Tìm kiếm Giáo án
Tuần 24. Từ ấy

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Tú Anh
Ngày gửi: 20h:36' 08-05-2023
Dung lượng: 23.9 KB
Số lượt tải: 7
Nguồn:
Người gửi: Lê Tú Anh
Ngày gửi: 20h:36' 08-05-2023
Dung lượng: 23.9 KB
Số lượt tải: 7
Số lượt thích:
0 người
TỪ ẤY
TỐ HỮU
“Làm người thì không nên có cái tôi, có cái tôi thì hay mắc bệnh kiêu căng
cậy tài… Nhưng làm thơ thì không thể không có cái tôi. Không có cái tôi thì sẽ
mắc cái tôi cóp nhặt phô diễn” (Viên Mai). Đơn giản thôi, cái tôi riêng biệt ấy
chính là thứ vũ khí bí mật của mỗi thi sĩ trong thế giới văn nghệ. Nó đúng hơn như
một dạng vân tay của mỗi người. Một cái tôi thật độc lạ của thi sĩ làm nên một thi
phẩm thật đặc biệt. Đó là những gì Tố Hữu đã thể hiện trong thi phẩm “Từ ấy” của
mình.
Tố Hữu (1920 – 2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê ở huyện
Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Ở Tố Hữu, sự nghiệp thơ ca gắn liền với sự
nghiệp cách mạng. Thơ ông luôn đồng hành và phản ánh chân thực những chặng
đường cách mạng đầy gian khổ, hi sinh nhưng cũng nhiều thắng lợi vinh quang của
dân tộc Việt Nam. Năm tập thơ “Từ ấy” (1937 – 1946), “Việt Bắc” (1947 – 1954),
“Gió lộng” (1955 – 1961), “Ra trận” (1962 -1971), “Máu và hoa” (1972 – 1977)
cho thấy đặc điểm nổi bật của phong cách thơ Tố Hữu là mang tính trữ tình chính
trị về cả nội dung và đậm đà tính dân tộc trong nghệ thuật biểu hiện.
Bài thơ “Từ ấy” nằm trong phần đầu của tập thơ cùng tên. Bài thơ có ý nghĩa
mở đầu cho con đường cách mạng, con đường thơ của Tố Hữu. Nó là tuyên ngôn
về lẽ sống của một chiến sĩ cách mạng, cũng là tuyên ngôn nghệ thuật của một nhà
thơ. Từ đó cho đến khi “tạm biệt đời yêu quý nhất”, Tố Hữu đã sống và sáng tác
theo đúng định hướng ấy của bài thơ. Đối với ông, “Từ ấy là một tâm hồn trong
trẻo của tuổi mười tám, đôi mươi, đi theo lí tưởng cao đẹp, dám sống, dám đấu
tranh.” (“Câu chuyện về thơ” – Tố Hữu).
Ngay từ những dòng đầu tiên của “Từ ấy”, Tố Hữu đã lập tức diễn tả niềm
say mê khi gặp lí tưởng của Đảng:
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ,
Mặt trời chân lí chói qua tim.
Hồn tôi là một vườn hoa lá,
Rất đậm hương và rộn tiếng chim.”
Bằng bút pháp tự sự, nhà thơ kể lại một kỉ niệm không quên của đời mình trong hai
câu đầu. “Từ ấy” là cái mốc thời gian có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời cách
mạng và đời thơ của Tố Hữu, khi đó nhà thơ mới 18, hoạt động rất tích cực trong
Đoàn Thanh niên Cộng sản Huế, được giác ngộ lí tưởng cộng sản và kết nạp vào
Đảng. Bằng những hình ảnh ẩn dụ “nắng hạ”, “mặt trời chân lí”, “chói qua tim”,
Tố Hữu khẳng định lí tưởng cách mạng như một nguồn sáng mới làm bừng sáng
tâm hồn nhà thơ. Nguồn sáng ấy không phải là ánh thu vàng nhẹ hay ánh xuân dịu
dàng, mà là ánh sáng rực rỡ nhất của một ngày nắng hạ. Hơn thế, nguồn sáng ấy
còn là mặt trời, là mặt trời khác thường, “mặt trời chân lí”- một sự liên kế sáng tạo
giữa hình ảnh và ngữ nghĩa: nếu mặt trời của đời thường toả ánh sáng, hơi ấm và
sức sống thì Đảng cũng là nguồn sáng kì diệu toả ra những tư tưởng đúng đắn, hợp
lẽ phải báo hiệu những điều tốt lạnh cho cuộc sống. Nhìn chung, cách gọi lí tưởng
như vậy thể hiện thái độ thành kính, ân tình. Thêm nữa, những động từ “bừng” (chỉ
ánh sáng phát ra đột ngột), “chói” (ánh sáng có sức xuyên mạnh) càng nhấn mạnh
ánh sáng của lí tưởng đã hoàn toàn xua tan màn sương mù của ý thức tiểu tư sản và
mở ra trong tâm hồn nhà thơ một chân trời mới của nhận thức, tư tưởng và tình
cảm.
