Tìm kiếm Giáo án
TÀI LIỆU PHÒNG CHỐNG ĐUỐI NƯỚC

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trường THCS Hàm Thắng
Ngày gửi: 09h:19' 26-10-2025
Dung lượng: 22.3 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Trường THCS Hàm Thắng
Ngày gửi: 09h:19' 26-10-2025
Dung lượng: 22.3 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VỤ GIÁO DỤC THỂ CHẤT
Nguyễn Thanh Đề (Chủ biên)
Phùng Khắc Bình – Nguyễn Nho Huy – Phạm Văn Tịnh
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN
GIÁO DỤC PHÒNG TRÁNH
ĐUỐI NƯỚC CHO HỌC SINH
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
LỜI GIỚI THIỆU
Hầu hết trẻ em đều thích nước vì đó là môi trường để vui chơi, khám phá
nhiều điều mới lạ. Tuy nhiên, môi trường nước lại luôn tiềm ẩn những nguy cơ
gây đuối nước. Vì thế, chúng ta cần khuyến khích trẻ em, học sinh học bơi
an toàn, học những kĩ năng phòng tránh đuối nước, hình thành các kĩ năng sinh
tồn cần thiết để chủ động ứng phó khi không may gặp tai nạn đuối nước cũng
như đảm bảo an toàn khi tham gia hoạt động trong môi trường nước.
Theo Tổ chức Y tế thế giới, trong thập kỉ vừa qua, đuối nước đã cướp đi
sinh mạng của hơn 2,5 triệu người, là một trong những nguyên nhân hàng đầu
về tử vong ở trẻ em từ 5 – 14 tuổi trên thế giới. Hơn 90% trường hợp đuối nước
xảy ra ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Tại Việt Nam, mỗi năm có
trên 2 000 trẻ em tử vong do đuối nước. Theo Quyết định số 1248/QĐ-TTg ngày
19/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phòng, chống tai
nạn, thương tích trẻ em giai đoạn 2021 – 2030, nhiệm vụ của toàn ngành Giáo
dục là chú trọng “tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức; trang bị kiến thức,
kĩ năng phòng tránh tai nạn đuối nước; giáo dục kĩ năng bơi an toàn cho học
sinh”.
Tổ chức dạy bơi an toàn là một hoạt động mang tính kĩ thuật, là một trong
những giải pháp quan trọng và hiệu quả để phòng tránh đuối nước cho trẻ em,
học sinh. Tuy nhiên, vấn đề lớn hơn và phù hợp với chức năng giáo dục của nhà
trường là giáo dục nâng cao nhận thức, trang bị kiến thức, kĩ năng, thái độ của
học sinh trong phòng tránh đuối nước. Vì vậy, Vụ Giáo dục Thể chất (Bộ Giáo dục
và Đào tạo) phối hợp với Cục Trẻ em (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội),
cùng sự hỗ trợ kĩ thuật của Tổ chức Vận động Chính sách Y tế toàn cầu,
trực thuộc Tổ chức Chiến dịch vì Trẻ em không thuốc lá – Hoa Kỳ tổ chức biên
soạn Tài liệu hướng dẫn Giáo dục phòng tránh đuối nước cho học sinh. Tài liệu
này được biên soạn dựa trên nội dung của 02 tài liệu: “Tài liệu hướng dẫn giảng
dạy kĩ năng an toàn trong môi trường nước cho trẻ em (dành cho giảng viên)”
và “Tài liệu tập huấn dạy bơi an toàn phòng chống đuối nước trẻ em (dành cho
hướng dẫn viên)” của Cục Trẻ em (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội) biên soạn
năm 2019 và căn cứ thực tiễn công tác phòng, chống tai nạn đuối nước cho
học sinh ở trong và ngoài nhà trường.
2
Mục tiêu chính của tài liệu hướng dẫn là tuyên truyền, giáo dục nâng cao
kiến thức, kĩ năng tổ chức, quản lí, đảm bảo an toàn, phòng tránh đuối nước cho
học sinh ở các cơ sở giáo dục. Đồng thời, củng cố kiến thức dạy bơi an toàn và
kiến thức, kĩ năng phòng tránh đuối nước đối với trẻ em, học sinh cho giáo viên
và cán bộ quản lí giáo dục.
Nội dung tài liệu gồm 07 chuyên đề về 05 nhóm vấn đề: (1) Tình hình và
nguyên nhân đuối nước ở học sinh; (2) Kĩ năng đảm bảo an toàn trong môi
trường nước đối với trẻ em, học sinh; (3) Kĩ năng thoát hiểm và phương pháp
cứu đuối an toàn; (4) Chuẩn bị và tổ chức lớp dạy bơi cho học sinh; (5) Công tác
giáo dục phòng tránh đuối nước cho học sinh trong cơ sở giáo dục.
Đối tượng chính sử dụng tài liệu này là cán bộ quản lí cơ sở giáo dục, giáo
viên của cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông. Đồng thời, tài liệu này cũng có thể
dùng để học sinh tự nghiên cứu và là tài liệu tham khảo cho cha mẹ học sinh,
cán bộ của các đơn vị, tổ chức, cá nhân quan tâm đến công tác này.
Chúng tôi trân trọng cảm ơn các quý độc giả đã quan tâm sử dụng tài liệu
này và rất mong nhận được ý kiến đóng góp để hoàn thiện tài liệu trong những
lần tái bản. Các ý kiến đóng góp xin gửi về Vụ Giáo dục Thể chất, Bộ Giáo dục
và Đào tạo, số 35 Đại Cồ Việt, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: 02438695144 (số máy lẻ 639)
Hoặc qua số điện thoại: 0946.083.535
Email: pvtinh@moet.gov.vn.
Ban biên soạn tài liệu
3
BAN BIÊN SOẠN TÀI LIỆU
PGS.TS. Nguyễn Thanh Đề, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Thể chất, Bộ Giáo dục
và Đào tạo (Chủ biên).
TS. Phùng Khắc Bình, Nguyên Vụ trưởng Vụ Công tác học sinh, sinh viên,
Bộ Giáo dục và Đào tạo.
TS. Nguyễn Nho Huy, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Thể chất, Bộ Giáo dục
và Đào tạo.
ThS. Phạm Văn Tịnh, Chuyên viên chính, Vụ Giáo dục Thể chất, Bộ Giáo dục
và Đào tạo.
NHÓM CHUYÊN GIA GÓP Ý
TS. BS. Vũ Thị Kim Hoa, Phó Cục trưởng Cục Trẻ em, Bộ Lao động,
Thương binh và Xã hội.
ThS. Đoàn Thu Huyền, Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam, Tổ chức Vận động
Chính sách Y tế toàn cầu – Hoa Kỳ.
TS. Lê Đức Long, Trưởng Bộ môn Thể thao dưới nước, Trường Đại học
Thể dục thể thao Bắc Ninh.
4
MỤC LỤC
Lời giới thiệu
02
Phần 1
TỔNG QUAN VỀ ĐUỐI NƯỚC VÀ AN TOÀN PHÒNG TRÁNH
ĐUỐI NƯỚC CHO HỌC SINH
Chuyên đề 1
Khái niệm chung và nguyên nhân đuối nước
ở học sinh
Chuyên đề 2 Các biện pháp an toàn phòng tránh đuối nước cho
học sinh
Chuyên đề 3 Một số kĩ năng thoát hiểm trong môi trường nước
Phần 2
06
13
23
DẠY BƠI AN TOÀN VÀ CỨU ĐUỐI AN TOÀN
Chuyên đề 4 Tác dụng của học bơi và bảo đảm an toàn khi học bơi
Chuyên đề 5 Tổ chức dạy bơi an toàn cho học sinh
Chuyên đề 6 Phương pháp cứu đuối an toàn và sơ cấp cứu ban đầu
34
45
67
Phần 3
CÔNG TÁC QUẢN LÍ, TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Chuyên đề 7
Công tác giáo dục phòng tránh đuối nước cho học sinh
của cơ sở giáo dục
73
Kho tài liệu tuyên truyền, hướng dẫn thực hành phòng tránh
đuối nước cho trẻ em, học sinh
87
Câu hỏi thường gặp về phòng tránh đuối nước ở trẻ em, học sinh
90
Tài liệu tham khảo
95
5
Phần 1
TỔNG QUAN VỀ ĐUỐI NƯỚC
VÀ AN TOÀN PHÒNG TRÁNH ĐUỐI NƯỚC
CHO HỌC SINH
Chuyên đề 1
KHÁI NIỆM CHUNG VÀ NGUYÊN NHÂN ĐUỐI NƯỚC
Ở HỌC SINH
I
Một số khái niệm chung
1. Khái niệm môi trường nước
1.1. Môi trường nước
Môi trường nước là môi trường mà những cá thể tồn tại, sinh sống và tương tác
qua lại đều bị ảnh hưởng và phụ thuộc vào nước; môi trường nước có thể bao quát trong
một lưu vực rộng lớn hoặc chỉ chứa trong một giọt nước.
