Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

SKKN

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Văn H­­­­­U­Ng
Ngày gửi: 07h:29' 12-04-2025
Dung lượng: 144.5 KB
Số lượt tải: 16
Số lượt thích: 0 người
Phần 1: MỞ ĐẦU
1. Mục đích của sáng kiến.
Thực hiện theo chỉ thị của ngành: “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh
tích cực” là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay. Dạy học được chuyển từ truyền đạt kiến
thức, kỹ năng sang phát huy phẩm chất và năng lực cho học sinh. Nhưng làm sao
để phát huy tính tích cực của học sinh, phát huy được phẩm chất và năng lực cho
học sinh đang là vấn đề lớn cần giải quyết.
Thực tế giảng dạy đã cho thấy rằng chỉ khi nào học sinh tích cực chủ động
lĩnh hội kiến thức thì kết quả giảng dạy của giáo viên và kết quả học tập của học
sinh mới đạt kết quả cao nhất.
Vậy làm thế nào để phát huy được tính tích cực của học sinh trong học tập?
Đây là vấn đề không hề đơn giản nhưng lại rất cấp thiết trong thực tế giảng dạy
hiện nay.
Sinh học là một trong những bộ môn khoa học thực nghiệm. Trong quá trình
giảng dạy giáo viên thường sử dụng phương pháp thí nghiệm, vấn đáp, nghiên cứu
thực tế…để giúp học sinh tìm ra kiến thức. Sinh học lớp 9 có mạch nội dung khá
lớn nghiên cứu về môi trường và các nhân tố sinh thái. Nếu sử dụng đơn lẻ các
phương pháp dạy học trên để truyền đạt kiến thức cho học sinh thì hiệu quả giảng
dạy đôi khi chưa cao. Vậy giáo viên phải kết hợp sử dụng phương pháp như thế nào
để học sinh có thể tiếp thu dễ dàng và cảm thấy thích thú học tập bộ môn?
Bảo vệ môi trường hiện nay là một trong những mối quan tâm hàng đầu của
Việt Nam nói riêng và của nhiều nước trên Thế giới nói chung, vì sự phát triển bền
vững của toàn cầu. Trong đó con người là một bộ phận của môi trường, do đó con
người sẽ không thể sống nếu môi trường không được bảo vệ. Nói cách khác bảo vệ
môi trường chính là bảo vệ cuộc sống của chúng ta.
Trong những năm gần đây những dấu hiệu cho thấy nạn suy thoái môi
trường đã một rõ ràng hơn do nhiều nguyên nhân, chủ yếu là do tác động của con
1

người. Khi gánh chịu hậu quả gây ra, con người đã bắt đầu ý thức được những ảnh
hưởng có hại của mình đối với môi trường sống. Chính vì thế con người cần quan
tâm hơn công tác bảo vệ môi trường, đặc biệt là bảo vệ môi trường trong thời kỳ
công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa các nội dung bảo
vệ môi trường vào hệ thống giáo dục nhằm tác động lên thái độ, hành vi của học
sinh bằng chương trình lồng ghép giáo dục môi trường trong các môn học ở cấp
trung học cơ sở cũng như các cấp học khác.
Chúng ta đang sống trong một môi trường ngày càng ô nhiễm nghiêm trọng.
Để ngăn chặn cải thiện tình trạng hiện tại cũng như tương lai, chúng ta cần những
thế hệ có nhận thức đầy đủ hơn về tầm quan trọng của môi trường đối với đời sống
con người và các loài sinh vật khác, cũng như trách nhiệm của bản thân trong việc
bảo vệ môi trường sống. Tuyên truyền, giáo dục là giải pháp đem lại hiệu quả cao,
trong đó giáo dục ở nhà trường có vai trò rất quan trọng.
Giáo dục bảo vệ môi trường là một vấn đề cấp bách có tính toàn cầu và là
vấn đề có tính khoa học, tính xã hội sâu sắc. Đặc biệt vấn đề này rất cần thiết đối
với các em học sinh - những chủ nhân tương lai của đất nước. Hình thành cho các
em ý thức bảo vệ môi trường và thói quen sống vì một môi trường xanh - sạch đẹp - an toàn.
Để có một môi trường bền vững cho hôm nay và cả mai sau thì ngay từ bây
giờ chúng ta cần phải giáo dục cho học sinh những kiến thức cần thiết về môi
trường. Nếu nhận thức của mỗi học sinh tốt, thực hiện tốt việc bảo vệ môi trường,
đó cũng là lực lượng tốt bảo vệ, khôi phục thiên nhiên, góp phần cải thiện sức khỏe
con người. Nhưng ý thức không là chưa đủ mà cần phải có những biện pháp, những
cách làm, để góp phần bảo vệ môi trường.
Là một giáo viên sinh học, việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho các
em qua các giờ lên lớp là một yêu cầu không thể thiếu trong quá trình dạy học. Vậy
giáo dục như thế nào để có hệ thống và hiệu quả? Tôi xin mạnh dạn đưa ra một số
kinh nghiệm về “Tích hợp kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường vào giảng dạy
2

