chơi.
• Phần 2. Tiếp theo đến “ươm trùm lên cảnh vật”. Cuộc chia tay của hai anh em với thầy cô và bạn bè.
• Phần 3. Còn lại. Cuộc chia tay của hai anh em.
III. Đọc - hiểu văn bản
1. Cảnh hai anh em chia đồ chơi
- Hoàn cảnh: Mẹ yêu cầu anh em Thành và Thủy đem đồ chơi ra chia.
- Tâm trạng của Thành và Thủy khi biết hai anh em sắp phải chia tay nhau:
• Thủy: Bất giác run lên bần bật, kinh hoàng đưa cặp mắt tuyệt vọng nhìn anh; cặp mắt đen của em lúc này buồn thăm thẳm, hai bờ mi đã sưng mọng lên vì khóc nhiều, khóc cả đêm
• Thành: Nghe tiếng khóc tức tưởi của em, cứ phải cắn chặt môi để khỏi bật lên tiếng khóc to, nhưng nước mắt cứ tuôn ra như suối, ướt đầm cả gối và hai cánh tay áo.
=> Cả hai anh em đều cảm thấy rất buồn bã và đau khổ.
- Cả hai nhớ lại những kỉ niệm đã qua:
• Gia đình khá giả, hai anh em rất yêu thương nhau.
• Hồi còn học lớp Năm, có lần Thành đi đá bóng về bị xoạc một miếng áo to, vì sợ mẹ đánh mà không dám về nhà. Nghe lũ bạn mách, Thủy đã chạy ra sân vận động vá lại áo cho anh.
• Chiều nào, Thành cũng đi đón em và giúp em học.
=> Tình cảm anh em sâu đậm, gắn bó.
- Cảnh chia đồ chơi:
• Hai anh em bị mẹ gọi vào chia đồ chơi.
• Cả hai giật mình , Thủy như người mất hồn, loạng choạng bám vào cánh tay anh.
• Thành dành toàn bộ độ chơi cho em dù chẳng có gì nhiều. Nhưng Thủy cũng muốn để lại hết cho anh.
• Chỉ có duy nhất hai con Em Nhỏ và Vệ Sĩ là Thủy không muốn chia cắt chúng.
=> Thành và Thủy rất mực gần gũi, cả hai anh em đều nhường nhịn và yêu thương nhau.
2. Cuộc chia tay của hai anh em với thầy cô và bạn bè
- Hoàn cảnh: Sau khi chia đồ chơi, Thành đã đưa Thủy đến trường.
- Cuộc chia tay của hai anh em và thầy cô:
• Khi đến trường, cô giáo đang giảng bài. Thủy cắn chặt môi im lặng, mắt đăm đăm nhìn khắp sân trường rồi bật khóc thút thít.
• Cô giáo nhận ra Thủy và kêu em vào lớp học.
• Cô tặng cho em một cái bút máy nắp vàng và một quyển sổ.
• Khi Thủy bảo rằng sẽ không được đi học nữa. Cô giáo và các bạn đều sửng sốt và nước mắt giàn giụa.
=> Cô giáo và bạn bè đều yêu quý và rất thương Thủy.
3. Cuộc chia tay của hai anh em
- Hoàn cảnh: Khi vừa tới nhà, hai anh em đã nhìn thấy một chiếc xe tải đỗ trước cổng, mấy người hàng xóm đang giúp khuân đồ lên xe.
- Tâm trạng của hai anh em: Cuộc chia tay đột ngột khiến cả hai đều bất ngờ.
• Thủy: Như người mất hồn, mặt tái xanh như tàu lá. Em vội vàng chạy vào trong nhà lấy con Vệ Sĩ đưa cho anh để nó trông cho anh ngủ.
• Thành: Qua những làn nước mắt, Thành nhìn theo mẹ và em đang trèo lên xe.
- Bỗng nhiên Thủy chạy lại và đưa con Em Nhỏ cho anh, bắt anh phải hứa không bao giờ để chúng xa nhau. Thành hứa với em, rồi đứng lặng nhìn theo cái bóng nhỏ liêu xiêu của em.
- Hình ảnh cuối truyện: chiếc xe tải rồ máy, lao ra đường và phóng đi mất hút.
=> Cuộc chia tay diễn ra đẫm nước mắt, buồn bã và đau thương. Cả hai anh em đều sẽ không biết bao giờ mới có thể gặp lại nhau
III. Tổng kết
.-. Giá trị nội dung
Cuộc chia tay của những con búp bê là câu chuyện kể về cuộc chia tay đầy đau đớn và cảm động của hai anh em. Cuộc chia tay khiến cho người đọc nhận ra: Tổ ấm gia đình là vô cùng quý giá và quan trọng. Mỗi người hãy cố gắng bảo vệ và giữ gìn, không nên vì bất cứ lý do gì làm tổn hại những tình cảm tự nhiên, trong sáng.
.-. Giá trị nghệ thuật
- Truyện được kể theo ngôi thứ nhất.
- Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế.
Tuần ......: Bài 2 - Tiết ......: Tậm làm văn
BỐ CỤC TRONG VĂN BẢN
I. Bố cục và những yêu cầu về bố cục trong văn bản
1. Bố cục của văn bản
a.
- Muốn viết một lá đơn gia nhập Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh thì nội dung của nó phải sắp xếp thành một trật tự nhất định.
- Không thể tùy thích muồn ghi nội dung nào trước cũng được. Vì văn bản cần phải được viết theo một bố cục rõ ràng hợp lý, nếu viết tùy tiện sẽ khiến cho người đọc khó hiểu.
b. Khi xây dựng văn bản, cần phải quan tâm đến bố cục vì chỉ có như vậy, văn bản mới được sắp xếp một cách hợp lý từ các phần, đoạn, các ý sẽ biểu đạt đúng nội dung theo một trình tự chặt chẽ.
2. Những yêu cầu về bố cục trong văn bản
a. Hai câu chuyện trong SGK đều chưa có bố cục hợp lý.
b. Cách kể chuyện bất hợp lý ở chỗ:
- Câu chuyện (1):
• Đoạn văn thứ nhất: Việc ếch coi trời bằng vung kể trước, lý do kể sau: con ếch quen sống trong đáy giếng.
• Đoạn văn thứ hai: Câu cuối ở đoạn thứ nhất đang nói đến việc: trời mưa làm nước trong giếng tràn bờ đưa ếch ra ngoài. Nhưng câu đầu tiên của đoạn thứ hai: kể về lúc con ếch ở bên trong giếng. Kết thúc đoạn thứ hai: nhắc đến việc con trâu trở thành bạn của nhà nông.
- Câu chuyên (2):
• Đoạn thứ nhất: Kể về một anh tính hay khoe, có chiếc áo mới liền đứng ngoài cổng để khoe với người qua đường.
• Đoạn thứ hai: Nói kết quả trước: khoe được áo, nói lý do sau: một anh tính cũng hay khoe chạy qua hỏi về con lợn cưới của mình.
c. Cách sắp xếp bố cục của hai câu chuyện trên không hợp lý, gây khó hiểu cho người đọc và không tạo được tiếng cười.
3. Các phần bố cục
a. Nhiệm vụ của mở bài, thân bài và kết bài trong văn bản miêu tả và tự sự:
- Tự sự
• Mở bài: Giới thiệu chung về nhân vật và sự việc
• Thân bài: Kể lại diễn biến sự việc
• Kết bài: Kết quả của sự việc
- Miêu tả:
• Mở bài: Giới thiệu sự vật, sự việc được miêu tả
• Thân bài: Tả chi tiết sự vật, sự việc đó.
• Kết bài: Cảm nghĩ của người viết về sự vật, sự việc đó.
b. Cần phần biệt nhiệm vụ của mỗi phần, vì trước hết mỗi phần đều có một vai trò riêng, không giống nhau. Đồng thời, giúp cho văn bản mạch lạc, chặt chẽ.
c. Ý kiến trên hoàn toàn không đúng. Vì mở bài không chỉ là sự tóm tắt, rút gọn của thân bài mà phải làm cho người đọc người nghe đi vào đề tài một cách dễ dàng tự nhiên và gợi sự hứng thú. Còn kết bài cần phải nêu được cảm nghĩ của người viết cũng như gợi mở cho người đọc người nghe một ấn tượng tốt đẹp.