Ở hai câu sau, bút pháp trữ tình lãng mạn cùng với những hình ảnh so sánh
đã diễn tả cụ thể niềm vui sướng vô hạn của nhà thơ trong buổi đầu đén với lí
tưởng cộng sản. Đó là một thế giới tràn đầy sức sống với hương sắc của các loài
hoa, vẻ tươi xanh của cây lá, âm thanh rộn rã của tiếng chim ca hót. Đối với khu
vườn hoa lá ấy còn gì đáng quý hơn ánh sáng mặt trời? Đối với tâm hồn người
thanh niên đang băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời, còn gì đáng quý hơn khi có một lý
tưởng cao đẹp soi sáng, dẫn dắt?
Tóm lại, Tố Hữu đón nhận lí tưởng như cỏ cây hoa lá đón nhận ánh sáng
mặt trời, chính lí tưởng cộng sản đã làm tâm hồn người tràn đầy sức sống và niềm
yêu đời làm cho cuộc sống con người có ý nghĩa hơn. Nhưng Tố Hữu còn là một
nhà thơ nên vẻ đẹp và sức sống mới là hồn thơ. Cách mạng không đối lập với nghệ
thuật, trái lại, đã khơi dậy một sức sống mới, đem lại một cảm hứng sáng tạo mới
cho hồn thơ.
Cứ thế nối tiếp niềm say mê, những dòng thơ hiện dần trên trang giấy:
“Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi”
Trong quan niệm về lẽ sống, giai cấp tư sản và tiểu tư sản có phần đề cao “cái tôi”
cá nhân chủ nghĩa. Khi được giác ngộ lí tưởng, Tố Hữu khẳng định quan niệm mới
về lẽ sống là sự gắn bó hài hoà giữa “cái tôi” cá nhân và “cái ta” chung của mọi
người. Với động từ “buộc”, câu đầu của khổ hai là một cách nói quá thể hiện ý
thức tự nguyện sâu sắc và quyết tâm cao độ của Tố Hữu muốn vượt qua giới hạn
của “cái tôi” cá nhân để sống chan hoà với mọi người (“trăm nơi” là một hoán dụ
chỉ mọi người sống ở khắp nơi). Với từ “trang trải” ở câu tiếp theo liên tưởng tâm
hồn nhà thơ trải rộng với cuộc đời, tạo ra khả năng đồng cảm sâu xa với hoàn cảnh
của từng con người cụ thể.
Hai câu thơ sau cho thấy tình yêu thương con người của Tố Hữu không phải
là thứ tình thương chung chung mà là tình cảm hữu ái giai cấp:
“Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời.”
Câu thơ thứ 3 khẳng định trong mối liên hệ với mọi người nói chung, nhà thơ đặc
biệt quan tâm đến quần chúng lao khổ. Ở câu cuối, “khối đời” là một ẩn dụ chỉ một
khối người đông đảo cùng chung cảnh ngộ trong cuộc đời, đoàn kết chặt chẽ với
nhau cùng phấn đấu vì một mục tiêu chung. Có thể hiểu: khi “cái tôi” chan hoà
trong “cái ta”, khi cá nhân hoà mình vào một tập thể cùng lí tưởng thì sức mạnh
của mỗi người sẽ được nhân lên gấp bội.
Tóm lại, Tố Hữu đã đặt mình giữa dòng đời và trong môi trường rộng lớn
của quần chúng lao khổ, ở đấy Tố Hữu đã tìm thấy niềm vui và sức mạnh mới
không chỉ bằng nhận thức mà còn bằng tình cảm yêu mến, bằng sự giao cảm của
những trái tim. Qua đó, Tố Hữu cũng khẳng định mối liên hệ sâu sắc giữa văn học
và cuộc sống của quần chúng nhân dân.