môn Sinh học 9”, với mong muốn các em có cái nhìn rõ ràng hơn về môi trường
hiện nay, biết cách bảo vệ môi trường sống góp phần vào sự phát triển bền vững.
2. Tính mới và ưu điểm nổi bật của sáng kiến.
* Sáng kiến với các giải pháp được trình bày có nhiều điểm khác, mới so với các
giải pháp cũ trước đây:
- Lấy lý luận dạy học hiện đại làm cơ sở.
- Đáp ứng được mục tiêu dạy học.
- Tạo được hứng thú học tập cho học sinh.
- Học sinh chủ động lĩnh hội tri thức một cách nhanh và chính xác cũng như
nhớ lâu được kiến thức.
- Tăng cường khả năng vận dụng kiến thức giúp học sinh giải quyết tốt hơn
các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống nhất là những vấn đề liên quan tới môi trường.
* Sáng kiến được áp dụng lần đầu thực tiễn tại đơn vị bắt đầu từ đầu năm học
2022-2023; ưu điểm nổi bật của sáng kiến là:
- Học sinh yêu thích bộ môn hơn và chất lượng đại trà có sự tiến bộ rõ rệt.
- Rèn tư duy nhanh nhạy, kỹ năng quan sát, phân tích, tổng hợp, khái quát
hoá kiến thức, phát triển kỹ năng phán đoán của học sinh.
- Vận dụng và thực hiện được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện
nay: giáo viên thực sự là người tổ chức, hướng dẫn, điều khiển hoạt động của học
sinh còn học sinh là đối tượng tham gia trực tiếp, chủ động, linh hoạt, sáng tạo
trong hoạt động học tập của mình tạo ra một không khí phấn khởi, hào hứng trong
học tập Sinh học.
- Phát huy tính tích cực, năng lực tư duy, óc sáng tạo và khả năng tự học của
học sinh trong quá trình học tập.
- Giảng dạy và học tập phải gắn liền với cuộc sống hàng ngày, học đi đôi với
hành.
- Rèn luyện được kĩ năng sống và phát triển năng lực học sinh.

3

- Học sinh có ý thức hơn trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường ở nhà trường,
gia đình và địa phương. Bước đầu có khả năng xử lý những hiện tượng ô nhiễm
môi trường đơn giản tại gia đình, nhà trường và địa phương.
3. Đóng góp của sáng kiến.
Trang bị cho học sinh phát triển toàn diện, có tri thức, có đạo đức, sức khỏe,
thẩm mỹ, góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực và các
kỹ năng sống cần thiết, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giáo dục hiện nay.
Phân loại các loại bài dạy trong chương trình sinh học 9 có thể lồng ghép và
đưa “Tích hợp kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường vào giảng dạy môn Sinh
học 9”. Nhằm định hướng cho HS hiểu và ý thức được một số vấn đề về môi
trường đang được quan tâm hiện nay, có liên quan trực tiếp tới quá trình dạy và học
môn Sinh học ở trường THCS.
- Giúp học sinh ham mê, yêu thích bộ môn sinh học.
- Tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi
trường, cải thiện và xây dựng môi trường xanh- sạch - đẹp - an toàn.
- Trang bị cho các em kiến thức về môi trường và các biện pháp để bảo vệ
môi trường.

4

Phần 2: NỘI DUNG
Chương 1: Mục tiêu hướng tới khi thực hiện: “Tích hợp kiến thức giáo dục bảo
vệ môi trường vào giảng dạy môn Sinh học 9”.
Giáo dục từ lâu đã được coi là quốc sách hàng đầu. Đặc biệt là trong những
năm gần đây giáo dục càng trở nên quan trọng. Xã hội càng phát triển, nhu cầu về
nguồn lực con người càng tăng càng đòi hỏi chất lượng dạy và học cần phải được
nâng cao để có được sản phẩm con người phát triển một cách toàn diện cả về trí tuệ
lẫn nhân cách - đó là nguồn nhân lực lao động sáng tạo, là chủ thể để xây dựng đất
nước. Bởi vậy việc chuẩn bị cho học sinh những phẩm chất, kiến thức và kỹ năng
gắn liền với thực tiễn cuộc sống là hết sức cần thiết trong nhà trường phổ thông
hiện nay. Thời đại ngày nay, nhiều thành tựu khoa học và công nghệ xuất hiện một
cách hết sức bất ngờ và cũng được đổi mới một cách cực kì nhanh chóng. Hệ thống
giáo dục theo đó cũng đặt ra những yêu cầu mới. Từ việc thi thố tài năng bằng sự
thuộc lòng những hiểu biết “uyên thâm”, chuẩn mực người giỏi là “thông kim bác
cổ”, hiểu biết “thiên kinh vạn quyển” đã dần thay thế bởi năng lực đưa ra những
quyết định sáng tạo trong các tình huống không ngừng biến  động của cuộc sống.
Nền giáo dục mới đòi hỏi không chỉ trang bị cho học sinh kiến thức mà nhân
loại đã tìm ra mà còn phải bồi dưỡng cho học tính năng động, óc tư duy sáng tạo và
thực hành giỏi, tức là đào tạo những con người không chỉ biết mà phải có năng lực
hành động.
Môn sinh học 9 cung cấp một số kiến thức cơ bản về di truyền, biến dị và
môi trường cũng như sự ảnh hưởng của môi trường đến di truyền. Qua đó giúp các
em học sinh hiểu và vận dụng các kiến thức đó vào cuộc sống, vào việc bảo vệ môi
trường, có các biện pháp hạn chế các tác động xấu của môi trường ảnh hưởng đến
đời sống. Nâng cao năng lực nhận thức và các kỹ năng sống cần thiết khác.
Các em ngoài việc lĩnh hội được trọn vẹn kiến thức về di truyền, biến dị và
môi trường trong chương trình sinh học 9 một cách vững chắc mà còn cơ bản hình
thành và phát triển được các kỹ năng nắm bắt, hiểu, xử lý vận và dụng được các
5