=> Tổng kết:
- Văn bản không được viết một cách tùy tiện mà phải có bố cục rõ ràng. Bố cục là sự sắp xếp các phần, các đoạn theo một trình tự, một hệ thống rành mạch và hợp lí.
- Các điều kiện để bố cục được rành mạch và hợp lí:
• Nội dụng các phần, các đoạn trong văn bản phải thống nhất, chặt chẽ với nhau; đồng thời, giữa chúng lại phải có sự phân biệt rạch ròi.
• Trình tự sắp xếp các phần, các đoạn phải giúp cho người viết (người nói) dễ dàng đạt được mục đích giao tiếp đã đặt ra.
- Văn bản thường được xây dựng theo một bố cục gồm ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài.
II. Luyện tập
Câu 1.
* Ví dụ: Bài văn tả khung cảnh trường em trong ngày khai giảng. '
- Mở bài: Cần giới thiệu được đối tượng miêu tả: khung cảnh trường em trong ngày khai giảng.
- Thân bài: Miêu tả theo một trình tự cụ thể về không gian hoặc thời gian.
• Trước khi buổi lễ diễn ra: Từ cổng vào sân trường, đến các dãy phòng học và trung tâm là sân khấu.
• Trong quá trình buổi lễ diễn ra: Miêu tả khung cảnh trên sân khấu và dưới sân trường là chủ yếu.
• Kết thúc buổi lễ: Miêu tả khái quát toàn bộ khung cảnh.
- Kết bài: Cảm xúc của em sau buổi lễ.
* Khi viết cần chú ý về hình thức: có sự liên kết giữa các câu văn, đoạn văn trong văn bản. Nội dung của toàn bài thống nhất.
=> Khi xây dựng văn bản theo bố cục như trên giúp cho người đọc, người nghe hiểu được toàn bộ văn bản.
Câu 2.
- Bố cục của văn bản Cuộc chia tay của những con búp bê: Gồm 3 phần
• Phần 1: Từ đầu đến “hiếu thảo như vậy”. Cảnh hai anh em chia đồ chơi.
• Phần 2. Tiếp theo đến “ươm trùm lên cảnh vật”. Cuộc chia tay của hai anh em với thầy cô và bạn bè.
• Phần 3. Còn lại. Cuộc chia tay của hai anh em.
- Bố cục đã tạo được sự hợp lí, rành mạch.
Việc thay đổi theo một bố cục khác là không cần thiết.
Câu 3.
- Bố cục trong SGK còn chưa rành mạch và hợp lý.
- Lý do: Các phần đều còn thiếu một số ý quan trọng.
- Bổ sung:
1. Mở bài:
- Chào mừng…
- Giới thiệu tên, tuổi và trường lớp
2. Thân bài
Bỏ phần (4) Nêu thành tích hoạt động Đội và thành tích văn nghệ của bản thân. Vì đây là báo cáo hoạt động học tập nên không cần thiết phải báo cáo thành tích các hoạt động ngoại khóa.
3. Kết bài
- Tóm tắt lại nội dung vừa trình bày: Gồm mấy phần chính.
- Mở rộng: Định hướng mới mà bản thân sắp thực hiện.
- Chúc Hội nghị thành công.
* Bài tập ôn luyện hoặc kiểm tra tùy vào thời gian còn lại mà GV cho HS thực hiện bài tập
Đề bài: Hãy xác định bố cục cần xây dựng cho đoạn văn kể về một kỉ niệm đáng nhớ.
Gợi ý: Học sinh cần xây dựng được bố cục ba phần: mở bài, thân bài và kết bài cho bài văn trên.
* Mở bài
- Giới thiệu về kỉ niệm đáng nhớ đó là gì? (được thầy cô khen, bị hiểu lầm, nói dối cha mẹ…)
- Ấn tượng chung của em về kỉ niệm ấy (vui vẻ, hạnh phúc, xấu hổ…)
* Thân bài
1. Hoàn cảnh diễn ra kỷ niệm:
- Kỉ niệm đó diễn ra khi nào?
- Kỉ niệm đó liên quan đến ai?
2. Diễn biến của câu chuyện:
- Nêu mở đầu câu chuyện và diễn biến như thế nào
- Trình bày đỉnh điểm của câu chuyện
- Thái độ, tình cảm của nhân vật trong chuyện
3. Kết thúc câu chuyện
- Câu chuyện kết thúc như thế nào
- Nêu suy nghĩ và cảm nhận của bạn qua câu chuyện.
* Kết bài
- Bài học em nhận ra sau kỷ niệm đó.
Tuần ......: Bài...... - Tiết ......: Tậm làm văn
MẠCH LẠC TRONG VĂN BẢN
I. Mạch lạc và những yêu cầu về mạch lạc
1. Mạch lạc trong văn bản
a. Mạch lạc trong văn bản có những tính chất:
- Trôi chảy thành dòng, thành mạch.
- Tuần tự đi qua khắp các phần, các đoạn trong văn bản.
- Thông suốt, liên tục, không đứt đoạn.
b.
- Ý kiến: Trong văn bản, mạch lạc là sự tiếp nối của các câu, các ý theo một trình tự hợp lí là đúng.
- Lý do: Các câu văn, các ý văn chính là những yếu tố cơ bản làm nên một văn bản. Chỉ khi các yếu tố này được viết theo một trình tự hợp lý, chặt chẽ thì mới tạo ra một văn bản mạch lạc.
2. Các điều kiện để có một văn bản mạch lạc
a.
- Toàn bộ sự việc trong văn bản “Cuộc chia tay của những con búp bê” xoay quanh sự việc chính: Hai anh em Thành và Thủy phải chia tay nhau do bố mẹ ly hôn.
- “Sự chia tay” và “những con búp bê” đóng vai trò xuyên suốt toàn bộ tác phẩm.
- Quá trình chia đồ chơi của hai anh em, sự chia cắt của hai con búp bê và cuộc chia tay đẫm nước mắt của hai anh em.
- Hai anh em Thành và Thủy là những nhân vật chính của câu chuyện.
b.
Một loạt những từ ngữ và chi tiết trên là chủ để liên kết các sự việc thành một thể thống nhất. Đó có thể được xem là mạch lạc trong văn bản.
c.
- Các đoạn ấy được nối với nhau theo mối liên hệ về thời gian (sáng sớm hôm ấy, gần trưa, chiều), không gian (ở nhà, ở trường)
- Những mối liên hệ ấy diễn ra hết sức tự nhiên và hợp lý.
=> Tổng kết:
- Văn bản cần phải mạch lạc.
- Một văn bản có tính mạch lạc là văn bản:
• Các phần các đoạn các câu trong văn bản đều nói về một đề tài, biểu hiện một chủ đề chung xuyên suốt.
• Các phần, các đoạn, các câu trong văn bản được tiếp nối theo một trình tự rõ ràng, hợp lý, trước sau hô ứng nhau nhằm làm cho chủ đề liền mạch và gợi được nhiều hứng thú cho người đọc (người nghe).
II. Luyện tập
Câu 1. Hãy tìm hiểu tính mạch lạc:
a. Văn bản "Mẹ tôi":
- Có lời giới thiệu của nhân vật tôi: lý do mà bố viết thư cho mình.
- Sau đó, nội dung bức thư được En-ri-cô nhắc lại toàn bộ:
• Việc En-ri-cô hỗn láo với mẹ vào buổi sáng khi cô giáo đến thăm.
• Bố nhắc lại quá khứ mẹ lo mất con, đánh giá sự hy sinh của mẹ.
• Đặt giả thiết ngày mẹ mất và con sẽ cảm thấy hối hận như thế nào.
• Yêu cầu con không lặp lại lỗi lầm.
- Chủ đề xuyên suốt trong văn bản: tình mẹ
- Các đoạn văn có sự liên kết.
b.
(1) Văn bản: Lão nông và các con
- Chủ đề xuyên suốt: Lao động sẽ đem lại cho con người những giá trị to lớn.
- Bố cục:
• Mở bài: 2 câu đầu. Đặt vấn đề
• Thân bài: 14 dòng tiếp theo. Kể lại chi tiết diễn biến.
