Violet
Giaoan

Tin tức thư viện

Khắc phục hiện tượng không xuất hiện menu Bộ công cụ Violet trên PowerPoint và Word

12099162 Kính chào các thầy, cô. Khi cài đặt phần mềm , trên PowerPoint và Word sẽ mặc định xuất hiện menu Bộ công cụ Violet để thầy, cô có thể sử dụng các tính năng đặc biệt của phần mềm ngay trên PowerPoint và Word. Tuy nhiên sau khi cài đặt phần mềm , với nhiều máy tính sẽ...
Xem tiếp

Quảng cáo

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Giáo án

Tương An Quận Vương

Nhấn vào đây để tải về
Hiển thị toàn màn hình
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Bùi Thụy Đào Nguyên
Ngày gửi: 03h:37' 24-03-2009
Dung lượng: 53.5 KB
Số lượt tải: 10
Số lượt thích: 0 người

Giới thiệu Tương An Quận Vương.

Tương An Quận Vương tên Nguyễn Phúc Miên Bửu (30 tháng 5 năm 1820 –8 tháng 3 năm 1854), tự Duy Thiện và Sư Cổ, hiệu Khiêm Trai và Mai Hiên. Ông là con thứ mười hai của vua Minh Mạng, là anh em cùng cha khác mẹ với Miên Thẩm (Tùng Thiện Vương), Miên Trinh (Tuy Lý Vương). Và cả ba vị hoàng tử này cùng ở Tùng Vân thi xã, cùng được người đời xưng tụng là Tam Đường thời nhà Nguyễn, Việt Nam.

Nguyễn Phúc Miên Bửu sinh tại kinh thành Huế, là con của An tần Hồ Thị Tùy.
Bà Tùy còn có tên là Khiên (1795 - 23 tháng 11 năm 1839) người tổng Bái Ân, thuộc huyện Do Linh, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Bà là con của Hồ Văn Chiêm (mất sớm, được truy tặng Cẩm Y hiệu úy), được nạp cung năm 1810, đến năm 1836 thì được phong An tần, là bậc thứ năm trong chín bậc phi tần thời Nguyễn.

Miên Bửu sinh ngày 30 tháng 5 năm 1820 (tức 19 tháng Tư năm Canh Thìn) tại Thái Tử cung sau Thanh Hòa điện trong hoàng thành Huế.
Không rõ lúc mới sinh tên gì, chỉ đến khi vua Minh Mạng định “đế hệ thi”, ông mới có tên là Miên Bửu.

Năm 1825, Miên Bửu, được đến Dưỡng Chính đường học tập cùng với các anh em khác, trong số đó có Miên Thẩm, Miên Trinh. Năm 1827, vua sai dựng thêm Minh Thiện đường cho ông và Miên Thẩm, Miên Trinh ở chung, vì thế ba người rất thân nhau.

Năm 1833, ông được phép lập phủ riêng, đến năm 1836, thì được nạp thiếp (cưới vợ). Năm 1839, ông được phong là Tương Quốc công. Năm 1842, ông hộ giá vua Thiệu Trị ra Bắc.

Năm 1843, ông được gia phong Tương An công, được cử làm giáo đạo dạy hai hoàng tử và cũng là hai cháu ruột của ông, đó là Nguyễn Phúc Hồng Bảo và Nguyễn Phúc Hồng Nhậm. Sau Hồng Nhậm được truyền ngôi, tức vua Tự Đức. Còn Hồng Bảo, người cháu được ông tương đắc và yêu mến hơn, vì âm mưu giành lại ngai vàng nên bị giam rồi chết thảm trong ngục năm 1854, khi mới 29 tuổi.

Vua Tự Đức nghi Miên Bửu có nhúng tay vào vụ việc trên, song không có chứng cứ buộc tội. Buồn vì bị theo dõi và vì xót thương cho số phận Hồng Bảo, ông đóng cửa ở lỳ trong phủ riêng, lấy thơ và rượu làm khuây. Ông qua đời ngày 8 tháng 3 năm 1854 (tức mồng 10 tháng Hai năm Giáp Dần) khi 34 tuổi.

Năm 1878, nhân dịp lễ tứ tuần đại khánh, Tự Đức sai quan đến nhà thờ truy tặng ông là Tương An quận vương.

Tác phẩm
Nguyễn Phúc Miên Bửu là người văn võ kiêm toàn: kinh sử, thi phú, đàn tỳ bà, cưỡi ngựa, bắn cung đều giỏi. Khi mất, ông có để lại:

-Khiêm Trai thi tập, do một người em là Nguyễn Phúc Miên Tuấn tập hợp và cho khắc in sau khi tác giả đã mất (khoảng năm 1878-1883). Thi tập gồm 14 quyển, 655 bài thơ chữ Hán, làm theo thể cổ phong hoặc Đường luật, lấy đề tài tả cảnh, tự tình, vịnh truyện, vịnh vật...

-Khiêm Trai văn tập gồm 2 quyển, 74 bài.

Ngoài ra, ông còn sáng tác nhiều thơ Nôm, song vì không khắc in, nên thất lạc nhiều, chỉ còn lại:

-Hoài Cổ dài 100 câu và Trăm thương dài 36 câu, cả hai khúc ngâm đều được làm theo thể lục bát phối hợp song thất lục bát, để tỏ bày mối tình tri kỷ cùng nỗi xót thương thầm kín của tác giả đối với Hồng Bảo.

-Thơ Đường luật thất ngôn bát cú còn truyền lại 13 bài.

-Hòa Lạc ca (Bài ca về chiếc thuyền Hòa Lạc): liên ngâm cùng với Miên Thẩm, Miên Trinh.

-Truyện Từ Thức, diễn Nôm theo truyện Từ Thức trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ.

Căn cứ nội dung, Nguyễn Khuê tạm chia thơ Miên Bửu thành mấy khuynh hướng, lược ghi:

-Mảng thơ nói đến nếp sống của giai cấp quí tộc, lòng tôn quân, ca ngợi các vua nhà Nguyễn, như: Cung họa ngự chế sơ chính nguyên vận (Kính họa nguyên vận bài ngự chế sơ chính), Tạ từ y cung ký nhất luật (Kính chép một bài thơ luật tạ ơn vua ban áo)...

-Mảng thơ chịu ảnh hưởng Nho, Phật và Lão, như: Thuật sự, Khiển hoài (Giải nỗi nhớ), Linh Hựu quán niệm hương hành chí đồ trung đắc cú (Bài thơ làm trên đường đi dâng hương chùa Linh Hựu), Nhân sự (Việc người đời
 
Gửi ý kiến