kiến thức đó vào cuộc sống, vào việc bảo vệ môi trường, có các biện pháp hạn chế
các tác động xấu của môi trường ảnh hưởng đến đời sống.
Sáng kiến “Tích hợp kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường vào giảng dạy
môn Sinh học 9” được triển khai xây dựng với mong muốn góp một phần nhỏ bé
để nâng cao chất lượng dạy học môn Sinh học 9, nhằm phát triển một số phẩm chất
và năng lực cho học sinh Trường THCS Nhân Thắng, qua đó giúp học sinh vận
dụng được kiến thức đã học vào việc giữ gìn và bảo vệ môi trường sống nhằm góp
phần đảm bảo sự phát triển bền vững.
Chương 2: Những giải pháp đã được áp dụng.
Để đáp ứng yêu cầu của cải cách giáo dục, từng bước vận dụng phương pháp
dạy học mới “lấy học sinh là nhân vật trung tâm, giáo viên chỉ là người tổ chức,
hướng dẫn cho học sinh học tập để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh”.
Nội dung “Giáo dục bảo vệ môi trường” được tích hợp trong nội dung của
các bài học, nên “ Tích hợp kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường vào giảng dạy
môn Sinh học 9” cũng được tích hợp vào các phương pháp giảng dạy bộ môn. Tuy
nhiên, muốn đạt được mục tiêu của “Tích hợp kiến thức giáo dục bảo vệ môi
trường vào giảng dạy môn Sinh học 9” là không chỉ giúp cho người học có kiến
thức mà phải hình thành cho họ sự quan tâm, có hành vi đúng với môi trường
chung, với quan hệ giữa đời sống và môi trường, nên không chỉ đừng lại ở phương
pháp dạy truyền thống mà nên kết hợp với việc sử dụng các phương pháp tích cực
sẽ phát huy được tính chủ động sáng tạo của người học. Một số giải pháp để “ Tích
hợp kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường vào giảng dạy môn Sinh học 9” có thể
sử dụng là:
1. Giải pháp thứ nhất: Định hướng phương pháp và hình thức tích hợp lồng
ghép giáo dục bảo vệ môi trường.
1.1. Giáo viên có thể giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh ngay trong
các hoạt động dạy của mình.
6

Nếu trong cấu trúc bài học nội dung có liên quan tới môi trường được đặt ở
cuối mỗi bài nên chiếm một nội dung rất nhỏ trong bài, tuy nhiên người giáo viên
nhất thiết không được coi là phần phụ mà dễ bỏ qua. Cần đưa vào mục tiêu giáo
dục của bài. Giáo viên dẫn dắt gợi ý cho học sinh tự nói dựa trên hiểu biết của
mình, sau đó giáo viên khuyến khích cho điểm đối với học sinh đưa ra những thông
tin đúng ngoài sách giáo khoa.
Ví dụ: Bài 53:Tác động của con người đối với môi trường .
Giáo viên cho học sinh tự đọc thông tin tìm hiểu sự tác động của con người
tới môi trường qua các thời kỳ phát triển của xã hội - học sinh sẽ hiểu được thời kì
nguyên thuỷ môi trường ít chịu tác động của con người, thời kỳ xã hội nông nghiệp
đã chịu sự tác động chủ yếu của con người do hoạt động phá rừng làm nương rẫy,
xây dựng khu dân cư...đặc biệt đến thời kỳ xã hội công nghiệp thì việc cơ giới hoá
nông nghiệp, đô thị hoá...dẫn tới suy giảm môi trường.
Tiếp theo giáo viên yêu cầu học sinh tự tìm hiểu những hoạt động của cộng
đồng dân cư nơi mình đang sống có ảnh hưởng tới môi trường như thế nào? Cuối
cùng tìm ra các biện pháp bảo vệ và cải tạo môi trường tự nhiên.
Như vậy ta cứ tiến hành tích hợp ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh vào
các bài học liên tục. Từ đó hình thành cho các em thói quen bảo vệ môi trường
trước hết ở phương diện lý thuyết sau đó sẽ thành hành động cụ thể khi các em hiểu
rõ vấn đề.
1.2. Định hướng phương pháp giảng dạy bài học có liên quan tới môi trường.
Để giảng dạy kiến thức có liên quan đến môi trường, giáo viên cần tích hợp
một cách có hệ thống các kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường với kiến thức môn
học thành nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau dựa trên mối liên hệ lý
luận và thực tiễn được đề cập trong bài học. Vì vậy kiến thức giáo dục bảo vệ môi
trường không phải muốn đưa vào lúc nào cũng được, mà phải căn cứ vào nội dung
của bài học có liên quan với vấn đề môi trường mới có thể tìm chỗ thích hợp để
đưa vào. Đối với môn Sinh học có thể áp dụng hai dạng khác nhau:
7