Môi trường nước được đề cập trong tài liệu này là những vùng nước có thể gây ra
đuối nước đối với con người, cụ thể là đối tượng trẻ em, học sinh.
1.2. Một số môi trường nước có liên quan đến đuối nước
Trong cuộc sống thường ngày, trẻ em, học sinh thường xuyên tiếp xúc với nhiều môi
trường nước khác nhau như ao, sông, hồ, bể bơi, giếng, mương nước,… Bất kì môi trường
nước nào cũng tiềm ẩn những nguy cơ gây đuối nước, song cần đặc biệt chú ý những khu vực
sau đây:
1.2.1. Các vùng nước trong thôn làng, bản, khu dân cư
Ở các thôn làng, bản thuộc vùng nông thôn thường có nhiều ao, sông nhỏ, suối,
kênh, rạch,… chảy quanh làng hay các hố tưới tiêu nông nghiệp nhưng thường không có
biển cảnh báo và rào chắn an toàn. Đây là nơi trẻ em, học sinh thường hay qua lại, tụ tập
vui chơi và có nguy cơ xảy ra đuối nước rất cao.
6
1.2.2. Bể, giếng, chum, xô chậu chứa nước trong gia đình
Tuy là các vật dụng không thể thiếu để phục vụ sinh hoạt của mỗi gia đình, nhưng
nếu người lớn không để ý đậy nắp cẩn thận hoặc vô ý để nước trong xô, chậu cũng có thể
gây đuối nước đối với trẻ ở lứa tuổi mầm non. Đã có nhiều trường hợp trẻ nhỏ bị đuối
nước trong xô, chậu đựng nước của gia đình, thậm chí cả ở trường mầm non (mặc dù rất
hiếm khi xảy ra).
1.2.3. Sông
Sông là dòng nước có lưu lượng lớn thường xuyên chảy. Nguồn cung cấp nước
chủ yếu cho sông là từ các hồ, ngòi, suối, kênh rạch, sông nhỏ ở độ cao lớn hơn chảy vào.
Nước ta có 9 hệ thống sông lớn, được phân bố trải dài trên lãnh thổ và đem lại nhiều lợi ích
như phát triển thuỷ điện, thuỷ lợi, bồi đắp phù sa, nuôi trồng và khai thác thuỷ sản,
giao thông, du lịch, cung cấp nước cho sinh hoạt,… Tuy nhiên, vào mùa mưa lũ, nước ở
sông ngòi cũng gây ra những khó khăn, thiệt hại như lũ quét, lũ ống ở miền núi, ngập lụt
ở đồng bằng, điều đó có thể gây ra đuối nước, đặc biệt là đối với trẻ em, học sinh.
Lưu vực các sông ở miền Bắc có bề mặt thấp dần, các sông nhỏ, nhánh sông, suối,
ngòi có hình nan quạt và chỉ đổ vào 2 sông lớn là sông Hồng hoặc sông Thái Bình. Đồng
thời do mùa mưa đến sớm với lượng nước khá nhiều, kéo dài nên nước lũ lên nhanh,
xuống chậm, thời gian lũ kéo dài. Các sông ở miền Trung thường có lòng sông hẹp,
độ dốc lớn nên khi mưa nhiều dễ gây lũ chảy xiết, gây ra ngập lụt ở vùng hạ lưu. Lũ ở
đồng bằng sông Cửu Long chảy qua vùng địa hình bằng phẳng, nhiều vùng trũng thấp,
có thảm thực vật phát triển mạnh và có nhiều nhánh sông, hồ điều tiết, thoát lũ khiến cho lũ
lên chậm, rút chậm.
1.2.4. Hồ
Hồ là một vùng nước đọng rộng và sâu trong đất liền, thông thường là một đoạn sông
bị ngăn bởi các biến đổi địa chất tạo nên, đa phần là hồ nước ngọt. Có 2 loại là hồ tự nhiên
và hồ nhân tạo.
Hồ tự nhiên hay ao, kênh rạch, mương máng,… có độ lớn và sâu khác nhau ở từng
khu vực, là môi trường sống của nhiều loài sinh vật. Các khu vực này cũng là nơi diễn
ra nhiều hoạt động của con người như đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản; buôn bán, trao đổi
hàng hoá, vận chuyển;… Tuy nhiên, công tác đảm bảo an toàn ở nơi đây khó có thể bao
quát hết được.
Hồ nhân tạo thường có diện tích lớn, có đập để giữ nước phục vụ cho nhà máy thuỷ
điện, cung cấp nước sinh hoạt, nước tưới, du lịch, kiểm soát lũ lụt. Tuy nhiên, đập và hồ
nhân tạo cũng gây tác động đến hệ sinh thái như tạo ra khí metan (một loại khí nhà kính
gây biến đổi khí hậu), tích tụ chất độc hại, phá rừng, nguy cơ vỡ đập,…
1.2.5. Biển
Biển là vùng nước mặn rộng lớn, nối liền các vùng chứa nước của Trái Đất.
Biển có tác dụng tốt cho sức khoẻ con người như: muối biển có nhiều vi chất,
muối khoáng, sạch và rất ít vi khuẩn, tốt cho sức khoẻ, đặc biệt là cho hệ hô hấp, củng
7
cố và phòng bệnh loãng xương; có khả năng chữa các bệnh về tai, mũi, họng; làm tăng
cảm nhận của các giác quan khi vận động trong nước biển và khi đi chân trần trên cát;
giúp cơ thể săn chắc, làm sạch và mịn da, giảm căng thẳng. Biển là nơi vui chơi, nghỉ mát
yêu thích của con người. Tuy nhiên, biển có đặc thù là có sóng, thuỷ triều, chế độ dòng chảy
phức tạp, tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Vào mùa cao điểm, các bãi biển thường rất đông người
vui chơi, bơi lội nên nguy cơ mất an toàn vẫn thường xuyên xảy ra.
1.2.6. Bể bơi
Bể bơi (hay hồ bơi) là một loại công trình xây dựng hoặc dụng cụ dùng để chứa nước
ở dạng tĩnh nhằm phục vụ cho việc bơi. Bể bơi là nơi bơi tương đối an toàn, tuy nhiên vào
mùa hè lượng người đến bể bơi thường tăng cao và nguy cơ mất an toàn luôn có thể xảy ra.
Hình ảnh bể bơi di động tại một trường thuộc Sở GD & ĐT tỉnh Bắc Giang
1.2.7. Lũ lụt
Lũ là hiện tượng nước dâng cao, có tốc độ dòng chảy trên sông, suối vượt quá mức
bình thường, chảy xiết trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó giảm dần. Lũ thường
là do mưa lớn, dồn dập xảy ra ở lưu vực sông hoặc do từ thượng nguồn đổ về. Ở nước ta,
lũ quét, lũ ống thường xảy ra ở khu vực miền núi hoặc gần nơi có độ dốc như dưới chân
đồi núi hay trong thung lũng.
Lũ, sạt lở đất ở sông Rào Trăng, Phong Điền, Thừa Thiên – Huế năm 2020
8
Lụt là hiện tượng xảy ra khi nước dâng cao tràn qua bờ sông hoặc phá vỡ đê đập ngăn
nước vào các vùng trũng hơn mặt nước của sông (lúc đó), làm ngập nhà cửa, ruộng vườn,
cây cối, đường sá,… Lụt thường do lũ gây ra.
