Violet
Giaoan

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Giáo án

Bài 24. Nói với con

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: sưu tầm
Người gửi: Nguyễn Thị Bích Vân (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:08' 04-04-2015
Dung lượng: 40.5 KB
Số lượt tải: 109
Số lượt thích: 0 người
PHẨM TÍNH TÀY TRONG BÀI THƠ “NÓI VỚI CON” CỦA Y PHƯƠNG
Y Phương chính tên dân tộc Tày của mình là Hứa Vĩnh Sước, người đàn ông ở làng Hiếu Lễ. Ông đã viết như thế trong một bài thơ về tên làng mình, đúng hơn, về sự vang vọng của cái tên làng Hiếu Lễ như tiếng gọi của nguồn cội dân tộc. 
Ba mươi tuổi từ mặt trận trở về, vội vàng cưới vợ, dựng xây nhà cửa, va chạm với đời sống nhọc nhằn,... để rồi "lần đầu tiên ý nghĩ khôn lên". Việc phải đứng ra toan lo, gánh vác, làm cột trụ cho đời sống gia đình khiến ông vỡ lẽ ra nhiều điều. Ý nghĩ khôn lên nỗi buồn thấm tháp/ Bàn chân từng đạp bằng đá sắc/ Trở về làng/ Bập bẹ bước đầu tiên. Một sự đổ vỡ cùng lúc với một thức nhận, cái chao chát của đời sống hàng ngày bị đẩy xuống hàng thứ yếu, trở thành cái thoáng qua nếu người ta vẫn hướng về nguồn cội. Nói với con ra đời trong hoàn cảnh ấy, nhận thức ấy. Vì thế, bài thơ vừa như một lời dăn dạy đối với con cái vừa như một lời nhắc nhở chính bản thân mình, một tâm sự muốn giãi bày, chia sẻ với những "người đồng mình" của tác giả. Bài thơ được mở đầu bởi những miêu tả giản dị, chọn lọc: Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói Hai bước tới tiếng cười Người đồng mình yêu lắm con ơi Hiện lên trước mắt người đọc là hình ảnh những bước chập chững đầu tiên của đứa con thơ. Một khung cảnh vui vẻ, xum vầy, âu yếm, thân thương. Cả cha và mẹ đang vui đùa với đứa con của mình. Đứa trẻ, ngập ngừng trong niềm yêu thương ấy, vừa muốn bước về cha, vừa muốn bước về mẹ nên cứ rềnh ràng ra mãi. Nhưng câu thơ còn một hàm ý khái quát, con người ta đứng lên bằng hai chân, lớn lên bằng sự chăm sóc của song thân cha mẹ, muốn trụ vững vàng trong đường đời, phải luôn khắc ghi công sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Sự hiểu biết (tiếng nói), niềm vui (tiếng cười) có được đều do công ơn ấy. Nhưng có hiểu biết, có niềm vui, theo thời gian, đứa trẻ không chỉ sống mãi trong vòng tay cha mẹ. Và mẹ cha, khi ấy, gieo vào trí óc và tâm hồn thơ ngây của con trẻ niềm tin yêu vào con người, tình khăng khít đồng bào đồng chủng: Người đồng mình yêu lắm con ơi Nhưng đứa trẻ không phải lúc nào cũng có thể hiểu được những điều trừu tượng ấy. Và cha mẹ đã giảng giải cho chúng. Đó là những bài học đầu đời, bài học nằm nôi nhưng sẽ theo trẻ em suốt cuộc đời: Đan lờ cài nan hoa Vách nhà ken câu hát Rừng cho hoa Con đường cho những tấm lòng Lời thơ như lời kể thủ thỉ tâm tình. Kể về cuộc sống lao động của người làng và nếp sống sinh hoạt thường ngày của họ. Về con đường nối những bản làng. Về việc cha mẹ tìm thấy nhau, yêu nhau rồi sinh con đẻ cái... Mỗi hình ảnh đều được chắt lọc kĩ lưỡng, giàu tính biểu tượng. Một cuộc sống được ý thức nâng niu, chăm chút, luôn hướng tới cái đẹp, cái thiện. Dụng cụ kiếm con cá, con cua dưới suối, dưới sông cũng được người dân trang trí, gọt tỉa cho bền, cho đẹp. Núi rừng cho rau, cho trái nhưng cũng cho cả hoa nở bốn mùa thơm ngát. Và trong những ngôi nhà sàn, bên bếp lửa bập bùng, người ta hát cho nhau nghe những bài dân ca, những phong slư, si, lượn,... con gái, con trai hát giao duyên khiến cho cái vách nhà gỗ mộc mạc, đơn sơ tưởng như thô mộc ấy ngày càng đẹp lên bởi được ken thêm câu hát say sưa, tình tứ. Và những con đường đưa người ta đến với nhau... Có lẽ, với người dân vùng cao, không biểu tượng nào gợi lên tình cảm gắn bó keo sơn, thắm thiết hơn con đường mòn làng bản. Kể cả đống lửa sàn đêm đông hay đống lửa rừng đêm hội, dù nó có thể quây tụ cả làng. Bản làng người dân tộc thưa vắng, nhà cách nhà rất xa, bàn chân người bước đi bao lần với đủ dẹm cỏ cây thành lối mòn? Bàn chân người phải năng lại qua đến mức nào mới ngăn không cho cỏ cây mọc ra chèn lối? Những tấm lòng đã tạo nên những con đường ấy. Tấm lòng mẹ cha đã góp phần giữ gìn con đường ấy. Nhưng có điều, cuộc sống đẹp đẽ kia vừa có thật, vừa hiện diện như một ước mơ. Người vùng cao lam lũ, vất vả lắm mới duy trì được cuộc sống nghèo khó của mình. Thiên nhiên
 
Gửi ý kiến

Hãy thử nhiều lựa chọn khác