* Dạng lồng ghép
- Ở dạng này, các kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường đã có trong chương
trình sách giáo khoa và trở thành một phần kiến thức môn học. Trong sách giáo
khoa Sinh học 9 môi dung này có thể chiếm một vài chương.
Ví dụ: Chương I: Sinh vật và môi trường; Chương II: Hệ sinh thái; Chương
III: Con người, dân số và môi trường; Chương IV: Bảo vệ môi trường. Chiếm một
mục, một đoạn trong bài học (lồng ghép một phần). Trong sách giáo khoa Sinh học
9:
+ Bài 29: Bệnh và tật di truyền ở người. Trong bài này ở mục III có các biện
pháp để hạn chế bệnh và tật di truyền ở người: “Đấu tranh chống sản xuất, thử, sử
dụng vũ khí hạt nhân, vũ khí hoá học và các hành vi gây ô nhiễm môi trường. Sử
dụng đúng cách các loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc chữa bệnh”.
+ Bài 30: Di truyền học với con người: Trong bài này ở mục III có nêu lên
hậu quả di truyền do ô nhiễm môi trường.
* Dạng liên hệ
- Ở dạng này các kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường không được đưa vào
chương trình và sách giáo khoa nhưng dựa vào nội dung bài học, giáo viên có thể
bổ sung kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường có liên quan với bài học qua giờ lên
lớp.
Trong sách giáo khoa Sinh học 9 có nhiều bài có khả năng liên hệ kiến thức
bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, giáo viên cần xác định các bài học có khả năng lồng
ghép và lựa chọn các kiến thức và vị trí có thể đưa nội dung giáo dục bảo vệ môi
trường vào bài một cách hợp lý. Muốn làm đựoc điều này đòi hỏi giáo viên phải
luôn cập nhật các kiến thức về môi trường.
Để giảng dạy kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường đối với môn Sinh học lớp
9 người giáo viên có thể vận dụng nhiều phương pháp khác nhau sao cho phù hợp
với mục tiêu bài học.
- Phương pháp tham quan, điều tra, khảo sát, nghiên cứu thực địa.
8

- Phương pháp thí nghiệm.
- Phương pháp khai thác kinh nghiệm thực tế để giáo dục.
- Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề.
- Phương pháp tổ chức hoạt động nhóm của học sinh.
- Phương pháp hoạt động thực tiễn.
- Phương pháp nêu gương.
Trong đó dạy học hợp tác nhóm nhỏ có ưu thế rõ rệt vì khi đó học sinh được
thảo luận tìm ra kiến thức một cách chủ động. Chúng ta có thể chia nhóm hoạt
động, mỗi nhóm thực hiện một nội dung bài học bằng cách giao nhiệm vụ.
Ví dụ : Bài 54 và 55: Ô nhiễm môi trường - Sinh học 9.
Muốn thực hiện nội dung này giáo viên giao nhiệm vụ hoạt động cho từng
nhóm.
- Nhóm nói về ô nhiễm khí hậu.
- Nhóm nói về ô nhiễm nguồn nước....
Trong đó: Mỗi nội dung phải nêu được:
- Nguyên nhân.
- Biện pháp hạn chế.
- Liên hệ bản thân
Sau đó nhóm trình bày, nhóm khác nhận xét bổ sung và cho điểm.
Song để thực hiện được nội dung này yêu cầu người giáo viên phải có vốn
kiến thức thực tế và biết cách tổ chức hoạt động và giao nhiệm vụ trước cho học
sinh.
1.3. Tích hợp kiến thức bảo vệ môi trường dưới các dạng trò chơi.
Để thay đổi hình thức dạy - học cho học sinh đỡ nhàm chán (đặc biệt đối với
phần sinh thái và môi trường Sinh học 9) thì ta nên sử dụng phương pháp này.
Ví dụ: Bài 58: Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên - Sinh học 9
Bài này gồm 3 nội dung: + Sử dụng hợp lý tài nguyên đất,
+ Sử dụng hợp lý tài nguyên nước.
9