Toàn bộ nhà cửa bị nhấn chìm trong trận lụt năm 2011 ở Long An
Vùng lũ lụt thường tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn. Nước lũ mang theo rất nhiều
mầm bệnh, dễ lây lan. Ngoài ra còn kéo theo nguy cơ sạt lở đất đá, phá huỷ hạ tầng giao
thông, đường sá, cuốn trôi mọi vật trên đường đi. Hằng năm, lũ lụt đã cướp đi sinh mạng
của rất nhiều người. Vì vậy, việc phát hiện, ứng phó và trang bị kiến thức an toàn là vô
cùng cần thiết.
2. Khái niệm đuối nước
2.1. Theo WHO (Tổ chức Y tế Thế giới), đuối nước là hiện tượng khí quản bị một lượng
lớn chất lỏng (thường là nước) xâm nhập vào dẫn tới ngạt thở gây tử vong nếu không được
cấp cứu kịp thời hoặc không tử vong, nhưng gây tổn hại nghiêm trọng đến hệ thần kinh.
Trong khái niệm này, ta cần lưu ý:
– Đuối nước là một sự kiện, quá trình trải qua một tổn thương đường hô hấp do
bị ngập/ chìm trong nước.
– Đuối nước có thể khiến hệ thần kinh bị tổn hại nghiêm trọng, thậm chí tử vong nếu
không được cấp cứu kịp thời.
– Bị tai nạn (chuột rút, gặp vùng nước xoáy, nước cuốn trôi ra xa bờ, đắm đò, ngã
xuống nước,…) nhưng tự thoát được hoặc được cứu mà không gây tổn hại nghiêm
trọng về hệ thần kinh thì không gọi là bị đuối nước.
9
2.2. Đuối nước trên cạn (chết đuối khô, chết đuối thứ cấp): Thường xảy ra trong
vòng 1 – 72 giờ sau khi tiếp xúc với nước hoặc bị sặc nước. Đây là hiện tượng nạn nhân bị
hít nước vào phổi gây cản trở phổi cung cấp ô xi cho máu, gây ra phù phổi, suy hô hấp dẫn
đến tử vong. Đuối nước trên cạn hiếm gặp những vẫn xảy ra nếu không nhận biết được
các biểu hiện kịp thời. Biểu hiện của đuối nước trên cạn bao gồm mệt mỏi, khó thở, tâm
trạng khó chịu, ho, thiếu nhận thức,… Sau khi tắm, bơi hay sặc nước nếu có các biểu hiện
trên thì cần đến ngay các cơ sở y tế gần nhất để kiểm tra và có các biện pháp can thiệp.
Đuối nước khô còn biểu hiện trong tình trạng phổi không có nước. Xuất hiện do nạn
nhân bất ngờ bị chìm trong nước, tạo tâm lí hoảng sợ, khiến cho các phản xạ bị rối loạn,
co cơ nắp thanh quản, đóng khí quản lại, làm không thở được, dẫn đến thiếu ô xi vào não
và bất tỉnh. Như vậy, đuối nước khô không chỉ là chết đuối trên cạn mà có thể chết ngay ở
dưới nước, được vớt lên trong tình trạng đã tử vong mà phổi không có nước.
II
Nguyên nhân gây đuối nước ở học sinh
1. Đặc thù về tâm, sinh lí lứa tuổi
1.1. Tuổi và sự phát triển
Theo thống kê, trên thế giới, trẻ em ở nhóm 1 – 4 tuổi có tỉ lệ tử vong do đuối nước
cao nhất, tiếp theo đó là nhóm 5 – 9 tuổi1. Tương tự ở Việt Nam, trẻ ở nhóm 1 – 4 tuổi
có tỉ lệ tử vong cao nhất (12,9/ 100 000), tiếp đến là nhóm 5 – 9 tuổi (11/ 100 000), nhóm
10 – 14 tuổi (5,1/ 100 000),…2
Ở nhóm trẻ em dưới 5 tuổi (lứa tuổi mầm non): Nguyên nhân đuối nước là do các em
chưa có nhận thức và không có khả năng chủ động đảm bảo an toàn khi tiếp xúc với
môi trường nước mà phải nhờ sự hỗ trợ của người khác. Vì vậy, tình trạng đuối nước ở
trẻ em dưới 5 tuổi thường là hậu quả của việc trẻ bị để một mình hoặc với người chăm sóc
không đủ năng lực.
Ở các nhóm tuổi khác, khi các em được học tập tại trường tiểu học (từ 6 tuổi trở lên),
trung học cơ sở, trung học phổ thông đã hình thành một số kiến thức, kĩ năng về
phòng tránh đuối nước và có ý thức, thái độ cao hơn. Tuy nhiên, các em thường có xu hướng
vận động nhiều hơn, hiếu kì, thích khám phá, có các hành vi liều lĩnh, thể hiện bản thân.
Do không nhận thức đầy đủ được các hiểm hoạ, chủ quan, thiếu kinh nghiệm thực tiễn
nên khi không có người lớn giám sát, các em dễ bị đuối nước.
1WHO, Báo cáo Thế giới về phòng, chống thương tích ở trẻ em, 2008, tr.68.
2Trung
tâm Nghiên cứu Chính sách và Phòng chống Chấn thương Trường Đại học Y tế Công cộng, Báo cáo kết quả.
Khảo sát về tai nạn thương tích tại Việt Nam, năm 2010, tr.46.
10
1.2. Giới tính
Tỉ lệ đuối nước ở nam cao hơn so với nữ ở mọi nhóm tuổi, trừ trẻ nhỏ dưới 1 tuổi.
Ở nhóm tuổi từ 15 – 19, tỉ lệ này ở nam cao gấp 2,7 lần so với nữ. Có tình trạng này là do
trẻ em nam hiếu động, tò mò và tham gia nhiều hoạt động mạnh hơn nữ ở các hoạt động
diễn ra dưới nước hoặc gần vùng nước mở; đam mê nhiều hơn những hoạt động giải trí
dưới nước1. Theo đó, ở Việt Nam, tỉ lệ trẻ em nam tử vong do đuối nước cao gấp gần 2 lần
so với trẻ em nữ (10,7/ 100 000 so với 5,4/ 100 000).
1.3. Bệnh lí
Bệnh động kinh làm tăng nguy cơ tử vong do đuối nước ở tất cả các nguồn nước, bao
gồm bồn tắm, bể bơi, ao hồ và các vùng nước tự nhiên khác. Trẻ em, học sinh bị động kinh
chịu nguy cơ chìm trong nước và đuối nước cao hơn nhiều so với những trẻ bình thường
cả ở trong bồn tắm và bể bơi2.
2. Thiếu kiến thức, kĩ năng an toàn
Trẻ em, học sinh thiếu kiến thức, kĩ năng để đánh giá, nhận định các nguy cơ, nguy
hiểm có thể xảy ra đuối nước khi các em tham gia các hoạt động lao động, vui chơi trong
đời sống hằng ngày gần các khu vực sinh sống có nước hoặc khi đi bơi, tắm ở các vùng
nước tự nhiên, vùng nước mở. Các em chưa nhận biết được vị trí an toàn để bơi, đa phần
hành động theo ngẫu hứng, chưa có thói quen chấp hành quy định an toàn phòng tránh
đuối nước.
Nhiều trẻ em, học sinh biết bơi, thậm chí bơi giỏi nhưng vẫn tử vong do đuối nước
là vì các em thiếu kiến thức, kĩ năng chủ động phòng tránh và không biết kĩ năng tự cứu
và cứu đuối an toàn. Khi học bơi, thường các em được học ở bể bơi hoặc ao, sông,… nơi
có giáo viên hoặc cha mẹ và nhiều người ở xung quanh. Ở những nơi này, các em đã được
tiếp xúc nhiều và quen thuộc với địa hình nên sẽ cảm thấy tự tin, an toàn hơn. Nhưng khi
bơi ở môi trường nước khác, lạ lẫm, nếu bất ngờ gặp sự cố mà các em chưa thành thạo kĩ
năng bơi, kĩ năng thoát hiểm thì dễ bị đuối nước.
