SKKN 08 Giải toán có lời văn

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Sử Thị Ngọc Huyền
Ngày gửi: 14h:50' 31-05-2008
Dung lượng: 108.5 KB
Số lượt tải: 1749
Nguồn:
Người gửi: Sử Thị Ngọc Huyền
Ngày gửi: 14h:50' 31-05-2008
Dung lượng: 108.5 KB
Số lượt tải: 1749
Số lượt thích:
0 người
PHÒNG GD NINH SƠN CỘNG HOÀ – XÃ HỘI – CHỦ NGHĨA – VIỆT NAM
Trường Tiểu học Tân Sơn B Độc lâp – Tự do –Hạnh phúc
---------------------------
Tên đề tài: GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN
Dạng toán “Bài toán liên quan đến rút về đơn vị”
Họ và tên: SỬ THỊ NGỌC HUYỀN
Chức vụ: GVCN lớp 3
I/ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trong quá trình dạy học Toán 3, kể từ khi thực hiên chương trình sách giáo khoa tiểu học. Điều đáng nói ở đây là giúp cho học sinh tự lĩnh hội được kiến thức theo sự chỉ dẫn của giáo viênđể có được hiệu quả như mong muốn. Người giáo viên phải biết tổ chức, hướng dẫn cho học sinh hoạt động dưới sự trợ giúp đúng mức của giáo viên, để mỗi học sinh tự phát hiện và giải quyết bài toán thông qua việc thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức mới và kiến thức cũ đã học.
Qua thực tế giảng dạy ở lớp 3 nhiều năm liền. Tôi thấy phần lớn tâm lý học sinh rất thích học môn Toán hơn so với những môn học khác. Nhưng trên thực tế các em chỉ thích làm toán số, nói chung là làm tính còn về giải toán có lời văn hầu như các em rất sợ.Vì vậy kết quả của việc làm toán giải của các em còn thấp.Thậm chí mới đọc đề xong các em đã cho là khó rồi, không chịu suy nghĩ…Vậy nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng học sinh yếu toán giải ? Đặc biệt ở lớp 3 dạng toán “Bài toán liên quan đến rút về đơn vị” là một trong các dạng bài khó đối với học sinh lớp 3. Cho nên làm cách nào để các em biết cách làm câu lời giải thích hợp tương ứng với phép tính. Đó là điều mà bản thân tôi luôn suy nghĩ cach dạy hiệu quả nhất khi dạy dạng toán này. Trước thực trạng này, qua nhiều năm giảng dạy ở lớp 3 bản thân tôi cũng đã tích luỹ và rút ra một số kinh nghiệm. Đồng thời tôi thấy nó cũng đã góp phần giúp cho học sinh dễ dàng khi giải toán dạng: ” Bài toán liên quan đến rút về đơn vị ”. Mà tôi cũng cảm nhận là có hiệu quả khi áp dụng kinh nghiệm của bản thân vào giảng dạy thực tế.
II/ NGUYÊN NHÂN
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh yếu toán giải ( giải toán bằng hai phép tính) đó là:
-Thấy toán giải , chưa đọc đề các em đã có cảm nhận là khó.
-Đọc đề chưa tập trung suy nghĩ, còn mang nặng tính trông chờ. Thậm chí vừa đọc đề xong cho là bài toán đơn giản làm ngay.
- Làm xong không đọc lại bài giải. Có lúc học sinh làm hai câu lời giải giống nhau mà phép tính lại khác nhau mà các em vẫn không phát hiện ra mình làm sai. Cứ thấy có hai lời giải là được rồi.
-Các em còn hiểu nhầm hoặc hiểu lệch vấn đề đưa ra của bài toán.
-Các em chưa nắm chắc về phương pháp giải toán, cụ thể đọc đề xong mà không nắm được dữ liệu của bài toán., chưa nắm rõ giữa cái biết và cái chưa biết.
-Khả năng suy luận , phân tích đề của các em còn yếu.