+ Sử dụng hợp lý tài nguyên rừng.
Giáo viên giao nhiệm vụ cho các tổ về chuẩn bị các tình huống (mỗi tổ 1 tình
huống, 1 nội dung) sau đó các tổ đưa ra tình huống sử dụng một loại tài nguyên nào
đó và yêu cầu tổ khác giải quyết tình huống đó - xem sử dụng như thế đã hợp lý
chưa, giải thích....
1.4. Tổ chức ngoại khoá trong giờ thực hành.
Trong những năm gần đây dưới sự tác động của con người, môi trường có
nhiều thay đổi cả tích cực và tiêu cực. Vì vậy việc tổ chức ngoại khoá cho cho học
sinh đi đến những nơi có thay đổi tích cực, tiêu cực là một dịp để các em nắm chắc
nội dung bài học, từ đó tìm ra phương pháp bảo vệ môi trường hiện tại và tương lai.
2. Giải pháp thứ 2: Xác định được mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường.
2.1. Xác định được mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường của môn học.
 Kiến thức: học sinh nắm được:
- Khái niệm môi trường, hệ sinh thái, các thành phần môi trờng, quan hệ giữa
chúng.
- Nguồn tài nguyên, khai thác, sử dụng, tái tạo và phát triển bền vững.
- Mối quan hệ giữa con người - dân số và môi trường.
- Sự ô nhiễm và suy thoái môi trường (hiện trạng, nguyên nhân, hậu quả).
- Các biện pháp bảo vệ môi trường (môi trường ở địa phương, quốc gia, khu
vực, toàn cầu).
 Kĩ năng – Hành vi:
- Có hành động cụ thể bảo vệ môi trường
- Tuyên truyền, vận động mọi người tham gia hoạt động bảo vệ môi trường
trong gia đình, nhà trường , xã hội.
 Thái độ – Tình cảm :
- Có tình cảm yêu quý, tôn trọng thiên nhiên.
- Có tình yêu quê hương, đất nước.

10

- Có thái độ thân thiện với môi trường và ý thức được hành động trước vấn
đề môi trường nảy sinh.
- Quan tâm thường xuyên đến môi trường sống của cá nhân, gia đình, cộng
động.
2.2. Xác định mục tiêu giáo dục ý thức bảo vệ môi trường qua một bài, cần tiến
hành theo các bước sau.
- Rà soát sách giáo khoa, chọn bài, chọn mục.
- Nghiên cứu nội dung giáo dục môi trường hướng dẫn trong sách giáo viên,
chuẩn kiến thức, kỹ năng về bài hay mục đã chọn.
- Xác định nội dung được tích hợp trong bài học đã chọn.
- Cập nhập thông tin giáo dục bảo vệ môi trường có liên quan.
2.3. Xác định mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường trên cơ sở trả lời các câu hỏi.
- Có thể giúp cho học sinh hiểu biết gì về môi trường và các biện pháp bảo vệ
môi trường?
- Bài học có phần giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh không?
Nếu có thì giáo dục ý thức bảo vệ môi trường như thế nào?
- Bài học có góp phần rèn luyện kĩ năng – hành vi bảo vệ môi trường không?
Nếu có thì kĩ năng cụ thể là gì?
2.4. Xác định phương pháp giảng dạy bài học có liên quan tới môi trường.
Bằng năng lực và kiến thức của mình, người giáo viên phải xây kế hoạch
(giáo án) chu đáo với nhiều phương pháp dạy (hỏi đáp, nhóm, trò chơi…) để dẫn
dắt gợi ý cho học sinh tự nói lên được những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường,
hậu quả của ô nhiễm môi trường và đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường.
Các ví dụ:
 Bài 47 Quần thể sinh vật
Sau khi học sinh nắm được khái niệm Quần thể sinh vật và nhưng đặc
trưng cơ bản của quần thể, giáo viên cần nhấn mạnh phần ảnh hưởng của môi
trường tới quần thể sinh vật bằng cách đưa ra hệ thống câu hỏi và câu trả lời sau:
11

- Câu hỏi: Các nhân tố môi trường ảnh hưởng tới đặc điểm nào của quần thể?
Trả lời: Số lượng cá thể trong quần thể tức làm thay đổi mật độ của quần thể.
- Câu hỏi: Mật độ của quần thể được điều chỉnh tự nhiên như thế nào?
Trả lời: Mật độ của quần thể được điều chỉnh do cơ chế duy trì trạng thái cân
bằng của quần thể: Khi mật độ quá cao, điều kiện sống suy giảm, trong quần thể
dẫn đến giảm số lượng như hiện tượng di cư của một bộ phận quần thể, giảm khả
năng sinh sản và mắn đẻ của các cá thể cái, giảm sức sống sót của các cá thể non và
già… Khi mật độ giảm, sự điều chỉnh sẽ theo hướng ngược lại, khả năng sinh sản
và khả năng sống sót của các cá thể trong quần thể tăng cao hơn. Tuy nhiên, trong
nhiều trường hợp, mật độ giảm xuống quá thấp thì khả năng phục hồi sẽ gặp khó
khăn có thể dẫn tới diệt vong.
- Liên hệ giáo dục ý thức bảo vệ môi trường: Qua hiện tượng đó rút ra kết
luận gì?
Trả lời: Con người bằng hoạt động của mình có thể làm thay đổi môi
trường sống tự nhiên của quần thể, thay đổi sự cân bằng của quần thể. Cần tôn
trọng môi trường tự nhiên của quần thể.
 Bài 54 - 55: Ô nhiễm môi trường
- Giáo viên lấy một vài hình ảnh có nội dung về dòng sông, khu công nghiệp
bị ô nhiễm.
- Học sinh: Theo dõi ví dụ.
- Giáo viên nêu câu hỏi: Ô nhiễm môi trường là gì?
- Học sinh: Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị bẩn,
đồng thời các tính chất vật lý, hoá học, sinh học của môi trường bị thay đổi gây tác
hại tới con người và các sinh vật khác.
- Giáo viên nêu câu hỏi: Kể tên một số môi trường bị ô nhiễm?
- Học sinh: Đất, nước, không khí...
- Giáo viên nêu câu hỏi: Em hãy nêu những tác hại của ô nhiễm môi trường
đến đời sống con người
12