Đã có những trường hợp trẻ em, học sinh bơi giỏi, dũng cảm cứu được nhiều bạn
thoát khỏi đuối nước, nhưng bản thân bị đuối sức và tử vong rất thương xót. Ngoài ra,
nhiều vụ học sinh bị đuối nước tập thể do các em chưa được trang bị những kiến thức cứu
đuối an toàn. Vì vậy, cùng với học bơi, các em cần phải được trang bị những kiến thức, kĩ
năng về nhận biết các nguy cơ gây đuối nước, kĩ năng ứng phó với các tình huống khi các
em tham gia sinh hoạt trong môi trường sống hằng ngày, khi tham gia bơi, lội để đảm bảo
an toàn cho bản thân trước khi được sự hỗ trợ của người khác.
1, 2WHO, Báo cáo Thế giới về phòng chống thương tích ở trẻ em, 2008, tr.67 – 69.
11
3. Thiếu sự giám sát của người lớn
Trong nhiều trường hợp vì nhiều lí do khác nhau, trẻ em bị bỏ mặc không được trông
nom hoặc thoát li khỏi sự giám sát của cha mẹ, người lớn, người có trách nhiệm, dẫn đến
bị ngã, rơi vào vùng nước dẫn tới bị đuối nước.
Trường hợp người giám sát không đủ năng lực như người giám sát là anh, chị còn
nhỏ tuổi, người có những hạn chế nhất định về năng lực hành vi, người giám sát trẻ em
không biết bơi và không có kĩ năng cứu đuối,…
Trường hợp người giám sát thiếu trách nhiệm như chủ phương tiện giao thông đường
thuỷ, chủ bãi tắm, người phụ trách tổ chức sự kiện,… không thực hiện đúng các quy định
khi trẻ em, học sinh hoạt động ở gần vùng nước mở hoặc trong môi trường nước.
4. Môi trường nước xung quanh tiềm ẩn nguy cơ
Môi trường nước xung quanh trẻ em, học sinh chưa an toàn, biểu hiện cụ thể như:
chum, vại nước, chậu nước, lu, phi nước, bể chứa nước trong chính gia đình không được
che đậy cẩn thận; hố các công trình đào sâu nhưng không có biển cảnh báo và rào chắn;
thành giếng không đủ độ cao cần thiết; bể bơi, khu vực tắm biển không có người trông
coi hoặc người trông coi không biết bơi, thiếu thiết bị cứu hộ, không có kĩ năng cứu đuối,
không có biển cảnh báo nguy hiểm,…
Phương tiện đường thuỷ không bảo đảm an toàn kĩ thuật, thiếu thiết bị an toàn như
áo phao, xuồng cứu hộ; chở đường thuỷ quá tải cũng là nguyên nhân gây mất an toàn khi
cho trẻ em, học sinh đi lại trên sông nước. Các bể bơi, bãi tắm, các vùng nước mở không
có người giám sát, lực lượng cứu hộ; các cây cầu bắc qua kênh, mương, sông, suối,…
không bảo đảm kĩ thuật, an toàn là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng
đuối nước.
5. Thiên tai
Do nhận thức, kiến thức, kĩ năng và thể chất, thể lực còn hạn chế, đặc biệt khi thiên
tai bất ngờ xảy ra, như mưa lớn, lũ, lụt,… nước dâng nhanh, dâng cao, dòng nước xoáy,
chảy mạnh khiến trẻ em, học sinh thường bị hoảng hốt, dễ bị nhấn chìm hoặc cuốn trôi
xuống kênh rạch, sông suối, cống thoát nước,… dẫn đến tử vong.
Việc loại bỏ các yếu tố nguy cơ dẫn đến tai nạn đuối nước để tạo ra môi trường an
toàn cho trẻ em tại các gia đình, cộng đồng dân cư chưa triệt để; nguy cơ xảy ra đuối nước
còn tồn tại ở nhiều địa phương trên cả nước, đặc biệt là các vùng quê, nông thôn, miền
núi và những vùng khó khăn về đời sống, kinh tế.
12
Chuyên đề 2
CÁC BIỆN PHÁP AN TOÀN PHÒNG TRÁNH
ĐUỐI NƯỚC CHO HỌC SINH
I
Nguyên tắc đảm bảo an toàn phòng tránh đuối nước
1. Nguyên tắc cơ bản
– Loại bỏ nguy cơ gây đuối nước cho trẻ em tại cộng đồng, gia đình, trường học.
– Luôn cảnh giác, cẩn thận khi vui chơi gần các khu vực ao, hồ, sông, suối.
– Chấp hành các quy định khi tham gia giao thông đường thuỷ.
– Học bơi theo trường lớp và có người quản lí, đào tạo đảm bảo trách nhiệm;
có phương tiện cứu hộ và sơ cứu kịp thời.
– Ra khỏi vùng nước khi cơ thể bắt đầu cảm thấy mệt mỏi.
– Người lớn và trẻ em cần nhớ số điện thoại và gọi cấp cứu (khi cần thiết) đến số 115
(cấp cứu y tế) hoặc 111 (Tổng đài Quốc gia bảo vệ trẻ em).
Nắm vững nguyên tắc 3 không:
• Không xuống nước nếu không biết bơi hoặc khi cơ thể mệt mỏi.
• Không bơi, lội một mình.
• K
hông bơi, lội khi thời tiết đang hoặc sắp chuyển xấu (như mưa to, dông, sét,…)
và không bơi, lội trong vùng nước bẩn.
2. Chủ động đảm bảo an toàn phòng tránh đuối nước ở học sinh
2.1. Luôn cảnh giác, cẩn thận khi vui chơi gần các khu vực ao hồ, sông suối
Nhiều trường hợp trẻ em, học sinh bị đuối nước sau khi tan trường, đặc biệt là trong
các buổi được nghỉ học, các em rủ nhau đi tắm, chơi đùa gần khu vực có vùng nước mở,
vùng sình lầy. Đây là một trong những chú ý quan trọng hàng đầu cần cụ thể hoá thành
các quy định cụ thể cho phù hợp với trẻ em, học sinh ở các lứa tuổi khác nhau, có hoàn cảnh,
điều kiện khác nhau ở mỗi địa phương, địa bàn. Về vấn đề này, Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã chỉ đạo, quán triệt: Giáo viên ở các tiết học cuối trước khi học sinh tan trường, thường
xuyên nhắc nhở, khuyến cáo các em không được chơi, đùa nghịch gần ao hồ, sông suối,
kênh rạch, hố công trình,… nơi tiềm ẩn nguy cơ đuối nước; không tự ý hoặc rủ nhau
đi tắm, đi bơi khi không có người lớn đi cùng, đặc biệt là trong thời gian được nghỉ học,
nghỉ hè.
13
2.2. Loại bỏ nguy cơ đuối nước cho trẻ em tại cộng đồng, gia đình, trường học
Môi trường sống luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra tai nạn đuối nước nhưng không
phải nơi nào cũng có biển cảnh báo. Đối với người lớn có thể dễ nhận biết được những
nguy cơ này, nhưng đối với trẻ em, học sinh (đặc biệt lưu ý ở lứa tuổi tiểu học), các em
bị hạn chế hơn, bên cạnh đó, do tính hiếu động, thích khám phá nên rất dễ xảy ra tai
nạn đáng tiếc. Vì vậy, mỗi gia đình luôn phải lưu ý loại bỏ nguy cơ đuối nước ở ao, hố
chứa nước, mương, kênh rạch,… trong và quanh nhà cũng như các vật dụng chứa nước;
chính quyền địa phương, các ngành chức năng đảm bảo môi trường cộng đồng an toàn;
nhà trường đảm bảo môi trường trong khuôn viên trường học an toàn, đặc biệt ở những
trường có ao hoặc hồ bơi. Gia đình và các tổ chức đoàn thể cần chủ động kiến nghị chính
quyền địa phương để có giải pháp đảm bảo môi trường sống an toàn để ngăn ngừa tai nạn
đuối nước có thể xảy ra.
