Tìm kiếm Giáo án

Quảng cáo

Quảng cáo

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (04) 66 745 632
  • 0166 286 0000
  • contact@bachkim.vn

Tuần 25. Từ ấy

Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Hiển thị toàn màn hình
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: copy
Người gửi: nguyễn văn hà
Ngày gửi: 20h:50' 06-03-2018
Dung lượng: 77.0 KB
Số lượt tải: 13
Số lượt thích: 0 người
TÁC PHẨM TỪ ẤY CỦA TỐ HỮU
PHẦN I: BÀI GIẢNG
I. TÌM HIỂU CHUNG:
1/ Tác giả:
- Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh tại Thừa Thiên Huế, trong một gia đình nhà Nho nghèo. 1938 được kết nạp Đảng.Giác ngộ CM trong thời kì “Mặt trận dân chủ” ở Huế. Những bài thơ đầu tiên được sáng tác từ những năm 1937-1938. Đến tháng 4/1939 thì bị Pháp bắt giữ ở các nhà lao Miền Trung - Tây Nguyên. Năm 1942 vượt ngục Đắclay, tiếp tục hoạt động bí mật đến 1945, sau đó được giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Đảng.
- Tác phẩm tiêu biểu: Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa, Một tiếng đờn.. ông được giải nhất VH hội nhà văn VN 1954-1955, giải thưởng HCM về VHNT 1996
2/ Tác phẩm “Từ ấy”:
a) Xuất xứ:
- “Từ ấy” là tập thơ gồm 3 phần: Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng. Bài thơ “Từ ấy” trích trong phần “Máu lửa”, viết 1938.
b) Hoàn cảnh sáng tác:
Ngày được đứng vào hàng ngũ của Đảng, của khung người cùng phấn đấu vì lí tưởng cao đẹp là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời Tố Hữu, ghi nhận lại kỉ niệm đáng nhớ ấy với những cảm xúc, suy tư sâu sắc. Năm 1938 Tố Hữu viết “Từ ấy”
c) Giá trị:
- “Từ ấy” là một tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Tố Hữu nói riêng và thơ CM 1930-1945 nói chung
- “Từ ấy” được sáng tác bằng hình thức thơ mới, là một thành công xuất sắc của TH cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật.
d) Nội dung chủ đề:
- Bài thơ thể hiện trạng thái hưng phấn, sung sướng khi tiếp thu ánh sáng mặt trời chân lí, là lời tự nguyện của 1 thanh niên yêu nước giác ngộ lí tưởng CM gắn bó với quần chúng, đấu tranh cho những người lao khổ.
- Bài thơ dùng hình thức thơ mới, dùng nhiều hình ảnh tượng trưng của thiên nhiên để thể hiện niềm vui sướng, bừng ngộ khi tiếp cận ánh sáng chân lí CM.
II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:
1/ Khổ thơ đầu: Niềm vui sướng, say mê khi gặp lí tưởng của Đảng:
- “Từ ấy” là cái mốc thời gian có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đáng ghi đáng nhớ của người thanh niên giác ngộ lí tưởng; là sự đánh dấu một cuộc đổi đời, cao hơn là sự hồi sinh của một con người khi nhận ra ánh sáng của lí tưởng cộng sản.
- Hình ảnh thơ giàu tính hình tượng “bừng nắng hạ” ( thứ ánh nắng sáng tươi, rực rỡ chiếu soi khắp nơi đặc biệt là soi sáng cả những ngõ ngách sâu kín nhất của tâm hồn, trí tuệ, nhận thức của con người.
- Hình ảnh ẩn dụ “mặt trời chân lí” ( lí tưởng Đảng, nó có sức mạnh cảm hóa, lay động và thức tỉnh nhà thơ.
- Hình ảnh so sánh “hồn tôi - một vườn hoa lá” - “rất đậm hương và rộn tiếng chim” ( cuộc sống trong sáng, hồn nhiên, một sức sống sinh sôi dào đạt ( cuộc sống mới tươi vui, rộn rã tràn đầy màu sắc, âm thanh và mùi vị được cất lên như một tiếng ca vui, một lời reo mừng phấn khởi trước nguồn sáng vĩ đại của Cách mạng làm bừng sáng cả trí tuệ và trái tim nhà thơ.
- Những tính từ chỉ mức độ cao “bừng, chói, rất đậm, rộn” ( sự say mê, ngây ngất của người chiến sĩ cộng sản khi bước theo ánh sáng lí tưởng đời mình.
( Câu thơ nối dòng, cách so sánh giản dị, biện pháp ẩn dụ, giọng thơ sôi nổi rộn ràng + bút pháp tự sự, kể lại kỉ niệm ( tâm trạng lạc quan tin tưởng trước quyết định đúng đắn của đời mình.
2/ Khổ thơ thứ hai : Những nhận thức mới về lẽ sống, về con đường CM mình đã chọn:
- Từ “buộc “: thái độ chủ động. tự nguyện dấn thân, đòi hỏi sự cố gắng nhất định ( Sự gắn bó hài hoà giữa “cái tôi” cá nhân và “cái ta” chung của mọi người.
- Liên từ “với” gặp nhiều lần + những cặp từ liên tiếp “lòng tôi - mọi người, tình trang trải - trăm nơi, hồn tôi - hồn khổ” ( mối dây ràng buộc với mọi người, thiết lập tình yêu thương gắn kết giữa người và người, là sự cảm thông chia sẻ trước nỗi đau, vui buồn của bao kiếp người, đặc biệt là quần chúng lao khổ.
- Điệp từ “để” + những từ láy “trang trải”, “gần gũi” ( từ nhận thức giác ngộ lí
 
Gửi ý kiến