- Học sinh: Có thể nêu theo hiểu biết như các bệnh về da, hô hấp, gây bệnh
ung thư...
Tìm hiểu: Các tác nhân chủ yếu gây ra ô nhiễm môi trường và các biện pháp
hạn chế gây ô nhiễm môi trường ở bảng 55-tr 168, giáo viên tổ chức bài giảng dưới
dạng cuộc thi.
- Thể lệ:
+ Chia lớp thành 4 nhóm đều nhau (vì có 8 ý ở bảng 55)
+ Mỗi nhóm bốc thăm 2 câu hỏi (2 ý), chuẩn bị trong vòng 10 phút.
+ Mỗi nhóm trình bày 5 phút.
+ Trả lời đúng được điểm và quà.
Ví dụ câu hỏi: Nguyên nhân nào gây ô nhiễm không khí? Biện pháp hạn
chế ô nhiêm không khí là gì? Bản thân em đã làm gì để góp phần giảm ô nhiễm
không khí? (Câu hỏi tương tự với các nội dung ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm do
thuốc bảo vệ thực vật và ô nhiễm do chất thải rắn).
- Giáo viên và 4 học sinh (mỗi nhóm cử 1 học sinh) làm giám khảo.
- Giáo viên lưu ý học sinh trình bày có liên hệ ở địa phương (như ở xã,
huyện hay tỉnh) để đạt điểm cao nhất.
- Sau khi các nhóm trình bày xong các nội dung thì giám khảo sẽ đánh giá và
công bố kết quả.
Kết thúc: Yêu cầu học sinh: Hoàn thành bảng 55 SGK tr.168.
- Giáo viên mở rộng: Có bảo vệ được môi trường không bị ô nhiễm thì các
thế hệ hiện tại và tương lai mới được sống trong bầu không khí trong lành, đó là sự
bền vững.
 Bài 60 Bảo vệ đa dạng các hệ sinh thái
- Cần nhấn mạnh ý nghĩa và các biện pháp bảo vệ hệ sinh thái rừng.
- Giáo viên nêu câu hỏi: Bảo vệ hệ sinh thái rừng có ý nghĩa gì?

13

Học sinh trả lời: Bảo vệ hệ sinh thái rừng là bảo vệ môi trường sống của
nhiều loài sinh vật. Hệ sinh thái rừng được bảo vệ sẽ hóp phần điều hòa khí hậu,
giữ cân bằng sinh thái của Trái Đất.
- Giáo viên nêu câu hỏi: Mất rừng sẽ gây hậu quả như thế nào?
Trả lời: Mất rừng là mất nhiều nguồn tài nguyên sinh vật quý giá, đồng thời
là nguyên nhân dẫn tới hạn hán, lũ lụt, xói mòn đất…và gây mất cân bằng sinh thái
trên Trái Đất.
* Liên hệ giáo dục ý thức bảo vệ môi trường: Hãy nêu các biện pháp bảo vệ
hệ sinh thái rừng?
Trả lời:
+ Xây dựng kế hoạch để khai thác nguồn tài nguyên ở mức độ phù hợp.
+ Xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia…
+ Trồng cây gây rừng.
+ Phòng chống cháy rừng.
+ Vận động đồng bào dân tộc ít người định canh, định cư.
+ Phát triển dân số hợp lí, ngăn cản việc di dân tự do tới ở và trồng trọt trong
rừng.
+ Tăng cường công tác tuyên truyền.
3. Giải pháp thứ 3: Tích hợp kiến thức bảo vệ môi trường dưới dạng các trò
chơi, hội thi tìm hiểu.
Các trò chơi, hội thi tìm hiểu có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc hình thành
ý thức bảo vệ môi trường vì:
- Gây hứng thú cho học sinh khi nghiên cứu vấn đề về bảo vệ môi trường.
- Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh đối với những vấn
đề về bảo vệ môi trường.
- Giúp học sinh mở rộng và nâng cao kiến thức về bảo vệ môi trường.
- Phát triển khả năng giao tiếp, khả năng làm việc hợp tác nhóm nhỏ.
- Hình thành khả năng tự học, tự nghiên cứu.
14