Cuối cùng, sau những nhận thức mới mẻ về lẽ sống, Tố Hữu đã cho thấy sự
chuyển biến sâu sắc trong tình cảm của tác giả:
“Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm, cù bất cù bơ…”
Trước khi được giác ngộ lí tưởng, Tố Hữu là một thanh niên tiểu tư sản. Lí tưởng
cộng sản không chỉ giúp nhà thơ có được lẽ sống mới mà còn giúp nhà thơ vượt
qua tình cảm ích kỉ, hẹp hòi của giai cấp tiểu tư sản để có được tình hữu ái giai cấp
với quần chúng lao khổ. Hơn thế, đó còn là tình thân yêu ruột thịt. Những điệp từ
“là” cùng với các từ “con”, “em”, “anh” và số từ ước lệ “vạn” (chỉ số lượng hết sức
đông đảo) nhấn mạnh, khẳng định một tình cảm gia đình thật đầm ấm, thân thiết,
cho thấy nhà thơ đã cảm nhận sâu sắc bản thân mình là thành viên của đại gia đình
quần chúng lao khổ. Tấm lòng đồng cảm xót thương còn biểu hiện thật xúc động,
chân thành khi nói tới những “kiếp người phôi pha” (những người đau khổ, bất
hạnh, lao động vất vả), những em nhỏ “không áo cơm cù bất cù bơ” (những em bé
không nơi nương tựa phải lang thang vất vưởng, nay đây mai đó). Qua những lời
thơ ấy cũng có thể thấy được lòng căm giận của nhà thơ trước bao bất công, ngang
trái của cuộc đời cũ. Chính vì những kiếp người phôi pha, những em bé cù bất cù
bơ ấy mà người thanh niên Tố Hữu hăng say hoạt động cách mạng, và họ cũng
chính là đối tượng sáng tác chủ yêu của thi sĩ Tố Hữu (cô gái giang hồ trong
“Tiếng hát sống Hương”, chú bé đi ở trong “Đi đi em”, ông lão khốn khổ trong
“Lão đầy tớ”, …)
Đến đây có thể thấy, về quan điểm nhận thức và sáng tác, bài thơ là tuyên
ngôn cho tập “Từ ấy” nói riêng và cho toàn bộ tác phẩm của Tố Hữu nói chung.
Đó là quan điểm của giai cấp vô sản với nội dung quan trong là nhận thức sâu sắc
về mối liên hệ giữa cá nhân với quần chúng lao khổ, với nhân loại cần lao.
TỐ HỮU
“Làm người thì không nên có cái tôi, có cái tôi thì hay mắc bệnh kiêu căng
cậy tài… Nhưng làm thơ thì không thể không có cái tôi. Không có cái tôi thì sẽ
mắc cái tôi cóp nhặt phô diễn” (Viên Mai). Đơn giản thôi, cái tôi riêng biệt ấy
chính là thứ vũ khí bí mật của mỗi thi sĩ trong thế giới văn nghệ. Nó đúng hơn như
một dạng vân tay của mỗi người. Một cái tôi thật độc lạ của thi sĩ làm nên một thi
phẩm thật đặc biệt. Đó là những gì Tố Hữu đã thể hiện trong thi phẩm “Từ ấy” của
mình.
Tố Hữu (1920 – 2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê ở huyện
Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Ở Tố Hữu, sự nghiệp thơ ca gắn liền với sự
nghiệp cách mạng. Thơ ông luôn đồng hành và phản ánh chân thực những chặng
đường cách mạng đầy gian khổ, hi sinh nhưng cũng nhiều thắng lợi vinh quang của
dân tộc Việt Nam. Năm tập thơ “Từ ấy” (1937 – 1946), “Việt Bắc” (1947 – 1954),
“Gió lộng” (1955 – 1961), “Ra trận” (1962 -1971), “Máu và hoa” (1972 – 1977)
cho thấy đặc điểm nổi bật của phong cách thơ Tố Hữu là mang tính trữ tình chính
trị về cả nội dung và đậm đà tính dân tộc trong nghệ thuật biểu hiện.
Bài thơ “Từ ấy” nằm trong phần đầu của tập thơ cùng tên. Bài thơ có ý nghĩa
mở đầu cho con đường cách mạng, con đường thơ của Tố Hữu. Nó là tuyên ngôn
về lẽ sống của một chiến sĩ cách mạng, cũng là tuyên ngôn nghệ thuật của một nhà
thơ. Từ đó cho đến khi “tạm biệt đời yêu quý nhất”, Tố Hữu đã sống và sáng tác
theo đúng định hướng ấy của bài thơ. Đối với ông, “Từ ấy là một tâm hồn trong
trẻo của tuổi mười tám, đôi mươi, đi theo lí tưởng cao đẹp, dám sống, dám đấu
tranh.” (“Câu chuyện về thơ” – Tố Hữu).