• Kết bài: 4 câu cuối. Ý nghĩa của câu chuyện.
(2)
- Chủ đề xuyên suốt: Khung cảnh làng quê giữa ngày mùa.
- Bố cục:
• Mở bài: Giới thiệu đối tượng cần miêu tả: khung cảnh làng quê giữa ngày mùa với màu vàng là chủ đạo.
• Thân bài: Miêu tả chi tiết khung cảnh giữa ngày mùa: từng sự vật với những sắc vàng khác nhau.
• Kết bài: Cảm xúc về sắc vàng.
=> Trình tự ba phần thống nhất với chủ đề xuyên suốt.
Câu 2.
- Câu chuyện xuyên suốt trong văn bản “Cuộc chia tay của những con búp bê”: cuộc chia tay của hai anh em và hai con búp bê.
- Sự việc chia tay của bố mẹ Thành và Thủy chỉ đóng vai trò là nguyên nhân của cuộc chia tay ấy, nên không cần thiết phải kể rõ ra.
- Nếu kể chi tiết sẽ khiến cho câu chuyện chính bị phân tán, làm cho văn bản không có sự thống nhất, mất đi tính mạch lạc.
* Bài tập ôn luyện: Hãy cho biết tính mạch lạc trong văn bản “Cổng trường mở ra” của Lý Lan.
- Chủ đề xuyên suốt: Tình cảm yêu thương và niềm tin của người mẹ dành cho đứa con được thể hiện trong đêm trước ngày khai trường vào lớp Một của con. Vai trò của nhà trường đối với sự phát triển của mỗi con người.
- Bố cục hợp lý với hai phần bao quát chủ đề văn bản.
• Phần 1: Từ đầu đến “ mẹ vừa bước vào”. Diễn biến tâm trạng của người mẹ đêm trước ngày khai trường của con.
• Phần 2. Còn lại. Suy nghĩ của mẹ về vai trò của giáo dục.
- Nhân vật chính: mẹ và đứa con.
- Các câu văn, đoạn văn được liên kết với nhau chặt chẽ, thống nhất trong m
CỔNG TRƯỜNG MỞ RA
- Lý Lan -
I. Tìm hiểu chung
1) Tác giả
- Lý Lan sinh năm 1957.
- Bà là một nhà văn, nhà thơ và dịch giả.
- Quê hương: Bà sinh ra tại Thủ Dầu 1, tỉnh Bình Dương.
- Một số tác phẩm sáng tác như: Chàng nghệ sĩ (truyện dài đầu tay), Cỏ hát (tập truyện ngắn đầu tay). Cổng trường mở ra được in trong SGK Ngữ Văn 7, tập 1
2) Tác phẩm
a. Hoàn cảnh sáng tác
Cổng trường mở ra được in trên báo Tuổi trẻ, số 166 ngày 1 tháng 9 năm 2000.
b. Tóm tắt
Vào đêm trước ngày khai trường của con, mẹ không ngủ được. Còn con thì háo hức nhưng mẹ chỉ dỗ một lát là con đã ngủ ngon lành. Khi con đã ngủ say, mẹ nhớ lại ngày đầu tiên con đi học lúc con mới ba tuổi. Nhìn con, mẹ cũng nhớ lại tuổi thơ của mình với buổi khai trường đầu tiên khi được bà ngoại đưa tới trường. Mẹ nhắc đến câu chuyện ở Nhật, người ta coi ngày lễ khai trường là ngày lễ của toàn xã hội. Người lớn thường nghỉ việc để đưa trẻ con đến trường còn đường phố thì được thu dọn sạch sẽ và trang hoàng lộng lẫy. Cuối cùng, mẹ tưởng tưởng về hình ảnh ngày mai, mẹ sẽ đưa con đến trường cầm tay con dắt qua cánh cổng rồi buông tau mà nói: “Đi đi con, hãy can đảm lên, thế giới này là của con, bước qua cánh cổng trường là một thế giới kì diệu sẽ mở ra”.
c. Bố cục
Gồm 2 phần:
• Phần 1: Từ đầu đến “mẹ vừa bước vào”. Diễn biến tâm trạng của người mẹ đêm trước ngày khai trường của con.
• Phần 2. Còn lại. Suy nghĩ của mẹ về vai trò của giáo dục.
II. Đọc - hiểu văn bản
1. Diễn biến tâm trạng của người mẹ đêm trước ngày khai trường của con
- Hành động của con:
• Háo hức như trước những chuyến đi chơi xa vì ngày mai vào lớp 1.
• Tranh dọn dẹp đồ chơi với mẹ.
• Chuẩn bị đầy đủ quần áo mới, giày nón mới, cặp sách mới, tập vở mới, mọi thứ đã sẵn sàng.
• Không có mối bận tâm nào khác ngoài ngày mai thức dậy cho kịp giờ.
• Giấc ngủ đến với con dễ dàng.
=> Con là một đứa trẻ hồn nhiên vô tư nhưng cũng ý thức được trách nhiệm khi bắt đầu vào học lớp Một.
- Diễn biến tâm trạng của mẹ:
• Không tập trung làm được một việc gì cả.
• Mẹ dặn mình phải đi ngủ sớm nhưng lại trằn trọc không ngủ được.
• Nhớ lại ngày đầu tiên con đi học hồi ba tuổi đã biết thế nào là trường, lớp, thầy, bạn. Cả ngôi trường mới cũng đã quen với thầy cô và bạn bè mới.
• Mẹ nhận ra không phải vì lo lắng cho con đến nỗi không ngủ được.
• Tin tưởng rằng con đã lớn và sự chuẩn bị chu đáo của con trước ngày khai trường.
• Nhớ lại kỉ niệm về ngày khai trường đầu tiên của chính mình.
• Cảm giác nôn nao, hồi hộp của ngày hôm ấy như vẫn còn y nguyên khi cùng bà ngoại đến trường.
=> Mẹ luôn yêu thương và dành cho con sự quan tâm, tin tưởng. Sự kiện ngày khai trường đầu tiên khi con vào lớp Một đã gợi lại trong mẹ kỉ niệm về thời thơ ấu của người mẹ. Ngày đầu tiên khai trường với những hồi hộp và rạo rực.
2. Suy nghĩ của mẹ về vai trò của giáo dục
- Người mẹ nhớ đến câu chuyện ở Nhật:
• Ngày khai trường là một ngày lễ trọng đại của toàn xã hội. Người lớn nghỉ làm để đưa trẻ con đến trường, đường phố được dọn dẹp sạch sẽ và trang trí tươi vui.
• Các quan chức nhà nước vào buổi sáng ngày khai trường chia nhau đến dự lễ khai trường ở khắp các trường học không chỉ để thăm hỏi mà còn xem xét để kịp thời điều chỉnh chính sách giáo dục.
=> Tầm quan trọng của giáo dục: ảnh hưởng đến một thế hệ mai sau, sai một li có thể đi một dặm.
- Lời nhắn nhủ của mẹ: “Đi đi con, hãy can đảm lên, thế giới này là của con, bước qua cánh cổng trường là một thế giới kì diệu sẽ mở ra”.
=> Lời nhắn nhủ thể hiện niềm tin tưởng và lạc quan vào hành trình của con trong suốt những năm tháng sau này.
III. Tổng kết
.-. Giá trị nội dung
“Cổng trường mở ra” giống như những dòng nhật kí tâm tình nhỏ nhẹ và sâu lắng. Tác phẩm giúp người đọc hiểu được tấm lòng yêu thương của người mẹ dành cho đứa con và khẳng định vai trò to lớn của nhà trường.
.-. Giá trị nghệ thuật
- Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình.
- Ngôn ngữ giàu hình ảnh.
Bổ xung: bảng so sánh tâm trạng me-con
Tâm trạng
Mẹ
Con
Thao thức, không ngủ đươc, suy nghĩ triền miên
Thanh thản, nhẹ nhàng, vô tư
- Giấc ngủ đến với con dễ dàng . Qua đó thể hiện tâm trạng : nhẹ nhàng, thanh thản, vô tư của con.
- Con háo hức cảm nhận được sự quan trọng của ngày khai trường.