Đó là một số nguyên nhân mà các em thường hay mắc phải.Vì thế trong quá trình giảng dạy giáo viên cần lưu ý những sai lầm của học sinh và tìm hướng giải quyết để đạt được kết quả tốt. Khi nắm được nguyên nhân dẫn đến học sinh giải toán chậm thì chắc chắn chúng ta sẽ rút ra được phương pháp dạy học khác phù hợp hơn giúp học sinh dễ nắm bắt và vận dụng vào bài làm hiệu quả hơn. Vì vậy khi dạy học đòi hỏi giáo viên cần lưu ý đến những trường hợp sai lầm mà học sinh mắc phải. Nhằm giảm tỷ lệ học sinh yếu toán giải .
III/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Như chúng ta đã biết quá trình giải toán là một hoạt động trí tuệ, khó khăn, phức tạp, hình thành kỹ năng giải toán khó hơn so với kỹ năng tính. Vì các bài toán là sự kết hợp đa dạng nhiều khái niệm, nhiều quan hệ toán học. Giải toán không chỉ nhớ mẫu rồi áp dụng, mà đòi hỏi phải nắm chắc khái niệm, quan hệ toán học và biết làm tính thông thạo. Vì thế, để giúp học sinh giải được bài toán dạng ” Bài toán liên quan đến rút về đơn vị ” có hiệu quả cao. Giáo viên cần giúp cho các em nắm được một số bước khi giải toán.
Điều đáng nói ở đây là ở lớp 3 học sinh cần hiểu rõ thế nào là bài toán hợp ( giải bài toán bằng hai phép tính) khác hẳn với giải bài toán đơn như ở lớp 1,2. Trên cơ sở từ cách giải bài toán đơn chuyển sang hình thành các bước giải của bài toán hợp, mỗi bước giải có câu lời giải và phép tính tương ứng.
*Cần tạo cho học sinh tìm ra cách giải. Cụ thể:
- Tóm tắt bài toán để biết: Bài toán cho biết gì ? Bài toán hỏi gì ? Yêu cầu gì ?...Khi tóm tắt cần cho học sinh đọc kỹ đề bài , nhằm tìm ra “cái đã biết và cái chưa biết”. Đó là điều quan trọng để tìm ra cách giải quyết một cách hợp lý.
- Tìm cách giải thông qua mối quan hệ giữa các dữ liệu với yêu cầu bài để tìm ra phép giải tương ứng ( học sinh viết câu lời giải và phép tính tương ứng)
*Cái khó là cách trình bày bài giải. Sau mỗi bước cần kiểm tra lại câu lời giải đã hợp lý chưa? Các câu lời giải trong bài toán nhằm giải thích ý nghĩa cho kết quả của các phép tính giải tương ứng. Ở giai đoạn học sinh bắt đầu viết câu lời giải cho mỗi phép tính, Giáo viên cần luyện tập cho học sinh tính cẩn thận.
*Cách hướng dẫn học sinh đặt câu lời giải trong bài toán giải:
-Trước tiên cần tập cho học sinh đặt lời giải cho bài toán đơn.Học sinh cần lưu ý : ”Vào câu hỏi của bài toán mà đặt lời giải”
VÍ DỤ1:
Có 28 kg gạo đựng đều trong 7 bao. Hỏi một bao có mấy ki- lô-gam gạo?
Đối với bài toán trên thì học sinh chỉ việc sửa lại câu hỏi của bài toán một chút là được câu lời giải “Số gạo của một bao là ;” Hoăc “ Một bao có số gạo là ;”
Từ bài toán đơn, giáo viên dẫn dắt cho học sinh đặt câu lời giải cho bài toán hợp:” Bài toán liên quan đến rút về đơn vị ”
VÍ DỤ 2
Có 28 kg gạo đựng đều trong 7 bao. Hỏi 5 bao có mấy ki- lô-gam gạo?
* Đối với dạng toán này thì học sinh thường hay mắc những sai lầm sau:
1/ Sai lời giải đầu.