2.3. Chỉ bơi, lội khi có người lớn giám sát
Bơi trong môi trường nước ở bể bơi và bơi trong môi trường nước tự nhiê
VỤ GIÁO DỤC THỂ CHẤT
Nguyễn Thanh Đề (Chủ biên)
Phùng Khắc Bình – Nguyễn Nho Huy – Phạm Văn Tịnh
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN
GIÁO DỤC PHÒNG TRÁNH
ĐUỐI NƯỚC CHO HỌC SINH
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
LỜI GIỚI THIỆU
Hầu hết trẻ em đều thích nước vì đó là môi trường để vui chơi, khám phá
nhiều điều mới lạ. Tuy nhiên, môi trường nước lại luôn tiềm ẩn những nguy cơ
gây đuối nước. Vì thế, chúng ta cần khuyến khích trẻ em, học sinh học bơi
an toàn, học những kĩ năng phòng tránh đuối nước, hình thành các kĩ năng sinh
tồn cần thiết để chủ động ứng phó khi không may gặp tai nạn đuối nước cũng
như đảm bảo an toàn khi tham gia hoạt động trong môi trường nước.
Theo Tổ chức Y tế thế giới, trong thập kỉ vừa qua, đuối nước đã cướp đi
sinh mạng của hơn 2,5 triệu người, là một trong những nguyên nhân hàng đầu
về tử vong ở trẻ em từ 5 – 14 tuổi trên thế giới. Hơn 90% trường hợp đuối nước
xảy ra ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Tại Việt Nam, mỗi năm có
trên 2 000 trẻ em tử vong do đuối nước. Theo Quyết định số 1248/QĐ-TTg ngày
19/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phòng, chống tai
nạn, thương tích trẻ em giai đoạn 2021 – 2030, nhiệm vụ của toàn ngành Giáo
dục là chú trọng “tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức; trang bị kiến thức,
kĩ năng phòng tránh tai nạn đuối nước; giáo dục kĩ năng bơi an toàn cho học
sinh”.
Tổ chức dạy bơi an toàn là một hoạt động mang tính kĩ thuật, là một trong
những giải pháp quan trọng và hiệu quả để phòng tránh đuối nước cho trẻ em,
học sinh. Tuy nhiên, vấn đề lớn hơn và phù hợp với chức năng giáo dục của nhà
trường là giáo dục nâng cao nhận thức, trang bị kiến thức, kĩ năng, thái độ của
học sinh trong phòng tránh đuối nước. Vì vậy, Vụ Giáo dục Thể chất (Bộ Giáo dục
và Đào tạo) phối hợp với Cục Trẻ em (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội),
cùng sự hỗ trợ kĩ thuật của Tổ chức Vận động Chính sách Y tế toàn cầu,
trực thuộc Tổ chức Chiến dịch vì Trẻ em không thuốc lá – Hoa Kỳ tổ chức biên
soạn Tài liệu hướng dẫn Giáo dục phòng tránh đuối nước cho học sinh. Tài liệu
này được biên soạn dựa trên nội dung của 02 tài liệu: “Tài liệu hướng dẫn giảng
dạy kĩ năng an toàn trong môi trường nước cho trẻ em (dành cho giảng viên)”
và “Tài liệu tập huấn dạy bơi an toàn phòng chống đuối nước trẻ em (dành cho
hướng dẫn viên)” của Cục Trẻ em (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội) biên soạn
năm 2019 và căn cứ thực tiễn công tác phòng, chống tai nạn đuối nước cho
học sinh ở trong và ngoài nhà trường.
2
Mục tiêu chính của tài liệu hướng dẫn là tuyên truyền, giáo dục nâng cao
kiến thức, kĩ năng tổ chức, quản lí, đảm bảo an toàn, phòng tránh đuối nước cho
học sinh ở các cơ sở giáo dục. Đồng thời, củng cố kiến thức dạy bơi an toàn và
kiến thức, kĩ năng phòng tránh đuối nước đối với trẻ em, học sinh cho giáo viên
và cán bộ quản lí giáo dục.
Nội dung tài liệu gồm 07 chuyên đề về 05 nhóm vấn đề: (1) Tình hình và
nguyên nhân đuối nước ở học sinh; (2) Kĩ năng đảm bảo an toàn trong môi
trường nước đối với trẻ em, học sinh; (3) Kĩ năng thoát hiểm và phương pháp
cứu đuối an toàn; (4) Chuẩn bị và tổ chức lớp dạy bơi cho học sinh; (5) Công tác
giáo dục phòng tránh đuối nước cho học sinh trong cơ sở giáo dục.
Đối tượng chính sử dụng tài liệu này là cán bộ quản lí cơ sở giáo dục, giáo
viên của cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông. Đồng thời, tài liệu này cũng có thể
dùng để học sinh tự nghiên cứu và là tài liệu tham khảo cho cha mẹ học sinh,
cán bộ của các đơn vị, tổ chức, cá nhân quan tâm đến công tác này.
Chúng tôi trân trọng cảm ơn các quý độc giả đã quan tâm sử dụng tài liệu
này và rất mong nhận được ý kiến đóng góp để hoàn thiện tài liệu trong những
lần tái bản. Các ý kiến đóng góp xin gửi về Vụ Giáo dục Thể chất, Bộ Giáo dục
và Đào tạo, số 35 Đại Cồ Việt, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: 02438695144 (số máy lẻ 639)
Hoặc qua số điện thoại: 0946.083.535
Email: pvtinh@moet.gov.vn.
Ban biên soạn tài liệu
3
BAN BIÊN SOẠN TÀI LIỆU
PGS.TS. Nguyễn Thanh Đề, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Thể chất, Bộ Giáo dục
và Đào tạo (Chủ biên).
TS. Phùng Khắc Bình, Nguyên Vụ trưởng Vụ Công tác học sinh, sinh viên,
Bộ Giáo dục và Đào tạo.
TS. Nguyễn Nho Huy, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Thể chất, Bộ Giáo dục
và Đào tạo.
ThS. Phạm Văn Tịnh, Chuyên viên chính, Vụ Giáo dục Thể chất, Bộ Giáo dục
và Đào tạo.
NHÓM CHUYÊN GIA GÓP Ý
TS. BS. Vũ Thị Kim Hoa, Phó Cục trưởng Cục Trẻ em, Bộ Lao động,
Thương binh và Xã hội.
ThS. Đoàn Thu Huyền, Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam, Tổ chức Vận động
Chính sách Y tế toàn cầu – Hoa Kỳ.
TS. Lê Đức Long, Trưởng Bộ môn Thể thao dưới nước, Trường Đại học
Thể dục thể thao Bắc Ninh.
4
MỤC LỤC
Lời giới thiệu
02
Phần 1
TỔNG QUAN VỀ ĐUỐI NƯỚC VÀ AN TOÀN PHÒNG TRÁNH
ĐUỐI NƯỚC CHO HỌC SINH
Chuyên đề 1
Khái niệm chung và nguyên nhân đuối nước
ở học sinh
Chuyên đề 2 Các biện pháp an toàn phòng tránh đuối nước cho
học sinh
Chuyên đề 3 Một số kĩ năng thoát hiểm trong môi trường nước
Phần 2
06
13
23
DẠY BƠI AN TOÀN VÀ CỨU ĐUỐI AN TOÀN
Chuyên đề 4 Tác dụng của học bơi và bảo đảm an toàn khi học bơi
Chuyên đề 5 Tổ chức dạy bơi an toàn cho học sinh
Chuyên đề 6 Phương pháp cứu đuối an toàn và sơ cấp cứu ban đầu
34
45
67
Phần 3
CÔNG TÁC QUẢN LÍ, TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Chuyên đề 7
Công tác giáo dục phòng tránh đuối nước cho học sinh
của cơ sở giáo dục
73
Kho tài liệu tuyên truyền, hướng dẫn thực hành phòng tránh
đuối nước cho trẻ em, học sinh
87
Câu hỏi thường gặp về phòng tránh đuối nước ở trẻ em, học sinh
90
Tài liệu tham khảo
95
5
Phần 1
TỔNG QUAN VỀ ĐUỐI NƯỚC
VÀ AN TOÀN PHÒNG TRÁNH ĐUỐI NƯỚC
CHO HỌC SINH
Chuyên đề 1
KHÁI NIỆM CHUNG VÀ NGUYÊN NHÂN ĐUỐI NƯỚC
Ở HỌC SINH
I
Một số khái niệm chung
1. Khái niệm môi trường nước
1.1. Môi trường nước
Môi trường nước là môi trường mà những cá thể tồn tại, sinh sống và tương tác
qua lại đều bị ảnh hưởng và phụ thuộc vào nước; môi trường nước có thể bao quát trong
một lưu vực rộng lớn hoặc chỉ chứa trong một giọt nước.