- Con thường háo hức mỗi khi được đi chơi xa đến nỗi lên giường mà không sao nằm yên được. Và mẹ biết đêm nay con cũng có những háo hức như vậy. Hơn nữa sự chuẩn bị sẵn sàng cho ngày đầu tiên vào lớp 1 đã khiến con cảm nhận được sự quan trọng cuả ngày khai truờng. Và con đã ý thức được "ngày mai phải thức dậy cho kịp giờ".
Tuần ......: Bài 1 - Tiết ......: Đọc – Hiểu văn bản:
MẸ TÔI
Ét-môn-đô đơ A-mi-xi
I. Tìm hiểu chung
1) Tác giả
- Ét-môn-đô đơ A-mi-xi (1846 - 1908) là nhà văn người I-ta-li-a.
- Ông là tác giả của những cuốn sách như: Cuộc đời của các chiến binh (tập truyện ngắn, 1868), Cuốn truyện của người thầy (1890), Giữa trường và nhà (tập truyện ngắn 1892)...
- Ông được biết đến với tác phẩm dành cho thiếu nhi nổi tiếng khắp thế giới: Những tấm lòng cao cả (1886).
2) Tác phẩm
1. Hoàn cảnh sáng tác
Văn bản “Mẹ tôi” trong SGK được rút ra từ tập truyện “Những tấm lòng cao cả” sáng tác năm 1886.
2. Tóm tắt
En-ri-cô đã có thái độ vô lễ với mẹ khi cô giáo đến thăm khiến cho bố rất phiền lòng. Chính vì vậy, bố đã viết thư cho em để bày tỏ thái độ và khuyên nhủ con. Bố cũng kể lại những việc làm, sự hy sinh và tình cảm của mẹ dành cho con. Cuối cùng là lời yêu thương và hy vọng En-ri-cô không tái phạm lại lỗi lầm.
3. Bố cục
Gồm 2 phần:
• Phần 1: Từ đầu đến “xúc động vô cùng”. Lời bộc bạch của En-ri-cô khi nhận được thư của bố.
• Phần 2: Còn lại. Nội dung bức thư: Thái độ và lời khuyên nhủ của người bố dành cho En-ri-cô trước hành động thiếu lễ độ với mẹ.
III. Đọc - hiểu văn bản
1. Lời bộc bạch của En-ri-cô khi nhận được thư của bố
Bức thư được mở đầu một cách trực tiếp:
- Lý do viết bức thư:
• “Bố để ý là sáng nay, lúc cô giáo đến thăm, khi nói với mẹ, tôi có nhỡ thốt ra một lời thiếu lễ độ”.
• Để cảnh cáo En-ri-cô, người bố đã viết bức thư.
- Thái độ của En-ri-cô khi nhận thư: xúc động vô cùng.
=> Bức thư giống như “một món quà” về bài học ứng xử nhẹ nhàng mà sâu sắc dành cho En-ri-cô.
2. Nội dung bức thư
- Thái độ của bố trước hành động của con:
• Sự hỗ lão của con như một nhát dao đâm vào tim bố vậy.
• Tức giận khi nhớ lại hành động của con.
• Ngạc nhiên về thái độ của con: “Con mà lại xúc phạm đến mẹ con ư?”
- Hình ảnh người mẹ của En-ri-cô qua lời kể của bố:
• Thức suốt đêm, cúi mình trên chiếc nôi trông chừng con.
• Sẵn sàng bỏ một năm hạnh phúc để tránh cho con một giờ đau đớn.
• Có thể đi ăn xin để nuôi con, có thể hy sinh tính mạng để cứu sống con.
=> Đó là một người mẹ vĩ đại với tình yêu thương con vô bờ bến.
- Tưởng tượng về tương lai:
• Khi đã khôn lớn trưởng thành, chắc chắn sẽ có lúc con mong ước được nghe tiếng nói của mẹ, được mẹ ôm vào lòng.
• Con sẽ cay đắng khi nhớ lại day dứt khi nhớ lại hành động ngày hôm nay.
=> Khẳng định vai trò của gia đình: Tình yêu thương, kính trọng cha mẹ là tình cảm thiêng liêng hơn cả.
- Lời khuyên răn của bố:
• “Trước mặt cô giáo con đã thiếu lễ độ với mẹ. Việc như thế không bao giờ được tái phạm nữa”.
• “Từ nay con không được thốt ra một lời nói nặng với mẹ.
• Yêu cầu con phải xin lỗi mẹ.
• “Con hãy cầu xin mẹ hôn con, để cho chiếc hôn ấy xóa đi cái dấu vết vong ân bội nghĩa” .
=> Một lời khuyên nhủ quyết liệt nhưng thuyết phục, không gây cảm giác nặng nề, ép buộc.
3. Ý nghĩa của bức thư
- Đề cao vai trò của tình cảm gia đình.
- Khuyên nhủ con người phải biết kính trọng và yêu thương cha mẹ.
III. Tổng kết.
.-. Giá trị nội dung
Văn bản đề cao giá trị của tình cảm gia đình, nhất là tình cảm kính trọng yêu thương dành cho cha mẹ.
.-. Giá trị nghệ thuật
- Văn bản được viết dưới dạng một bức thư giúp người viết dễ dàng bộc lộ cảm xúc.
- Giọng văn nhẹ nhàng nhưng cũng mạnh mẽ góp phần thể hiện thái độ của người viết.
Tuần ......: Bài 1 - Tiết ......: Tiếng Việt:
TỪ GHÉP
I. Các loại từ ghép
1.
Trong các từ ghép bà ngoại, thơm phức ở những ví dụ trong SGK:
- Tiếng chính là: bà, tiếng phụ là: ngoại.
- Tiếng chính là: thơm, tiếng phụ là: phức.
- Nhận xét: Tiếng chính thường đứng trước tiếng phụ.
2. Các tiếng trong hai từ ghép quần áo, trầm bổng ở những ví dụ trong SGK (trích văn bản Cổng trường mở ra) có phân ra tiếng chính, tiếng phụ không?
Gợi ý: Các tiếng quần, áo hay trầm, bổng không phân ra tiếng chính, tiếng phụ.
=> Tổng kết:
- Từ ghép có hai loại: từ ghép chính phụ và từ ghép đẳng lập
- Từ ghép chính phụ có tiếng chính và tiếng phụ bổ sung ý nghĩa cho tiếng chính. Tiếng chính đứng trước, tiếng phụ đứng sau.
- Từ ghép đẳng lập có các tiếng bình đẳng về mặt ngữ pháp (không phân ra tiếng chính, tiếng phụ).
II. Nghĩa của từ ghép
1. So sánh nghĩa của từ bà ngoại với nghĩa của bà, nghĩa của từ thơm phức với nghĩa của thơm, em thấy có gì khác nhau?
Gợi ý:
- Các từ: bà, bà ngoại:
• bà: người phụ nữ sinh ra bố hoặc mẹ
• bà ngoại: người phụ nữ sinh ra mẹ
- Các từ: thơm, thơm phức:
• thơm: mùi hương dễ chịu
• thơm phức: mùi hương dễ chịu, chỉ đồ ăn
2. So sánh nghĩa của từ quần áo với nghĩa của mỗi từ quần, áo; nghĩa của từ trầm bổng với mỗi từ trầm, bổng.
Gợi ý:
- Các từ: quần áo, quần, áo:
• quần áo: quần áo để mặc nói chung
• áo: đồ dùng để mặc che phần thân trên và hai tay
• quần: đồ dùng để mặc che phần thân dưới.
- Các từ: trầm bổng, trầm, bổng:
• trầm bổng: âm thanh nghe êm tai, nhẹ nhàng.
• trầm: âm vực thấp
• bổng: âm vực cao.
=> Tổng kết:
- Từ ghép chính phụ có tính chất phân nghĩa. Nghĩa của từ ghép chính phụ hẹp hơn nghĩa của tiếng chính.
- Từ ghép đẳng lập có tính chất hợp nghĩa. Nghĩa của từ ghép đẳng lập khái quát hơn nghĩa của các tiếng tạo nên nó.
