Violet
Giaoan

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Giáo án

Mô tả tom tat quy trình công nghệ khi hoa than

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thanh Hà
Ngày gửi: 09h:37' 27-12-2016
Dung lượng: 456.1 KB
Số lượt tải: 7
Số lượt thích: 0 người
Phụ lục 2 Mô tả về quy trình công nghệ và xưởng
Mô tả tổng quát về quy trình công nghệ
Ghi chú: Tất cả các gía trị công nghệ đưa ra trong phụ lục 2.1 chỉ là các giá trị chung vàđịnh hướng, không sử dụng trong thiết kế. Trong trường hợp có sự không thống nhất giữa phụ lục này và phụ lục 2.3 hoặc phụ lục 3, lấy phụ lục sau làm chuẩn.Than được đưa vào từ bãi chứa than bằng băng tải được nghiền và sấy khô trong hệ thống “Nghiền và Sấy Than” rồi sau đó cấp có áp suất vào các vòi đốt than của lò khí hóa thông qua hệ thống “Điều áp và CấpThan” (phễu khóa).
Than phản ứng trong lò khí hóa với khí phun (ôxy trộn với hơi nước) để tạo thành khí tổng hợp và xỉ (nhẹ). Khí tổng hợp thoát ra từ phần đỉnh của lò khí hóa được làm lạnh xuống khoảng 800-9000C, và được phối trộn với khí tổng lạnh từ cửa nạp/xả của công đoạn “rửa ướt” (WS) và sau đó tiếp tục được làm lạnh trong bình Thiết bị Làm lạnh Khí tổng hợp (SGC). Phần lớn xỉ thoát ra khỏi phần đáy lò khí hoá dưới dạng xỉ nóng chảy, được làm lạnh và phân tán thành những hạt dạng thủy tinh nhỏ (kích thước trung bình khoảng 2-5 mm) trong bể xỉ (nước).
Bụi xỉ (tro) lẫn trong khí tổng hợp được loại ra trong công đoạn “Loại bỏ Chất rắn Khô” (DSR) bằng thiết bị lọc bằng gốm ở áp suất cao, nhiệt độ cao và được xả thông qua hệ thống phễu khóa. Sau khi được loại ra và làm lạnh, bụi xỉ được chuyển tới kho chứa và các thiết bị xử lý.
Khí tổng hợp hầu như không còn bụi cuối cùng được rửa trong công đoạn Rửa ướt, để giảm lượng bụi trong đó (thông thường) tới <1 mg/Nm3, và giảm halogenua (thông thường) tới <<1ppmv. Khí tiếp tục được bão hòa trong nước và ra khỏi hệ thống rửa ướt ở nhiệt độ khoảng 160-1700C đến B.L.
Xỉ được gom trong bể xỉ được xả ra qua hệ thống phễu khóa, được tách ra khỏi nước thông qua một băng tải xích và được chuyển tới khu vực bên ngoài bằng băng tải. Nhiệt hấp thụ trong bể xỉ được lấy đi thông qua hệ thống nước làm lạnh tuần hoàn với thiết bị làm lạnh ở bên ngoài.
Để tránh các thành phần vi lượng tích tụ trong các hệ thống loại bỏ xỉ và rửa ướt, cả hai hệ thống được cung cấp một hệ thống xả nước. Đầu tiên nước được tách ra và sau đó được gạn lọc. Quy trình này được gọi là “Xử lý nước thải sơ cấp”. Các chất rắn từ thiết bị gạn được phân tách trong bộ lọc kiểu băng chân không và được tái chế như chất lắng đóng cục dạng ẩm cho bộ phận chứa than nguyên liệu, sau khi sấy khô chúng được thêm vào nguyên liệu nạp cho máy nghiền than. Thông thường, khí thoát ra từ thiết bị tách nước thải được chuyển đến công đoạn thu hồi lưu huỳnh (bên ngoài BL) và khí bó đuốc sẽ được chuyển đến hệ thống bó đuốc.
Mô tả các công đoạn của quy trình
Ghi chú: Tất cả các giá trị công nghệ đưa ra trong phụ lục 2.2chỉ là các giá trị chung và định hướng, không sử dụng trong thiết kế. Trong trường hợp có sự không thống nhất giữa phụ lục này và phụ lục 2.3 hoặc phụ lục 3, lấy phụ lục sau làm chuẩn.
Nghiền và sấy than (U-1100)
Các kỹ thuật Nghiền và Sấy Than (CMD) truyền thống có thể được sử dụng cho SCGP, với điều kiện là đáp ứng được các đặc điểm kỹ thuật thiết kế về sự phân bố kích thước hạt than và độ ẩm của than đã nghiền. Độ ẩm cuối của than đã nghiền phụ thuộc vào chủng loại than. Độ ẩm của than cấp cho vòi đốt phải được xác nhận bằng các thử nghiệm tầng sôi. Các kết quả thử nghiệm này do HANICHEMCO/WUHUAN cấp. Phân bố kích thước hạt (PSD) tiêu biểu cho than đã được nghiền là:
a) 90% khối lượng nhỏ hơn 90 micron (than rắn)
b) tối đa 5% khối lượng nhỏ hơn 10 micron.
Những yêu cầu về PSD và độ ẩm còn lại này trong than đã nghiền là để bảo đảm đặc tính lưu chuyển phù hợp của than đã được nghiền trong thiết bị hạ nguồn không bị cấp than gián đoạn cho các vòi đốt khí hóa. Tuy nhiên, khuyến cáo toàn bộ CMD phải được thiết kế, lắp đặt và khởi động bởi/ hoặc với sự chịu trách nhiệm của một nhà sản xuất máy nghiền than có kinh nghiệm nhằm loại trừ các vấn đề giao diện giữa các các phần tích hợp của thiết bị.
Trong suốt quá trình vận hành bình thường, các bộ phận sẽ được đốt bằng khí nhiên liệu. Có
 
Gửi ý kiến