Ngay từ những dòng đầu tiên của “Từ ấy”, Tố Hữu đã lập tức diễn tả niềm
say mê khi gặp lí tưởng của Đảng:
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ,
Mặt trời chân lí chói qua tim.
Hồn tôi là một vườn hoa lá,
Rất đậm hương và rộn tiếng chim.”
Bằng bút pháp tự sự, nhà thơ kể lại một kỉ niệm không quên của đời mình trong hai
câu đầu. “Từ ấy” là cái mốc thời gian có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời cách
mạng và đời thơ của Tố Hữu, khi đó nhà thơ mới 18, hoạt động rất tích cực trong
Đoàn Thanh niên Cộng sản Huế, được giác ngộ lí tưởng cộng sản và kết nạp vào
Đảng. Bằng những hình ảnh ẩn dụ “nắng hạ”, “mặt trời chân lí”, “chói qua tim”,
Tố Hữu khẳng định lí tưởng cách mạng như một nguồn sáng mới làm bừng sáng
tâm hồn nhà thơ. Nguồn sáng ấy không phải là ánh thu vàng nhẹ hay ánh xuân dịu
dàng, mà là ánh sáng rực rỡ nhất của một ngày nắng hạ. Hơn thế, nguồn sáng ấy
còn là mặt trời, là mặt trời khác thường, “mặt trời chân lí”- một sự liên kế sáng tạo
giữa hình ảnh và ngữ nghĩa: nếu mặt trời của đời thường toả ánh sáng, hơi ấm và
sức sống thì Đảng cũng là nguồn sáng kì diệu toả ra những tư tưởng đúng đắn, hợp
lẽ phải báo hiệu những điều tốt lạnh cho cuộc sống. Nhìn chung, cách gọi lí tưởng
như vậy thể hiện thái độ thành kính, ân tình. Thêm nữa, những động từ “bừng” (chỉ
ánh sáng phát ra đột ngột), “chói” (ánh sáng có sức xuyên mạnh) càng nhấn mạnh
ánh sáng của lí tưởng đã hoàn toàn xua tan màn sương mù của ý thức tiểu tư sản và
mở ra trong tâm hồn nhà thơ một chân trời mới của nhận thức, tư tưởng và tình
cảm.
Ở hai câu sau, bút pháp trữ tình lãng mạn cùng với những hình ảnh so sánh
đã diễn tả cụ thể niềm vui sướng vô hạn của nhà thơ trong buổi đầu đén với lí
tưởng cộng sản. Đó là một thế giới tràn đầy sức sống với hương sắc của các loài
hoa, vẻ tươi xanh của cây lá, âm thanh rộn rã của tiếng chim ca hót. Đối với khu
vườn hoa lá ấy còn gì đáng quý hơn ánh sáng mặt trời? Đối với tâm hồn người
thanh niên đang băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời, còn gì đáng quý hơn khi có một lý
tưởng cao đẹp soi sáng, dẫn dắt?
Tóm lại, Tố Hữu đón nhận lí tưởng như cỏ cây hoa lá đón nhận ánh sáng
mặt trời, chính lí tưởng cộng sản đã làm tâm hồn người tràn đầy sức sống và niềm
yêu đời làm cho cuộc sống con người có ý nghĩa hơn. Nhưng Tố Hữu còn là một
nhà thơ nên vẻ đẹp và sức sống mới là hồn thơ. Cách mạng không đối lập với nghệ
thuật, trái lại, đã khơi dậy một sức sống mới, đem lại một cảm hứng sáng tạo mới
cho hồn thơ.