Ví dụ :
Số kg đựng đều trong 7 bao ( hoặc 5 bao)
28 : 7 = 4 (kg)
Số kg gạo đựng trong 5 bao là:
4 x 5 = 20 (kg)
2/ Học sinh chỉ viết có một câu lời giải mà ghi hai phép tính.
Ví dụ:
Số kg gạo đựng trong 5 bao:
28 : 7 = 4 ( kg)
4 x 5 = 20(kg)
3/ Thậm chí có em chỉ ghi một phép tính và một lời giải.
Ví dụ:
Số kg gạo đựng trong 5 bao là;
x 5 = 20 (kg)
*Trường hợp học sinh sai như vậy thì giáo viên cần có hướng giải quyết lần lượt như sau:
(1) GV đặt câu hỏi : Sai lời giải đó vì sao?
HS: Vì theo đề bài thì 7 bao có 28 kg gạo.(Biết rồi)
GV: Đúng. Vì đề bài cho biết số gạo của 7 bao và yêu cầu ta tính số gạo của 5 bao.Nên muốn tính số gạo của 5 bao thì các em phải biết gì trước?
HS: Số gạo của 1 bao.
GV: Vậy tính số gạo của 1 bao ta dựa vào đâu?
HS: Dựa vào số gạo của 7 bao.
GV: Vậy câu lời giải cho phép tính đó được sửa lại như thế nào?
HS: Số kg gạo của 1 bao là ( Hoặc 1 bao có số kg gạo là)
(2) GV đặt câu hỏi: Sai vì sao?
HS: Vì chỉ có một câu lời giải mà đến 2 phép tính.
GV:Hai phép tính phải tương ứng với 2 lời giải. Vậy em nào có thể cho biết lời giải trên là của phép tính nào? ( 4 x 5 = 20 (kg))
GV:Bài toán cho biết có bao nhiêu bao gạo? ( 7 bao).Yêu cầu tính như thế nào? ( 5 bao).Vậy muốn biết số gạo của 5 bao thì ta phải biết gì trước?( Biết số gạo của 1 bao)
Từ đó em nào có thể đặt câu lời giải cho phép tính: 28 : 7 = 4 ( kg)
HS: Số kg gạo trong một bao là:
Tự sắp xếp lời giải và phép tính lại cho phù hợp
(3) GV: Sai.Vì 4 các em lấy ở đâu ra nhân khi đề bài không cho biết?
HS: Lấy 28 :7 = 4 (kg)
GV: Vậy 28 : 7 = 4 kg Chính là gì?
HS: Số gạo của 1 bao.
GV: Muốn có 5 bao ta phải tính 1 bao.Vì thế bước này buột các em phải tính không thể bỏ qua được. Nên các em phải thêm 1 câu lời giải và một phép tính tương ứng cho phù hợp. Rồi sau đó mới có lời giải và phép tính trên.
* Ngoài việc sai lời giải HS còn sai đơn vị tính.Vì vậy GV cần có hướng giải quyết như sau:
- Cần cho HS đọc kỹ đề bài.Nhận biết được các dữ liệu của bài toán .
+ Bài toán cho biết gì? ( 28 kg đựng đều trong 7 bao)
+ Bài toán hỏi gì? ( 5 bao đựng bao nhiêu kg?)
_ GV đưa ra vấn đề buột HS phải suy nghĩ :
+ Theo đề bài thì ta có thể tính ngay 5 bao đựng bao nhiêu kg gạo được không ? (không)
+ Vì sao?( Vì chưa biết một bao đựng bao nhiêu kg gạo)
_ GV tính một bao đựng bao nhiêu kg gạo tức là các em đi tìm cái gì trong dạng toán này ?
_ HS: Tìm giá trị một phần trong các phần bằng nhau.
_ GV: Giá trị một phần ở đây là gì?
_ HS: Giá trị
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓









Các ý kiến mới nhất