III. Luyện tập
Câu 1. Xếp các từ ghép: suy nghĩ, lâu đời, xanh ngắt, nhà máy, nhà ăn, chài lưới, cây cỏ, ẩm ướt, đầu đuôi, cười nụ theo bảng phân loại sau đây:
Từ ghép chính phụ
lâu đời, xanh ngắt, nhà máy, nhà ăn, cười nụ
Từ ghép đẳng lập
suy nghĩ, chài lưới, cây cỏ, ẩm ướt, đầu đuôi
Câu 2. Điền thêm tiếng vào sau các tiếng dưới đây để tạo thành từ ghép chính phụ:
- bút: bút bi, bút mực, bút xóa, bút chì, bút màu, bút chì kim, bút chì gỗ…
- thước: thước kẻ, thước dây, thước gỗ…
- mưa: mưa phùn, mưa bay, mưa bụi, mưa rào, mưa đá…
- làm: làm việc, làm đồng, làm cảnh, làm màu…
- ăn: ăn cơm, ăn mì, ăn cháo, ăn thóc…
- trắng: trắng tinh, trắng muốt, trắng lóa, trắng sáng, trắng đục, trắng nhợt…
nhát: nhát gan…
Câu 3. Điển thêm tiếng vào sau các tiếng dưới đây để tạo từ ghép đẳng lập.
- núi: núi rừng, núi đồi, núi non
- ham: ham thích, ham muốn
- xinh: xinh đẹp, xinh tươi
- mặt: mặt mũi, mặt mày
- học: học tập, học hành
- tươi: tươi vui, tươi đẹp
Câu 4. Tại sao có thể nói một cuốn sách, một cuốn vở mà không thể nói một cuốn sách vở?
Lý do:
- Sách, vở là các danh từ chỉ sự vật tồn tại ở dạng có thể đếm được.
- Sách vở là từ ghép đẳng lập với nghĩa chỉ sách vở nói chung, không thể đếm được.
Câu 5.
a. Có phải mọi thứ hoa có màu hồng đều là hoa hồng không?
- Ý kiến: không phải
- Lý do: Hoa hồng là từ ghép chính phụ, đây là tên gọi của một loại hoa. Hoa hồng cũng có nhiều màu sắc khác nhau: trắng, đỏ, vàng…
b. Em Nam nói: “Cái áo dài của chị em ngắn quá!”. Nói như thế có đúng không? Tại sao?
- Ý kiến: đúng
- Lý do: áo dài là tên gọi một loại trang phục truyền thống của người Việt Nam, ngày nay có nhiều loại áo dài cách tân được thiết kế khá ngắn.
c. Có phải mọi loại cà chua đều chua không? Nói: “Quả cà chua này ngọt quá có được không?”
- Ý kiến: được
- Lý do: cà chua là tên gọi của một loại quả, chứ không phải để chỉ vị của loại quả ấy.
d. Có phải mọi loại cá màu vàng đều là cá vàng không? Cá vàng là loại cá như thế nào?
- Ý kiến: không phải
- Cá vàng là loại cá mắt lồi, thân ngắn, tròn, có vây rất dài và thường được nuôi làm cảnh. Có loại có màu vàng, nhưng cũng có nhiều màu khác như đỏ, đen, trắng…
Câu 6. So sánh nghĩa của các từ ghép mát tay, nóng lòng, gang thép (Anh ấy là một chiến sĩ gang thép), tay chân (một tay chân thân tín) với nghĩa của những tiếng tạo nên chúng.
- mát tay: có vẻ như thích hợp hoặc rất khéo tay nên dễ thành công, đạt được kết quả tốt trong những công việc cụ thể
• mát: có nhiệt độ vừa phải, không nóng, nhưng cũng không lạnh, gây cảm giác dễ chịu
• tay: bộ phận của cơ thể người, từ vai đến các ngón, dùng để cầm, nắm
- nóng lòng: có tâm trạng thôi thúc muốn được làm ngay việc gì vì không thể chờ đợi lâu hơn được nữa
• nóng: có nhiệt độ cao hơn so với nhiệt độ cơ thể người, hoặc cao hơn mức được coi là trung bình
• lòng: phần ở giữa hay ở trong một số vật, có khả năng chứa đựng hay che chở
- gang thép: cứng cỏi, vững vàng đến mức không gì lay chuyển được (tựa như gang và thép)
• gang: hợp kim của sắt với cacbon và một số nguyên tố, thường dùng để đúc đồ vật.
• thép: hợp kim của sắt với một lượng nhỏ carbon, bền, cứng và dẻo
- tay chân: kẻ giúp việc đắc lực, tin cẩn (hàm ý không coi trọng)
• tay: bộ phận của cơ thể người, từ vai đến các ngón, dùng để cầm, nắm
• chân: bộ phận dưới cùng của cơ thể người hay động vật, dùng để đi, đứng, chạy, nhảy, v.v.
=> Nghĩa của các từ trên hoàn toàn khác so với các tiếng tạo thành.
Câu 7. Phân tích cấu tạo từ ghép: máy hơi nước, than tổ ong, bánh đa nem theo mẫu.
- Máy hơi nước: tiếng chính: máy, tiếng phụ: hơi nước( trong tiếng phụ: hơi là tiếng chính, nước là tiếng phụ).
- Than tổ ong: tiếng chính: than, tiếng phụ: tổ ong (trong tiếng phụ: tổ là tiếng chính, ông là tiếng phụ)
- Bánh đa nem: tiếng chính: bánh, tiếng phụ: đa nem (trong tiếng phụ: đa: tiếng chính, nem: tiếng phụ).
* Bài tập ôn luyện:
Câu 1. Tìm từ ghép trong đoạn văn sau:
“Biển luôn thay đổi tuỳ theo màu sắc mây trời. Trời xanh thẳm, biển cũng thẳm xanh, như dâng cao lên chắc nịch. Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi sương. Trời âm u mây mưa, biển xám xịt, nặng nề . Trời ầm ầm dông gió, biển đục ngầu giận giữ. Như một con người biết buồn vui. Biển lúc tẻ nhạt, lạnh lùng, lúc sôi nổi, hả hê, lúc đăm chiêu, gắt gỏng.”
Câu 2. Thi tìm nhanh các từ ghép chính phụ chỉ tên các loài hoa, tên các phương tiện giao thông.
Gợi ý:
Câu 1.
Các từ ghép là: màu sắc, mây trời, xanh thẳm, thẳm xanh, dâng cao, chắc nịch, mây trắng, mây mưa, dông gió, đục ngầu, con người, buồn vui, tẻ nhạt, đăm chiêu.
Câu 2.
- Tên các loài hoa: hoa hồng, hoa lan, hoa cẩm chướng, hoa xoan, hoa sữa, hoa đào, hoa mơ, hoa cẩm tú cầu…
- Tên các phương tiện giao thông: xe máy, xe đạp, xe ô tô, xe buýt, xe khách…
Tuần ......: Bài 1 - Tiết ......: Tiếng Việt:
LIÊN KẾT TRONG VĂN BẢN
I. Liên kết và phương tiện liên kết trong văn bản
1. Tính liên kết của văn bản
a. Nếu bố của En-ri-cô chỉ viết như đoạn văn trong SGK, thì En-ri-cô sẽ chưa hiểu được điều bố muốn nói.
b. Lý do: Vì giữa các câu chưa có sự liên kết
c. Muốn cho đoạn văn có thể hiểu được thì cần tạo ra sự liên kết giữa các câu văn.
2. Phương tiện liên kết trong văn bản
a.
- Đoạn văn khó hiểu do thiếu sự liên kết.
- Sửa lại: Thêm các câu văn kết nối: “Sự hỗn láo của con như một nhát dao…”
b.
Sửa lại: Một ngày kia, con xa lắm, ngày đó con sẽ biết được thế nào là không ngủ được. Còn bây giờ, giấc ngủ đến với con dễ dàng như uống một ly sữa, ăn một cái kẹo. Gương mặt thanh thoát của con tựa nghiêng trên gối mềm, đôi môi hé mở và thỉnh thoảng chúm lại như đang mút kẹo.
c. Để văn bản có tính liên kết thì người viết phải làm cho nội dung của các câu, các đoạn thống nhất và gắn bó chặt chẽ với nhau.
Các câu trong đoạn văn phải liên kết bằng những phương tiện ngôn ngữ thích hợp.
=> Tổng kết:
- Phép liên kết là một trong những tính chất quan trọng nhất của văn bản , làm cho văn bản trở nên có nghĩa, dễ hiểu.