Môi trường nước được đề cập trong tài liệu này là những vùng nước có thể gây ra
đuối nước đối với con người, cụ thể là đối tượng trẻ em, học sinh.
1.2. Một số môi trường nước có liên quan đến đuối nước
Trong cuộc sống thường ngày, trẻ em, học sinh thường xuyên tiếp xúc với nhiều môi
trường nước khác nhau như ao, sông, hồ, bể bơi, giếng, mương nước,… Bất kì môi trường
nước nào cũng tiềm ẩn những nguy cơ gây đuối nước, song cần đặc biệt chú ý những khu vực
sau đây:
1.2.1. Các vùng nước trong thôn làng, bản, khu dân cư
Ở các thôn làng, bản thuộc vùng nông thôn thường có nhiều ao, sông nhỏ, suối,
kênh, rạch,… chảy quanh làng hay các hố tưới tiêu nông nghiệp nhưng thường không có
biển cảnh báo và rào chắn an toàn. Đây là nơi trẻ em, học sinh thường hay qua lại, tụ tập
vui chơi và có nguy cơ xảy ra đuối nước rất cao.
6
1.2.2. Bể, giếng, chum, xô chậu chứa nước trong gia đình
Tuy là các vật dụng không thể thiếu để phục vụ sinh hoạt của mỗi gia đình, nhưng
nếu người lớn không để ý đậy nắp cẩn thận hoặc vô ý để nước trong xô, chậu cũng có thể
gây đuối nước đối với trẻ ở lứa tuổi mầm non. Đã có nhiều trường hợp trẻ nhỏ bị đuối
nước trong xô, chậu đựng nước của gia đình, thậm chí cả ở trường mầm non (mặc dù rất
hiếm khi xảy ra).
1.2.3. Sông
Sông là dòng nước có lưu lượng lớn thường xuyên chảy. Nguồn cung cấp nước
chủ yếu cho sông là từ các hồ, ngòi, suối, kênh rạch, sông nhỏ ở độ cao lớn hơn chảy vào.
Nước ta có 9 hệ thống sông lớn, được phân bố trải dài trên lãnh thổ và đem lại nhiều lợi ích
như phát triển thuỷ điện, thuỷ lợi, bồi đắp phù sa, nuôi trồng và khai thác thuỷ sản,
giao thông, du lịch, cung cấp nước cho sinh hoạt,… Tuy nhiên, vào mùa mưa lũ, nước ở
sông ngòi cũng gây ra những khó khăn, thiệt hại như lũ quét, lũ ống ở miền núi, ngập lụt
ở đồng bằng, điều đó có thể gây ra đuối nước, đặc biệt là đối với trẻ em, học sinh.
Lưu vực các sông ở miền Bắc có bề mặt thấp dần, các sông nhỏ, nhánh sông, suối,
ngòi có hình nan quạt và chỉ đổ vào 2 sông lớn là sông Hồng hoặc sông Thái Bình. Đồng
thời do mùa mưa đến sớm với lượng nước khá nhiều, kéo dài nên nước lũ lên nhanh,
xuống chậm, thời gian lũ kéo dài. Các sông ở miền Trung thường có lòng sông hẹp,
độ dốc lớn nên khi mưa nhiều dễ gây lũ chảy xiết, gây ra ngập lụt ở vùng hạ lưu. Lũ ở
đồng bằng sông Cửu Long chảy qua vùng địa hình bằng phẳng, nhiều vùng trũng thấp,
có thảm thực vật phát triển mạnh và có nhiều nhánh sông, hồ điều tiết, thoát lũ khiến cho lũ
lên chậm, rút chậm.
1.2.4. Hồ
Hồ là một vùng nước đọng rộng và sâu trong đất liền, thông thường là một đoạn sông
bị ngăn bởi các biến đổi địa chất tạo nên, đa phần là hồ nước ngọt. Có 2 loại là hồ tự nhiên
và hồ nhân tạo.
Hồ tự nhiên hay ao, kênh rạch, mương máng,… có độ lớn và sâu khác nhau ở từng
khu vực, là môi trường sống của nhiều loài sinh vật. Các khu vực này cũng là nơi diễn
ra nhiều hoạt động của con người như đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản; buôn bán, trao đổi
hàng hoá, vận chuyển;… Tuy nhiên, công tác đảm bảo an toàn ở nơi đây khó có thể bao
quát hết được.
Hồ nhân tạo thường có diện tích lớn, có đập để giữ nước phục vụ cho nhà máy thuỷ
điện, cung cấp nước sinh hoạt, nước tưới, du lịch, kiểm soát lũ lụt. Tuy nhiên, đập và hồ
nhân tạo cũng gây tác động đến hệ sinh thái như tạo ra khí metan (một loại khí nhà kính
gây biến đổi khí hậu), tích tụ chất độc hại, phá rừng, nguy cơ vỡ đập,…
1.2.5. Biển
Biển là vùng nước mặn rộng lớn, nối liền các vùng chứa nước của Trái Đất.
Biển có tác dụng tốt cho sức khoẻ con người như: muối biển có nhiều vi chất,
muối khoáng, sạch và rất ít vi khuẩn, tốt cho sức khoẻ, đặc biệt là cho hệ hô hấp, củng
7
cố và phòng bệnh loãng xương; có khả năng chữa các bệnh về tai, mũi, họng; làm tăng
cảm nhận của các giác quan khi vận động trong nước biển và khi đi chân trần trên cát;
giúp cơ thể săn chắc, làm sạch và mịn da, giảm căng thẳng. Biển là nơi vui chơi, nghỉ mát
yêu thích của con người. Tuy nhiên, biển có đặc thù là có sóng, thuỷ triều, chế độ dòng chảy
phức tạp, tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Vào mùa cao điểm, các bãi biển thường rất đông người
vui chơi, bơi lội nên nguy cơ mất an toàn vẫn thường xuyên xảy ra.
1.2.6. Bể bơi
Bể bơi (hay hồ bơi) là một loại công trình xây dựng hoặc dụng cụ dùng để chứa nước
ở dạng tĩnh nhằm phục vụ cho việc bơi. Bể bơi là nơi bơi tương đối an toàn, tuy nhiên vào
mùa hè lượng người đến bể bơi thường tăng cao và nguy cơ mất an toàn luôn có thể xảy ra.
Hình ảnh bể bơi di động tại một trường thuộc Sở GD & ĐT tỉnh Bắc Giang
1.2.7. Lũ lụt
Lũ là hiện tượng nước dâng cao, có tốc độ dòng chảy trên sông, suối vượt quá mức
bình thường, chảy xiết trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó giảm dần. Lũ thường
là do mưa lớn, dồn dập xảy ra ở lưu vực sông hoặc do từ thượng nguồn đổ về. Ở nước ta,
lũ quét, lũ ống thường xảy ra ở khu vực miền núi hoặc gần nơi có độ dốc như dưới chân
đồi núi hay trong thung lũng.
Lũ, sạt lở đất ở sông Rào Trăng, Phong Điền, Thừa Thiên – Huế năm 2020
8
Lụt là hiện tượng xảy ra khi nước dâng cao tràn qua bờ sông hoặc phá vỡ đê đập ngăn
nước vào các vùng trũng hơn mặt nước của sông (lúc đó), làm ngập nhà cửa, ruộng vườn,
cây cối, đường sá,… Lụt thường do lũ gây ra.