Để tổ chức giáo dục bảo vệ môi trường dưới hình thức này giáo viên cần
tuân thủ các bước sau đây:
Bước 1: Xác đinh tên chủ đề.
Bước 2: Xác định mục tiêu, nội dung.
Bước 3: Xác định thời gian, địa điểm.
Bước 4: Thành lập nhóm giám khảo
Bước 5: Tuyên truyền phát động trò chơi, hội thi.
Bước 6: Thiết kế chương trình.
Bước 7: Chuẩn bị cơ sở vật chất - thiết bị
Bước 8: Tiến hành trò chơi, hội thi.
Bước 9: Tổng kết, rút kinh nghiệm.
Ví dụ: Dạy bài 58: Sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên
Mục II.3: Sử dụng hợp lí tài nguyên rừng
- GV tổ chức cho học sinh chơi trò chơi: “Làm thế nào để bảo vệ rừng”
- Ý nghĩa của trò chơi: Bảo vệ rừng là trách nhiệm của mọi người
- GV chọn 12 học sinh: Đóng các vai (giấy A 4, viết chữ rồi dán lên trước
ngực.
+ Cán bộ kiểm lâm: 3 học sinh
+ Thợ săn: 2 học sinh
+ Người khai thác gỗ lậu: 2 học sinh
+ Người buôn gỗ lậu: 2 học sinh
+ Người dân địa phương: 2 học sinh
+ Thầy lang: 1 học sinh
- Giáo viên chuẩn bị 100 chiếc kẹo: 20 màu đỏ tượng trưng cho các loại gỗ
quý, 20 chiếc màu xanh tượng trưng cho động vật sống trong rừng, 20 chiếc màu
trắng tượng trưng cho đất rừng, 20 cái vàng tượng trưng cho dược liệu, 20 chiếc
màu tím tượng trưng cho các lâm sản khác.
- Xếp kẹo rải rác trên bàn giáo viên và bàn thứ nhất của HS.
15

+ Các cán bộ kiểm lâm cố gắng giữ không cho số kẹo (rừng) mất đi; những
người khác tìm cách để lấy kẹo càng nhiều càng tốt.
+ Trò chơi diễn ra khoảng 3 – 5 phút.
- Thảo luận:
+ Cán bộ kiểm lâm có thể giữ vẹn toàn số kẹo (rừng) không?
+ Để có thể giữ vẹn toàn số kẹo (rừng) người kiểm lâm cần sự hỗ trợ của ai?
+ Những người hỗ trợ cần phải làm gì để giúp người kiểm lâm có thể giữ vẹn
toàn số kẹo (rừng)?
Ví dụ: Dạy bài 62: Thực hành vận dụng luật bảo vệ môi trường vào việc bảo vệ
môi trường ở địa phương (Sinh học 9)
Hoạt động 1: Giáo viên nêu mục tiêu và yêu cầu bài học
Hoạt động 2: Tổ chức thực hành.
- Giáo viên chia học sinh làm 4 tổ.
- Giao nhiệm vụ cho mỗi tổ.
+ Tổ 1: Thảo luận nội dung: Không đổ rác bừa bãi gây mất vệ sinh.
+ Tổ 2: Thảo luận nội dung: Không gây ô nhiễm nguồn nước.
+ Tổ 3: Thảo luận nội dung: Không sử dụng phương tiện giao thông cũ nát.
+ Tổ 4: Thảo luận nội dung: Không sử dụng thuốc nổ để đánh bắt cá.
- Giáo viên yêu cầu mỗi tổ đưa ra các tình huống có vấn đề trong nội dung của tổ
và chuẩn bị giải quyết tình huống của các tổ còn lại.
- Giáo viên cho học sinh bốc thăm để đưa tình huống của các tổ và giải quyết tình
huống ở các tổ.
Hoạt động 3: Học sinh tiến hành thảo luận.
Hoạt động 4: Đại diện các nhóm đưa ra tình huống và giải quyết tình huống theo
sự sắp xếp bốc thăm.
- Ví dụ một số câu hỏi bốc thăm:
Em xử lý như thế nào khi gặp người đổ rác bừa bãi, sử dụng thuốc nổ đánh cá ở địa
phương?
16

Hoạt động 5: Đánh giá.
- Giáo viên cho học sinh đánh giá chéo giữa các tổ và cho điểm.
- Giáo viên đánh giá và cho điểm các tình huống.
- Kết quả đưa tình huống và giải quyết tình huống là nội dung của bài học.
4. Giải pháp thứ 4: Tăng cường ngoại khoá thực tế trong giờ thực hành, hướng
dẫn học sinh thu thập thông tin thực tế.
Ví dụ: Để dạy bài 56 - 57: Tìm hiểu tình hình môi trường địa phương (sách giáo
khoa Sinh học 9)
Giáo viên chọn địa điểm gần trường trước 2 ngày sau đó thông báo cho học
sinh chuẩn bị về phương tiện, vật dụng cần thiết, hướng dẫn cho học sinh kẻ một số
biểu bảng cần thiết như:
Bảng 1
Nhân tố vô sinh

Nhân tố hữu sinh

Hoạt động của con người
trong môi trường.