Để văn bản có tính liên kết, người viết (người nói) phải làm cho nội dung của các câu, các đoạn thống nhất và gắn bó chặt chẽ với nhau; đồng thời phải biết kết nối các câu, các đoạn bằng những phương tiện ngôn ngữ (từ, câu…) thích hợp.
II. Luyện tập
Câu 1. Sắp xếp các câu trong đoạn văn ở SGK theo một thứ tự hợp lí để tạo thành một đoạn văn có tính liên kết.
Gợi ý: Sắp xếp: (1), (4), (2), (5), (3)
Câu 2. Các câu văn trong SGK có tính liên kết chưa? Tại sao?
- Khi đọc đoạn văn, xét về hình thức các câu văn có vẻ rất liên kết khi đang viết về mẹ.
- Nhưng khi đọc từng câu, nội dung của các câu không liên quan gì đến nhau:
• Câu văn 1: Nhân vật “tôi” nhớ về mẹ lúc “tôi lên mười”
• Câu văn 2: Nhân vật tôi kể lại việc mẹ dắt đi trên con đường làng.
• Câu văn 3: Nhân vật tôi kể chuyện buổi sáng: tôi nói lời thiếu lễ độ với mẹ
• Câu văn 4: Nhân vật tôi kể chuyện buổi chiều: mẹ cho đi chơi.
=> Người mẹ trong 4 câu chẳng có liên quan gì đến nhau.
Câu 3. Điền từ thích hợp vào chỗ trống.
“Bà ơi! Cháu thường về đây, ra vườn, đứng dưới gốc na, gốc ổi mong tìm lại hình bóng của bà và nhớ lại ngày nào bà trồng cây, cháu chạy lon ton bên bà. Bà bảo khi nào có quả bà sẽ giành quả to nhất, ngon nhất cho cháu nhưng cháu lại bảo quả to nhất, ngon nhất phải để phần bà. Thế là bà ôm cháu vào lòng, hôn cháu một cái thật kêu”
Câu 4.
• Câu văn1: Nói về việc mẹ không ngủ được
• Câu văn 2: Nói về việc ngày mai là ngày khai trường của con.
- Hai câu trong văn bản Cổng trường mở ra có sự liên kết không chặt chẽ nhưng vẫn được đặt cạnh nhau. Cần chú ý đến câu tiếp theo: “Mẹ sẽ đưa con đến trường, mẹ sẽ cầm tay con…” thì giữa ba câu đã có sự liên kết. Người mẹ không ngủ được vì ngày mai sẽ là ngày khai trường lớp 1 của con, đó là một ngày có ý nghĩa trọng đại mà mẹ sẽ cùng con trải qua.
Câu 5.
Nếu không có phép màu của bụt thì cây tre trăm đốt chỉ là những khúc trẻ rời rạc, nhỏ bé và vô dụng mà thôi.
Câu chuyện giúp em hiểu ra vai trò quan trọng của liên kết trong văn bản. Nếu không có sự liên kết thì các câu văn sẽ không tạo thành một chỉnh thể trọn vẹn.
PBS:
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………
Tuần ......: Bài 2 - Tiết ......: Đọc – Hiểu văn bản
CUỘC CHIA TAY CỦA NHỮNG CON BÚP BÊ
I. Tìm hiểu chung
1) Tác giả
- Khánh Hoài sinh năm 1937, quê ở Đông Hưng, Thái Bình.
- Một số tác phẩm của ông đã được xuất bản: Trận chung kết (truyện dài, 1975), Những chuyện bất ngờ (truyện vừa 1978), Chuyện ở lớp, chuyện ở nhà (hay Băng ngũ hổ, truyện vừa, 1993-1994), Cuộc chia tay của những con búp bê (truyện, 1992)...
- Một số giải thưởng ông đã đạt được:
+ Giải A, giải Văn nghệ Vĩnh Phú 10 năm (1975-1985) (truyện dài Trận chung kết).
+ Giải Nhì cuộc thi thơ -văn viết về quyền trẻ em do Viện Khoa học Giáo dục và Tổ chức cứu trợ trẻ em Rát-đa Bác-nen (Thụy Điển) tổ chức (cho truyện ngắn Cuộc chia tay của những con búp bê)
+ Giải chính thức giải thưởng Hùng Vương (Hội Văn nghệ Vĩnh Phú) (cho tập Chuyện ở lớp, chuyện ở nhà).
2) Tác phẩm
1. Hoàn cảnh sáng tác
- Cuộc chia tay của những con búp bê được sáng tác năm 1992.
- Truyện được trao giải Nhì trong cuộc thi thơ - văn viết về quyền trẻ em do Viện Khoa học Giáo dục và Tổ chức cứu trợ trẻ em Rát-đa Bác-nen - Thụy Điển tổ chức vào năm 1992.
2. Tóm tắt
Hai anh em Thành và Thủy hết mực yêu thương nhau. Nhưng vì bố mẹ ly hôn nên hai anh em không thể tiếp tục sống với nhau được nữa. Trước ngày chia tay, mẹ ra lệnh cho cả hai phải chia đồ chơi. Thành dành hầu hết số đồ chơi cho em: bộ tú lơ khơ, bàn cá ngựa, những con ốc biển và bộ chỉ màu và ngay cả hai con búp bê là Em Nhỏ và Vệ Sĩ. Ngày hôm sau, Thành đưa Thủy đến trường để chia tay cô giáo và bạn bè. Cô tặng cho Thủy một quyển sổ và một chiếc bút mực nhưng Thủy không dám nhận vì không còn được đi học nữa. Khi hai anh em về đến nhà thì đã nhìn thấy một chiếc xe tải đỗ trước cổng, cuộc chia tay quá đột ngột khiến cả hai bàng hoàng. Thủy chạy vào nhà lấy con Vệ Sĩ đưa cho Thành để nó gác cho anh ngủ. Nhưng sau đó, cô bé lại đem cả con Em Nhỏ lại cho anh và bắt anh hứa không bao giờ để chúng phải xa nhau nữa.
3. Bố cục
Gồm 3 phần:
• Phần 1: Từ đầu đến “hiếu thảo như vậy”. Cảnh hai anh em chia đồ chơi.
• Phần 2. Tiếp theo đến “ươm trùm lên cảnh vật”. Cuộc chia tay của hai anh em với thầy cô và bạn bè.
• Phần 3. Còn lại. Cuộc chia tay của hai anh em.
III. Đọc - hiểu văn bản
1. Cảnh hai anh em chia đồ chơi
- Hoàn cảnh: Mẹ yêu cầu anh em Thành và Thủy đem đồ chơi ra chia.
- Tâm trạng của Thành và Thủy khi biết hai anh em sắp phải chia tay nhau:
• Thủy: Bất giác run lên bần bật, kinh hoàng đưa cặp mắt tuyệt vọng nhìn anh; cặp mắt đen của em lúc này buồn thăm thẳm, hai bờ mi đã sưng mọng lên vì khóc nhiều, khóc cả đêm
• Thành: Nghe tiếng khóc tức tưởi của em, cứ phải cắn chặt môi để khỏi bật lên tiếng khóc to, nhưng nước mắt cứ tuôn ra như suối, ướt đầm cả gối và hai cánh tay áo.
=> Cả hai anh em đều cảm thấy rất buồn bã và đau khổ.
- Cả hai nhớ lại những kỉ niệm đã qua:
• Gia đình khá giả, hai anh em rất yêu thương nhau.
• Hồi còn học lớp Năm, có lần Thành đi đá bóng về bị xoạc một miếng áo to, vì sợ mẹ đánh mà không dám về nhà. Nghe lũ bạn mách, Thủy đã chạy ra sân vận động vá lại áo cho anh.
• Chiều nào, Thành cũng đi đón em và giúp em học.
=> Tình cảm anh em sâu đậm, gắn bó.
- Cảnh chia đồ chơi:
• Hai anh em bị mẹ gọi vào chia đồ chơi.
• Cả hai giật mình , Thủy như người mất hồn, loạng choạng bám vào cánh tay anh.
• Thành dành toàn bộ độ chơi cho em dù chẳng có gì nhiều. Nhưng Thủy cũng muốn để lại hết cho anh.