Toàn bộ nhà cửa bị nhấn chìm trong trận lụt năm 2011 ở Long An
Vùng lũ lụt thường tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn. Nước lũ mang theo rất nhiều
mầm bệnh, dễ lây lan. Ngoài ra còn kéo theo nguy cơ sạt lở đất đá, phá huỷ hạ tầng giao
thông, đường sá, cuốn trôi mọi vật trên đường đi. Hằng năm, lũ lụt đã cướp đi sinh mạng
của rất nhiều người. Vì vậy, việc phát hiện, ứng phó và trang bị kiến thức an toàn là vô
cùng cần thiết.
2. Khái niệm đuối nước
2.1. Theo WHO (Tổ chức Y tế Thế giới), đuối nước là hiện tượng khí quản bị một lượng
lớn chất lỏng (thường là nước) xâm nhập vào dẫn tới ngạt thở gây tử vong nếu không được
cấp cứu kịp thời hoặc không tử vong, nhưng gây tổn hại nghiêm trọng đến hệ thần kinh.
Trong khái niệm này, ta cần lưu ý:
– Đuối nước là một sự kiện, quá trình trải qua một tổn thương đường hô hấp do
bị ngập/ chìm trong nước.
– Đuối nước có thể khiến hệ thần kinh bị tổn hại nghiêm trọng, thậm chí tử vong nếu
không được cấp cứu kịp thời.
– Bị tai nạn (chuột rút, gặp vùng nước xoáy, nước cuốn trôi ra xa bờ, đắm đò, ngã
xuống nước,…) nhưng tự thoát được hoặc được cứu mà không gây tổn hại nghiêm
trọng về hệ thần kinh thì không gọi là bị đuối nước.
9
2.2. Đuối nước trên cạn (chết đuối khô, chết đuối thứ cấp): Thường xảy ra trong
vòng 1 – 72 giờ sau khi tiếp xúc với nước hoặc bị sặc nước. Đây là hiện tượng nạn nhân bị
hít nước vào phổi gây cản trở phổi cung cấp ô xi cho máu, gây ra phù phổi, suy hô hấp dẫn
đến tử vong. Đuối nước trên cạn hiếm gặp những vẫn xảy ra nếu không nhận biết được
các biểu hiện kịp thời. Biểu hiện của đuối nước trên cạn bao gồm mệt mỏi, khó thở, tâm
trạng khó chịu, ho, thiếu nhận thức,… Sau khi tắm, bơi hay sặc nước nếu có các biểu hiện
trên thì cần đến ngay các cơ sở y tế gần nhất để kiểm tra và có các biện pháp can thiệp.
Đuối nước khô còn biểu hiện trong tình trạng phổi không có nước. Xuất hiện do nạn
nhân bất ngờ bị chìm trong nước, tạo tâm lí hoảng sợ, khiến cho các phản xạ bị rối loạn,
co cơ nắp thanh quản, đóng khí quản lại, làm không thở được, dẫn đến thiếu ô xi vào não
và bất tỉnh. Như vậy, đuối nước khô không chỉ là chết đuối trên cạn mà có thể chết ngay ở
dưới nước, được vớt lên trong tình trạng đã tử vong mà phổi không có nước.
II
Nguyên nhân gây đuối nước ở học sinh
1. Đặc thù về tâm, sinh lí lứa tuổi
1.1. Tuổi và sự phát triển
Theo thống kê, trên thế giới, trẻ em ở nhóm 1 – 4 tuổi có tỉ lệ tử vong do đuối nước
cao nhất, tiếp theo đó là nhóm 5 – 9 tuổi1. Tương tự ở Việt Nam, trẻ ở nhóm 1 – 4 tuổi
có tỉ lệ tử vong cao nhất (12,9/ 100 000), tiếp đến là nhóm 5 – 9 tuổi (11/ 100 000), nhóm
10 – 14 tuổi (5,1/ 100 000),…2
Ở nhóm trẻ em dưới 5 tuổi (lứa tuổi mầm non): Nguyên nhân đuối nước là do các em
chưa có nhận thức và không có khả năng chủ động đảm bảo an toàn khi tiếp xúc với
môi trường nước mà phải nhờ sự hỗ trợ của người khác. Vì vậy, tình trạng đuối nước ở
trẻ em dưới 5 tuổi thường là hậu quả của việc trẻ bị để một mình hoặc với người chăm sóc
không đủ năng lực.
Ở các nhóm tuổi khác, khi các em được học tập tại trường tiểu học (từ 6 tuổi trở lên),
trung học cơ sở, trung học phổ thông đã hình thành một số kiến thức, kĩ năng về
phòng tránh đuối nước và có ý thức, thái độ cao hơn. Tuy nhiên, các em thường có xu hướng
vận động nhiều hơn, hiếu kì, thích khám phá, có các hành vi liều lĩnh, thể hiện bản thân.
Do không nhận thức đầy đủ được các hiểm hoạ, chủ quan, thiếu kinh nghiệm thực tiễn
nên khi không có người lớn giám sát, các em dễ bị đuối nước.
1WHO, Báo cáo Thế giới về phòng, chống thương tích ở trẻ em, 2008, tr.68.
2Trung
tâm Nghiên cứu Chính sách và Phòng chống Chấn thương Trường Đại học Y tế Công cộng, Báo cáo kết quả.
Khảo sát về tai nạn thương tích tại Việt Nam, năm 2010, tr.46.
10
1.2. Giới tính
Tỉ lệ đuối nước ở nam cao hơn so với nữ ở mọi nhóm tuổi, trừ trẻ nhỏ dưới 1 tuổi.
Ở nhóm tuổi từ 15 – 19, tỉ lệ này ở nam cao gấp 2,7 lần so với nữ. Có tình trạng này là do
trẻ em nam hiếu động, tò mò và tham gia nhiều hoạt động mạnh hơn nữ ở các hoạt động
diễn ra dưới nước hoặc gần vùng nước mở; đam mê nhiều hơn những hoạt động giải trí
dưới nước1. Theo đó, ở Việt Nam, tỉ lệ trẻ em nam tử vong do đuối nước cao gấp gần 2 lần
so với trẻ em nữ (10,7/ 100 000 so với 5,4/ 100 000).
1.3. Bệnh lí
Bệnh động kinh làm tăng nguy cơ tử vong do đuối nước ở tất cả các nguồn nước, bao
gồm bồn tắm, bể bơi, ao hồ và các vùng nước tự nhiên khác. Trẻ em, học sinh bị động kinh
chịu nguy cơ chìm trong nước và đuối nước cao hơn nhiều so với những trẻ bình thường
cả ở trong bồn tắm và bể bơi2.
2. Thiếu kiến thức, kĩ năng an toàn
Trẻ em, học sinh thiếu kiến thức, kĩ năng để đánh giá, nhận định các nguy cơ, nguy
hiểm có thể xảy ra đuối nước khi các em tham gia các hoạt động lao động, vui chơi trong
đời sống hằng ngày gần các khu vực sinh sống có nước hoặc khi đi bơi, tắm ở các vùng
nước tự nhiên, vùng nước mở. Các em chưa nhận biết được vị trí an toàn để bơi, đa phần
hành động theo ngẫu hứng, chưa có thói quen chấp hành quy định an toàn phòng tránh
đuối nước.
Nhiều trẻ em, học sinh biết bơi, thậm chí bơi giỏi nhưng vẫn tử vong do đuối nước
là vì các em thiếu kiến thức, kĩ năng chủ động phòng tránh và không biết kĩ năng tự cứu
và cứu đuối an toàn. Khi học bơi, thường các em được học ở bể bơi hoặc ao, sông,… nơi
có giáo viên hoặc cha mẹ và nhiều người ở xung quanh. Ở những nơi này, các em đã được
tiếp xúc nhiều và quen thuộc với địa hình nên sẽ cảm thấy tự tin, an toàn hơn. Nhưng khi
bơi ở môi trường nước khác, lạ lẫm, nếu bất ngờ gặp sự cố mà các em chưa thành thạo kĩ
năng bơi, kĩ năng thoát hiểm thì dễ bị đuối nước.
