Bài 3. Những câu hát về tình yêu quê hương, đất nước, con người

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Bích Vân (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:39' 05-03-2017
Dung lượng: 58.0 KB
Số lượt tải: 38
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Bích Vân (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:39' 05-03-2017
Dung lượng: 58.0 KB
Số lượt tải: 38
Số lượt thích:
0 người
KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG CA DAO
Ca dao là tiếng nói trữ tình của dân tộc Việt Nam. Ca dao gắn liền với chiếc nôi của đời sống con người , cụ thể là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Trong quá trình lao động sản xuất, giao tiếp xã hội, con người đã chọn ca dao làm phương tiện để thổ lộ tâm tư tình cảm của mình. Chính vì vậy, yếu tố không gian và thời gian được thể hiện trong ca dao là vô cùng phong phú và nhưng rất gần gũi với nhân vật trữ tình..
1.Trước hết, xin bàn về không gian nghệ thuật trong ca dao.
Không gian nghệ thuật trong ca dao có những đặc trưng riêng:
a.Các dạng không gian được nói đến trong ca dao:
Không gian trong ca dao hết sức gần gũi với đời sống người Việt. Đó là không gian thiên nhiên, không gian làng quê, không gian sinh hoạt, không gian xã hội.... Nói đến không gian thiên nhiên, ca dao thường nhắc đến những vẻ đẹp của thiên nhiên cũng như những danh lam thắng cảnh của đất nước. Đó là không gian hết sức kì vĩ, nên thơ hữu tình;
-Đồng Đăng có phố Kì Lừa
Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh
-Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày Yên Thế, mặt gương Tây Hồ.
Và có khi là những cảnh đẹp gần gũi, bình dị;
-Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng
Tuy nhiên, không gian làng quê và không gian xã hội là chủ yếu trong ca dao. Không gian làng quê gắn liền với những hình quen thuộc của văn hóa nông nghiệp của người Việt như dòng sông, con thuyền, cây đa, bến nước, sân đình, cánh đồng, bờ ao...
-Cây đa cũ, bến đò xưa
Bộ hành có nghĩa nắng mưa cũng chờ
-Qua đình ngã nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu
-Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Còn không gian xã hội gắn liền với lao động sản xuất, với những công việc cụ thể. Không gian trong ca dao như một yếu tố tạo nên hoàn cảnh. Khác với không gian trong thơ trữ tình là không gian tĩnh gắn liền với tâm trạng thì không gian trong ca dao là không gian động gắn với một công việc, hành động cụ thể.
-Trên đồng cạn , dưới đồng sâu
Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa
-Trời mưa trời gió
Xách đó đi đơm
Chạy vô ăn cơm
Chạy ra mất đó
Từ ngày ai lấy dó đó ơi
Đó chẳng phân qua đối lại đôi lời cho đây hay
-Sáng trăng trải chiếu hai hàng
Bên anh đọc sách bên nàng quay tơ
b.Cách thức thể hiện không gian:
Thứ nhất, đối với không gian thiên nhiên, không gian làng quê: Để phác họa các phía, chiều, phương hướng của thiên nhiên, ca dao thường sử dụng các cặp từ có tính chất định lượng, định hướng như “trên – dưới”, “lên – xuống”, “xuôi – ngược”, “trong – ngoài”, “bên ni – bên nớ”, “bắc – nam’... Ở góc độ này, có thể xem không gian thiên nhiên chính là không gian vật lý:
-Đứng bên ni sống Hàn ngó bên tê sông Hàn nước xanh như tàu lá
Đứng bên tê sông Hàn ngó bên ni sông Hàn thấy phố xá thênh thang
Từ ngày Tây đến cửa Hàn...
-Ai về nhắn với hạ nguồn
Mít non gửi xuống, cá chuồn gửi lên
-Trên có trăng, dưới có nước, anh giao ước một lời
Dẫu trăng lờ nước cạn trọn đời anh chẳng quên em
Có khi để thể hiện thiên nhiên xa cách, gập ghềnh, trăc trở, ca dao cũng sử dụng các từ ngữ thể hiện sự kì vĩ, cao rộng của không gian vũ trụ như: núi, biển, sông, trời, đất....
-Núi cao chi lắm núi ơi
Núi che mặt trời không thấy người thương
-Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
-Trời cao chi lắm hỡi trời
Cho thiếp chẳng được tới nơi cùng chàng
Thứ hai, “không gian ngoài ta’ (Ts. Lê Đức Luận) bao gồm không gian gia đình và không gian xã hội hay là không gian sinh hoạt., ca dao thường sử dụng các cặp từ thể hiện khoảng cách xa xôi cách trở với các cặp từ: “ở nhà – ra đi”, ‘ra đường
 








Các ý kiến mới nhất