• Chỉ có duy nhất hai con Em Nhỏ và Vệ Sĩ là Thủy không muốn chia cắt chúng.
=> Thành và Thủy rất mực gần gũi, cả hai anh em đều nhường nhịn và yêu thương nhau.
2. Cuộc chia tay của hai anh em với thầy cô và bạn bè
- Hoàn cảnh: Sau khi chia đồ chơi, Thành đã đưa Thủy đến trường.
- Cuộc chia tay của hai anh em và thầy cô:
• Khi đến trường, cô giáo đang giảng bài. Thủy cắn chặt môi im lặng, mắt đăm đăm nhìn khắp sân trường rồi bật khóc thút thít.
• Cô giáo nhận ra Thủy và kêu em vào lớp học.
• Cô tặng cho em một cái bút máy nắp vàng và một quyển sổ.
• Khi Thủy bảo rằng sẽ không được đi học nữa. Cô giáo và các bạn đều sửng sốt và nước mắt giàn giụa.
=> Cô giáo và bạn bè đều yêu quý và rất thương Thủy.
3. Cuộc chia tay của hai anh em
- Hoàn cảnh: Khi vừa tới nhà, hai anh em đã nhìn thấy một chiếc xe tải đỗ trước cổng, mấy người hàng xóm đang giúp khuân đồ lên xe.
- Tâm trạng của hai anh em: Cuộc chia tay đột ngột khiến cả hai đều bất ngờ.
• Thủy: Như người mất hồn, mặt tái xanh như tàu lá. Em vội vàng chạy vào trong nhà lấy con Vệ Sĩ đưa cho anh để nó trông cho anh ngủ.
• Thành: Qua những làn nước mắt, Thành nhìn theo mẹ và em đang trèo lên xe.
- Bỗng nhiên Thủy chạy lại và đưa con Em Nhỏ cho anh, bắt anh phải hứa không bao giờ để chúng xa nhau. Thành hứa với em, rồi đứng lặng nhìn theo cái bóng nhỏ liêu xiêu của em.
- Hình ảnh cuối truyện: chiếc xe tải rồ máy, lao ra đường và phóng đi mất hút.
=> Cuộc chia tay diễn ra đẫm nước mắt, buồn bã và đau thương. Cả hai anh em đều sẽ không biết bao giờ mới có thể gặp lại nhau
III. Tổng kết
.-. Giá trị nội dung
Cuộc chia tay của những con búp bê là câu chuyện kể về cuộc chia tay đầy đau đớn và cảm động của hai anh em. Cuộc chia tay khiến cho người đọc nhận ra: Tổ ấm gia đình là vô cùng quý giá và quan trọng. Mỗi người hãy cố gắng bảo vệ và giữ gìn, không nên vì bất cứ lý do gì làm tổn hại những tình cảm tự nhiên, trong sáng.
.-. Giá trị nghệ thuật
- Truyện được kể theo ngôi thứ nhất.
- Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế.
Tuần ......: Bài 2 - Tiết ......: Tậm làm văn
BỐ CỤC TRONG VĂN BẢN
I. Bố cục và những yêu cầu về bố cục trong văn bản
1. Bố cục của văn bản
a.
- Muốn viết một lá đơn gia nhập Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh thì nội dung của nó phải sắp xếp thành một trật tự nhất định.
- Không thể tùy thích muồn ghi nội dung nào trước cũng được. Vì văn bản cần phải được viết theo một bố cục rõ ràng hợp lý, nếu viết tùy tiện sẽ khiến cho người đọc khó hiểu.
b. Khi xây dựng văn bản, cần phải quan tâm đến bố cục vì chỉ có như vậy, văn bản mới được sắp xếp một cách hợp lý từ các phần, đoạn, các ý sẽ biểu đạt đúng nội dung theo một trình tự chặt chẽ.
2. Những yêu cầu về bố cục trong văn bản
a. Hai câu chuyện trong SGK đều chưa có bố cục hợp lý.
b. Cách kể chuyện bất hợp lý ở chỗ:
- Câu chuyện (1):
• Đoạn văn thứ nhất: Việc ếch coi trời bằng vung kể trước, lý do kể sau: con ếch quen sống trong đáy giếng.
• Đoạn văn thứ hai: Câu cuối ở đoạn thứ nhất đang nói đến việc: trời mưa làm nước trong giếng tràn bờ đưa ếch ra ngoài. Nhưng câu đầu tiên của đoạn thứ hai: kể về lúc con ếch ở bên trong giếng. Kết thúc đoạn thứ hai: nhắc đến việc con trâu trở thành bạn của nhà nông.
- Câu chuyên (2):
• Đoạn thứ nhất: Kể về một anh tính hay khoe, có chiếc áo mới liền đứng ngoài cổng để khoe với người qua đường.
• Đoạn thứ hai: Nói kết quả trước: khoe được áo, nói lý do sau: một anh tính cũng hay khoe chạy qua hỏi về con lợn cưới của mình.
c. Cách sắp xếp bố cục của hai câu chuyện trên không hợp lý, gây khó hiểu cho người đọc và không tạo được tiếng cười.
3. Các phần bố cục
a. Nhiệm vụ của mở bài, thân bài và kết bài trong văn bản miêu tả và tự sự:
- Tự sự
• Mở bài: Giới thiệu chung về nhân vật và sự việc
• Thân bài: Kể lại diễn biến sự việc
• Kết bài: Kết quả của sự việc
- Miêu tả:
• Mở bài: Giới thiệu sự vật, sự việc được miêu tả
• Thân bài: Tả chi tiết sự vật, sự việc đó.
• Kết bài: Cảm nghĩ của người viết về sự vật, sự việc đó.
b. Cần phần biệt nhiệm vụ của mỗi phần, vì trước hết mỗi phần đều có một vai trò riêng, không giống nhau. Đồng thời, giúp cho văn bản mạch lạc, chặt chẽ.
c. Ý kiến trên hoàn toàn không đúng. Vì mở bài không chỉ là sự tóm tắt, rút gọn của thân bài mà phải làm cho người đọc người nghe đi vào đề tài một cách dễ dàng tự nhiên và gợi sự hứng thú. Còn kết bài cần phải nêu được cảm nghĩ của người viết cũng như gợi mở cho người đọc người nghe một ấn tượng tốt đẹp.
=> Tổng kết:
- Văn bản không được viết một cách tùy tiện mà phải có bố cục rõ ràng. Bố cục là sự sắp xếp các phần, các đoạn theo một trình tự, một hệ thống rành mạch và hợp lí.
- Các điều kiện để bố cục được rành mạch và hợp lí:
• Nội dụng các phần, các đoạn trong văn bản phải thống nhất, chặt chẽ với nhau; đồng thời, giữa chúng lại phải có sự phân biệt rạch ròi.
• Trình tự sắp xếp các phần, các đoạn phải giúp cho người viết (người nói) dễ dàng đạt được mục đích giao tiếp đã đặt ra.
- Văn bản thường được xây dựng theo một bố cục gồm ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài.
II. Luyện tập
Câu 1.
* Ví dụ: Bài văn tả khung cảnh trường em trong ngày khai giảng. '
- Mở bài: Cần giới thiệu được đối tượng miêu tả: khung cảnh trường em trong ngày khai giảng.
- Thân bài: Miêu tả theo một trình tự cụ thể về không gian hoặc thời gian.
• Trước khi buổi lễ diễn ra: Từ cổng vào sân trường, đến các dãy phòng học và trung tâm là sân khấu.
• Trong quá trình buổi lễ diễn ra: Miêu tả khung cảnh trên sân khấu và dưới sân trường là chủ yếu.
• Kết thúc buổi lễ: Miêu tả khái quát toàn bộ khung cảnh.
- Kết bài: Cảm xúc của em sau buổi lễ.
* Khi viết cần chú ý về hình thức: có sự liên kết giữa các câu văn, đoạn văn trong văn bản. Nội dung của toàn bài thống nhất.
=> Khi xây dựng văn bản theo bố cục như trên giúp cho người đọc, người nghe hiểu được toàn bộ văn bản.
Câu 2.
- Bố cục của văn bản Cuộc chia tay của những con búp bê: Gồm 3 phần
• Phần 1: Từ đầu đến “hiếu thảo như vậy”. Cảnh hai anh em chia đồ chơi.