Đã có những trường hợp trẻ em, học sinh bơi giỏi, dũng cảm cứu được nhiều bạn
thoát khỏi đuối nước, nhưng bản thân bị đuối sức và tử vong rất thương xót. Ngoài ra,
nhiều vụ học sinh bị đuối nước tập thể do các em chưa được trang bị những kiến thức cứu
đuối an toàn. Vì vậy, cùng với học bơi, các em cần phải được trang bị những kiến thức, kĩ
năng về nhận biết các nguy cơ gây đuối nước, kĩ năng ứng phó với các tình huống khi các
em tham gia sinh hoạt trong môi trường sống hằng ngày, khi tham gia bơi, lội để đảm bảo
an toàn cho bản thân trước khi được sự hỗ trợ của người khác.
1, 2WHO, Báo cáo Thế giới về phòng chống thương tích ở trẻ em, 2008, tr.67 – 69.
11
3. Thiếu sự giám sát của người lớn
Trong nhiều trường hợp vì nhiều lí do khác nhau, trẻ em bị bỏ mặc không được trông
nom hoặc thoát li khỏi sự giám sát của cha mẹ, người lớn, người có trách nhiệm, dẫn đến
bị ngã, rơi vào vùng nước dẫn tới bị đuối nước.
Trường hợp người giám sát không đủ năng lực như người giám sát là anh, chị còn
nhỏ tuổi, người có những hạn chế nhất định về năng lực hành vi, người giám sát trẻ em
không biết bơi và không có kĩ năng cứu đuối,…
Trường hợp người giám sát thiếu trách nhiệm như chủ phương tiện giao thông đường
thuỷ, chủ bãi tắm, người phụ trách tổ chức sự kiện,… không thực hiện đúng các quy định
khi trẻ em, học sinh hoạt động ở gần vùng nước mở hoặc trong môi trường nước.
4. Môi trường nước xung quanh tiềm ẩn nguy cơ
Môi trường nước xung quanh trẻ em, học sinh chưa an toàn, biểu hiện cụ thể như:
chum, vại nước, chậu nước, lu, phi nước, bể chứa nước trong chính gia đình không được
che đậy cẩn thận; hố các công trình đào sâu nhưng không có biển cảnh báo và rào chắn;
thành giếng không đủ độ cao cần thiết; bể bơi, khu vực tắm biển không có người trông
coi hoặc người trông coi không biết bơi, thiếu thiết bị cứu hộ, không có kĩ năng cứu đuối,
không có biển cảnh báo nguy hiểm,…
Phương tiện đường thuỷ không bảo đảm an toàn kĩ thuật, thiếu thiết bị an toàn như
áo phao, xuồng cứu hộ; chở đường thuỷ quá tải cũng là nguyên nhân gây mất an toàn khi
cho trẻ em, học sinh đi lại trên sông nước. Các bể bơi, bãi tắm, các vùng nước mở không
có người giám sát, lực lượng cứu hộ; các cây cầu bắc qua kênh, mương, sông, suối,…
không bảo đảm kĩ thuật, an toàn là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng
đuối nước.
5. Thiên tai
Do nhận thức, kiến thức, kĩ năng và thể chất, thể lực còn hạn chế, đặc biệt khi thiên
tai bất ngờ xảy ra, như mưa lớn, lũ, lụt,… nước dâng nhanh, dâng cao, dòng nước xoáy,
chảy mạnh khiến trẻ em, học sinh thường bị hoảng hốt, dễ bị nhấn chìm hoặc cuốn trôi
xuống kênh rạch, sông suối, cống thoát nước,… dẫn đến tử vong.
Việc loại bỏ các yếu tố nguy cơ dẫn đến tai nạn đuối nước để tạo ra môi trường an
toàn cho trẻ em tại các gia đình, cộng đồng dân cư chưa triệt để; nguy cơ xảy ra đuối nước
còn tồn tại ở nhiều địa phương trên cả nước, đặc biệt là các vùng quê, nông thôn, miền
núi và những vùng khó khăn về đời sống, kinh tế.
12
Chuyên đề 2
CÁC BIỆN PHÁP AN TOÀN PHÒNG TRÁNH
ĐUỐI NƯỚC CHO HỌC SINH
I
Nguyên tắc đảm bảo an toàn phòng tránh đuối nước
1. Nguyên tắc cơ bản
– Loại bỏ nguy cơ gây đuối nước cho trẻ em tại cộng đồng, gia đình, trường học.
– Luôn cảnh giác, cẩn thận khi vui chơi gần các khu vực ao, hồ, sông, suối.
– Chấp hành các quy định khi tham gia giao thông đường thuỷ.
– Học bơi theo trường lớp và có người quản lí, đào tạo đảm bảo trách nhiệm;
có phương tiện cứu hộ và sơ cứu kịp thời.
– Ra khỏi vùng nước khi cơ thể bắt đầu cảm thấy mệt mỏi.
– Người lớn và trẻ em cần nhớ số điện thoại và gọi cấp cứu (khi cần thiết) đến số 115
(cấp cứu y tế) hoặc 111 (Tổng đài Quốc gia bảo vệ trẻ em).
Nắm vững nguyên tắc 3 không:
• Không xuống nước nếu không biết bơi hoặc khi cơ thể mệt mỏi.
• Không bơi, lội một mình.
• K
hông bơi, lội khi thời tiết đang hoặc sắp chuyển xấu (như mưa to, dông, sét,…)
và không bơi, lội trong vùng nước bẩn.
2. Chủ động đảm bảo an toàn phòng tránh đuối nước ở học sinh
2.1. Luôn cảnh giác, cẩn thận khi vui chơi gần các khu vực ao hồ, sông suối
Nhiều trường hợp trẻ em, học sinh bị đuối nước sau khi tan trường, đặc biệt là trong
các buổi được nghỉ học, các em rủ nhau đi tắm, chơi đùa gần khu vực có vùng nước mở,
vùng sình lầy. Đây là một trong những chú ý quan trọng hàng đầu cần cụ thể hoá thành
các quy định cụ thể cho phù hợp với trẻ em, học sinh ở các lứa tuổi khác nhau, có hoàn cảnh,
điều kiện khác nhau ở mỗi địa phương, địa bàn. Về vấn đề này, Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã chỉ đạo, quán triệt: Giáo viên ở các tiết học cuối trước khi học sinh tan trường, thường
xuyên nhắc nhở, khuyến cáo các em không được chơi, đùa nghịch gần ao hồ, sông suối,
kênh rạch, hố công trình,… nơi tiềm ẩn nguy cơ đuối nước; không tự ý hoặc rủ nhau
đi tắm, đi bơi khi không có người lớn đi cùng, đặc biệt là trong thời gian được nghỉ học,
nghỉ hè.
13
2.2. Loại bỏ nguy cơ đuối nước cho trẻ em tại cộng đồng, gia đình, trường học
Môi trường sống luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra tai nạn đuối nước nhưng không
phải nơi nào cũng có biển cảnh báo. Đối với người lớn có thể dễ nhận biết được những
nguy cơ này, nhưng đối với trẻ em, học sinh (đặc biệt lưu ý ở lứa tuổi tiểu học), các em
bị hạn chế hơn, bên cạnh đó, do tính hiếu động, thích khám phá nên rất dễ xảy ra tai
nạn đáng tiếc. Vì vậy, mỗi gia đình luôn phải lưu ý loại bỏ nguy cơ đuối nước ở ao, hố
chứa nước, mương, kênh rạch,… trong và quanh nhà cũng như các vật dụng chứa nước;
chính quyền địa phương, các ngành chức năng đảm bảo môi trường cộng đồng an toàn;
nhà trường đảm bảo môi trường trong khuôn viên trường học an toàn, đặc biệt ở những
trường có ao hoặc hồ bơi. Gia đình và các tổ chức đoàn thể cần chủ động kiến nghị chính
quyền địa phương để có giải pháp đảm bảo môi trường sống an toàn để ngăn ngừa tai nạn
đuối nước có thể xảy ra.
2.3. Chỉ bơi, lội khi có người lớn giám sát
Bơi trong môi trường nước ở bể bơi và bơi trong môi trường nước tự nhiê
 









Các ý kiến mới nhất