Cứ thế nối tiếp niềm say mê, những dòng thơ hiện dần trên trang giấy:
“Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi”
Trong quan niệm về lẽ sống, giai cấp tư sản và tiểu tư sản có phần đề cao “cái tôi”
cá nhân chủ nghĩa. Khi được giác ngộ lí tưởng, Tố Hữu khẳng định quan niệm mới
về lẽ sống là sự gắn bó hài hoà giữa “cái tôi” cá nhân và “cái ta” chung của mọi
người. Với động từ “buộc”, câu đầu của khổ hai là một cách nói quá thể hiện ý
thức tự nguyện sâu sắc và quyết tâm cao độ của Tố Hữu muốn vượt qua giới hạn
của “cái tôi” cá nhân để sống chan hoà với mọi người (“trăm nơi” là một hoán dụ
chỉ mọi người sống ở khắp nơi). Với từ “trang trải” ở câu tiếp theo liên tưởng tâm
hồn nhà thơ trải rộng với cuộc đời, tạo ra khả năng đồng cảm sâu xa với hoàn cảnh
của từng con người cụ thể.
Hai câu thơ sau cho thấy tình yêu thương con người của Tố Hữu không phải
là thứ tình thương chung chung mà là tình cảm hữu ái giai cấp:
“Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời.”
Câu thơ thứ 3 khẳng định trong mối liên hệ với mọi người nói chung, nhà thơ đặc
biệt quan tâm đến quần chúng lao khổ. Ở câu cuối, “khối đời” là một ẩn dụ chỉ một
khối người đông đảo cùng chung cảnh ngộ trong cuộc đời, đoàn kết chặt chẽ với
nhau cùng phấn đấu vì một mục tiêu chung. Có thể hiểu: khi “cái tôi” chan hoà
trong “cái ta”, khi cá nhân hoà mình vào một tập thể cùng lí tưởng thì sức mạnh
của mỗi người sẽ được nhân lên gấp bội.
Tóm lại, Tố Hữu đã đặt mình giữa dòng đời và trong môi trường rộng lớn
của quần chúng lao khổ, ở đấy Tố Hữu đã tìm thấy niềm vui và sức mạnh mới
không chỉ bằng nhận thức mà còn bằng tình cảm yêu mến, bằng sự giao cảm của
những trái tim. Qua đó, Tố Hữu cũng khẳng định mối liên hệ sâu sắc giữa văn học
và cuộc sống của quần chúng nhân dân.
Cuối cùng, sau những nhận thức mới mẻ về lẽ sống, Tố Hữu đã cho thấy sự
chuyển biến sâu sắc trong tình cảm của tác giả:
“Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm, cù bất cù bơ…”
Trước khi được giác ngộ lí tưởng, Tố Hữu là một thanh niên tiểu tư sản. Lí tưởng
cộng sản không chỉ giúp nhà thơ có được lẽ sống mới mà còn giúp nhà thơ vượt
qua tình cảm ích kỉ, hẹp hòi của giai cấp tiểu tư sản để có được tình hữu ái giai cấp
với quần chúng lao khổ. Hơn thế, đó còn là tình thân yêu ruột thịt. Những điệp từ
“là” cùng với các từ “con”, “em”, “anh” và số từ ước lệ “vạn” (chỉ số lượng hết sức
đông đảo) nhấn mạnh, khẳng định một tình cảm gia đình thật đầm ấm, thân thiết,
cho thấy nhà thơ đã cảm nhận sâu sắc bản thân mình là thành viên của đại gia đình
quần chúng lao khổ. Tấm lòng đồng cảm xót thương còn biểu hiện thật xúc động,
chân thành khi nói tới những “kiếp người phôi pha” (những người đau khổ, bất
hạnh, lao động vất vả), những em nhỏ “không áo cơm cù bất cù bơ” (những em bé
không nơi nương tựa phải lang thang vất vưởng, nay đây mai đó). Qua những lời
thơ ấy cũng có thể thấy được lòng căm giận của nhà thơ trước bao bất công, ngang
trái của cuộc đời cũ. Chính vì những kiếp người phôi pha, những em bé cù bất cù
bơ ấy mà người thanh niên Tố Hữu hăng say hoạt động cách mạng, và họ cũng
chính là đối tượng sáng tác chủ yêu của thi sĩ Tố Hữu (cô gái giang hồ trong
“Tiếng hát sống Hương”, chú bé đi ở trong “Đi đi em”, ông lão khốn khổ trong
“Lão đầy tớ”, …)
Đến đây có thể thấy, về quan điểm nhận thức và sáng tác, bài thơ là tuyên
ngôn cho tập “Từ ấy” nói riêng và cho toàn bộ tác phẩm của Tố Hữu nói chung.
Đó là quan điểm của giai cấp vô sản với nội dung quan trong là nhận thức sâu sắc
về mối liên hệ giữa cá nhân với quần chúng lao khổ, với nhân loại cần lao.
 









Các ý kiến mới nhất