• Phần 2. Tiếp theo đến “ươm trùm lên cảnh vật”. Cuộc chia tay của hai anh em với thầy cô và bạn bè.
• Phần 3. Còn lại. Cuộc chia tay của hai anh em.
- Bố cục đã tạo được sự hợp lí, rành mạch.
Việc thay đổi theo một bố cục khác là không cần thiết.
Câu 3.
- Bố cục trong SGK còn chưa rành mạch và hợp lý.
- Lý do: Các phần đều còn thiếu một số ý quan trọng.
- Bổ sung:
1. Mở bài:
- Chào mừng…
- Giới thiệu tên, tuổi và trường lớp
2. Thân bài
Bỏ phần (4) Nêu thành tích hoạt động Đội và thành tích văn nghệ của bản thân. Vì đây là báo cáo hoạt động học tập nên không cần thiết phải báo cáo thành tích các hoạt động ngoại khóa.
3. Kết bài
- Tóm tắt lại nội dung vừa trình bày: Gồm mấy phần chính.
- Mở rộng: Định hướng mới mà bản thân sắp thực hiện.
- Chúc Hội nghị thành công.
* Bài tập ôn luyện hoặc kiểm tra tùy vào thời gian còn lại mà GV cho HS thực hiện bài tập
Đề bài: Hãy xác định bố cục cần xây dựng cho đoạn văn kể về một kỉ niệm đáng nhớ.
Gợi ý: Học sinh cần xây dựng được bố cục ba phần: mở bài, thân bài và kết bài cho bài văn trên.
* Mở bài
- Giới thiệu về kỉ niệm đáng nhớ đó là gì? (được thầy cô khen, bị hiểu lầm, nói dối cha mẹ…)
- Ấn tượng chung của em về kỉ niệm ấy (vui vẻ, hạnh phúc, xấu hổ…)
* Thân bài
1. Hoàn cảnh diễn ra kỷ niệm:
- Kỉ niệm đó diễn ra khi nào?
- Kỉ niệm đó liên quan đến ai?
2. Diễn biến của câu chuyện:
- Nêu mở đầu câu chuyện và diễn biến như thế nào
- Trình bày đỉnh điểm của câu chuyện
- Thái độ, tình cảm của nhân vật trong chuyện
3. Kết thúc câu chuyện
- Câu chuyện kết thúc như thế nào
- Nêu suy nghĩ và cảm nhận của bạn qua câu chuyện.
* Kết bài
- Bài học em nhận ra sau kỷ niệm đó.
Tuần ......: Bài...... - Tiết ......: Tậm làm văn
MẠCH LẠC TRONG VĂN BẢN
I. Mạch lạc và những yêu cầu về mạch lạc
1. Mạch lạc trong văn bản
a. Mạch lạc trong văn bản có những tính chất:
- Trôi chảy thành dòng, thành mạch.
- Tuần tự đi qua khắp các phần, các đoạn trong văn bản.
- Thông suốt, liên tục, không đứt đoạn.
b.
- Ý kiến: Trong văn bản, mạch lạc là sự tiếp nối của các câu, các ý theo một trình tự hợp lí là đúng.
- Lý do: Các câu văn, các ý văn chính là những yếu tố cơ bản làm nên một văn bản. Chỉ khi các yếu tố này được viết theo một trình tự hợp lý, chặt chẽ thì mới tạo ra một văn bản mạch lạc.
2. Các điều kiện để có một văn bản mạch lạc
a.
- Toàn bộ sự việc trong văn bản “Cuộc chia tay của những con búp bê” xoay quanh sự việc chính: Hai anh em Thành và Thủy phải chia tay nhau do bố mẹ ly hôn.
- “Sự chia tay” và “những con búp bê” đóng vai trò xuyên suốt toàn bộ tác phẩm.
- Quá trình chia đồ chơi của hai anh em, sự chia cắt của hai con búp bê và cuộc chia tay đẫm nước mắt của hai anh em.
- Hai anh em Thành và Thủy là những nhân vật chính của câu chuyện.
b.
Một loạt những từ ngữ và chi tiết trên là chủ để liên kết các sự việc thành một thể thống nhất. Đó có thể được xem là mạch lạc trong văn bản.
c.
- Các đoạn ấy được nối với nhau theo mối liên hệ về thời gian (sáng sớm hôm ấy, gần trưa, chiều), không gian (ở nhà, ở trường)
- Những mối liên hệ ấy diễn ra hết sức tự nhiên và hợp lý.
=> Tổng kết:
- Văn bản cần phải mạch lạc.
- Một văn bản có tính mạch lạc là văn bản:
• Các phần các đoạn các câu trong văn bản đều nói về một đề tài, biểu hiện một chủ đề chung xuyên suốt.
• Các phần, các đoạn, các câu trong văn bản được tiếp nối theo một trình tự rõ ràng, hợp lý, trước sau hô ứng nhau nhằm làm cho chủ đề liền mạch và gợi được nhiều hứng thú cho người đọc (người nghe).
II. Luyện tập
Câu 1. Hãy tìm hiểu tính mạch lạc:
a. Văn bản "Mẹ tôi":
- Có lời giới thiệu của nhân vật tôi: lý do mà bố viết thư cho mình.
- Sau đó, nội dung bức thư được En-ri-cô nhắc lại toàn bộ:
• Việc En-ri-cô hỗn láo với mẹ vào buổi sáng khi cô giáo đến thăm.
• Bố nhắc lại quá khứ mẹ lo mất con, đánh giá sự hy sinh của mẹ.
• Đặt giả thiết ngày mẹ mất và con sẽ cảm thấy hối hận như thế nào.
• Yêu cầu con không lặp lại lỗi lầm.
- Chủ đề xuyên suốt trong văn bản: tình mẹ
- Các đoạn văn có sự liên kết.
b.
(1) Văn bản: Lão nông và các con
- Chủ đề xuyên suốt: Lao động sẽ đem lại cho con người những giá trị to lớn.
- Bố cục:
• Mở bài: 2 câu đầu. Đặt vấn đề
• Thân bài: 14 dòng tiếp theo. Kể lại chi tiết diễn biến.
• Kết bài: 4 câu cuối. Ý nghĩa của câu chuyện.
(2)
- Chủ đề xuyên suốt: Khung cảnh làng quê giữa ngày mùa.
- Bố cục:
• Mở bài: Giới thiệu đối tượng cần miêu tả: khung cảnh làng quê giữa ngày mùa với màu vàng là chủ đạo.
• Thân bài: Miêu tả chi tiết khung cảnh giữa ngày mùa: từng sự vật với những sắc vàng khác nhau.
• Kết bài: Cảm xúc về sắc vàng.
=> Trình tự ba phần thống nhất với chủ đề xuyên suốt.
Câu 2.
- Câu chuyện xuyên suốt trong văn bản “Cuộc chia tay của những con búp bê”: cuộc chia tay của hai anh em và hai con búp bê.
- Sự việc chia tay của bố mẹ Thành và Thủy chỉ đóng vai trò là nguyên nhân của cuộc chia tay ấy, nên không cần thiết phải kể rõ ra.
- Nếu kể chi tiết sẽ khiến cho câu chuyện chính bị phân tán, làm cho văn bản không có sự thống nhất, mất đi tính mạch lạc.
* Bài tập ôn luyện: Hãy cho biết tính mạch lạc trong văn bản “Cổng trường mở ra” của Lý Lan.
- Chủ đề xuyên suốt: Tình cảm yêu thương và niềm tin của người mẹ dành cho đứa con được thể hiện trong đêm trước ngày khai trường vào lớp Một của con. Vai trò của nhà trường đối với sự phát triển của mỗi con người.
- Bố cục hợp lý với hai phần bao quát chủ đề văn bản.
• Phần 1: Từ đầu đến “ mẹ vừa bước vào”. Diễn biến tâm trạng của người mẹ đêm trước ngày khai trường của con.
• Phần 2. Còn lại. Suy nghĩ của mẹ về vai trò của giáo dục.
- Nhân vật chính: mẹ và đứa con.
- Các câu văn, đoạn văn được liên kết với nhau chặt chẽ, thống nhất trong m
 








Các ý kiến mới nhất