Bảng 2
Các nhân tố
gây ô nhiễm

Mức độ ô nhiễm

Nguyên nhân gây

Đề xuất biện

ô nhiễm

pháp khắc phục

Sau đó đến giờ thực hành giáo viên yêu cầu học sinh chia nhóm, quan sát,
thảo luận nhóm tự tìm đáp án điền vào bảng.
Trong quá trình thực hành bằng kiến thức thực tế học sinh cảm nhận được
vai trò của việc bảo vệ môi trường tại địa phương nói riêng và trên toàn cầu nói
chung trong giai đoạn hiện nay.
Chương 3: Kiểm chứng các giải pháp đã triển khai của sáng kiến.
Cách làm trên được vận dụng vào dạy học sinh học lớp 9 ở trường THCS
Nhân Thắng cho tất cả các đối tượng học sinh. Nhờ có áp dụng các phương pháp
17

này cùng với sự trao đổi kinh nghiệm thường xuyên với các bạn đồng nghiệp tôi
thấy kết quả bộ môn sinh học ở lớp tôi dạy được nâng lên rõ rệt, tạo cho học sinh
sự say mê học tập bộ môn.
Với cách làm như trên kết quả bộ môn sinh học (về nhận thức, độ nhanh
nhạy tìm ra kiến thức, vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống hàng ngày…) của
học sinh đã tăng lên đáng kể.
Sau khi áp dụng một số phương pháp trên vào thực tế trong bài giảng dạy
sinh học 9, tôi thấy đã đạt được kết quả khả quan:
- Giúp học sinh ham mê, yêu thích bộ môn sinh học.
- Tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi
trường, cải thiện và xây dựng môi trường xanh- sạch - đẹp - an toàn.
- Trang bị cho các em kiến thức về môi trường và các biện pháp để bảo vệ
môi trường.
- Học sinh tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng, thoải mái.
- Nâng cao năng lực tư duy nhanh nhạy, tác phong nhanh nhẹn, tính cẩn thận,
khả năng tự điều chỉnh bản thân.
- Chủ động giải quyết các tình huống nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày.
- Tích cực, tự giác thực hiện và tham gia các phong trào bảo vệ môi trường ở
nhà trường và địa phương.
- Học sinh tỏ ra hào hứng, chờ đợi đến tiết học tiếp theo và yêu thích bộ môn
hơn.
- Kết quả bài kiểm tra của học sinh như sau:
Lớp

Tổng
số

Giỏi
SL
%

Khá
SL
%

%

Yếu
SL
%

9A

44

09

20,4

11

25

22

50

02

4,6

0

0

9B

43

08

18,6

12

27,9

22

51,2

01

2,3

0

0

9C

42

10

23,8

15

35,7

16

50,6

03

3,5

0

0

SL

TB

- Kết quả về chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường:
18

Kém
SL
%

Năm học

Có ý thức bảo vệ
môi trường

2021-2022 (chưa lồng ghép
giáo dục bảo vệ môi trường)

Tích cực tham gia phong
trào bảo vệ môi trường ở
nhà trường và địa phương

50%

35%

2022-2023 (lồng ghép giáo
dục bảo vệ môi trường )

87%

72%

Qua kết quả trên đã cho thấy rõ việc đưa các phương pháp này vào dạy học
đã có hiệu quả. Chất lượng điểm bài kiểm tra và chất lượng thực hành bảo vệ môi
trường của học sinh đã có sự tiến bộ so với kết quả khảo sát đầu năm. Hơn thế, học
sinh đã tự giác, tích cực, chủ động, bước đầu đã tự tìm tòi và phát hiện được kiến
thức, tự tin vào bản thân hơn đồng thời kỹ năng xử lý các tình huống trong đời sống
cũng tốt hơn. Học sinh đã có lòng yêu thích, hứng thú đối với môn sinh. Một số học
sinh đã say mê với môn học, đầu tư nhiều thời gian và trí tuệ cho môn học hơn.
Như vậy việc áp dụng sáng kiến “Tích hợp kiến thức giáo dục bảo vệ môi
trường vào giảng dạy môn Sinh học 9” tôi thấy đã có kết quả tốt hơn, chất lượng
được nâng lên, tỉ lệ học sinh yếu giảm đáng kể, không có học sinh kém. Đặc biệt
học sinh đã vận dụng được kiến thức sinh học vào để giải thích các hiện tượng thực
tế có liên quan đến môi trường qua đó có biện pháp giữ gìn và bảo vệ môi trường ở
gia đình, nhà trường và xã hội tốt hơn.

19

Phần 3. KẾT LUẬN
1. Những vấn đề quan trọng nhất đ...
 
Gửi ý kiến