Tìm kiếm Giáo án
Giáo án tổng hợp

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Ngô Thanh Nga
Ngày gửi: 20h:35' 04-01-2025
Dung lượng: 47.7 KB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Ngô Thanh Nga
Ngày gửi: 20h:35' 04-01-2025
Dung lượng: 47.7 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
ĐỀ 1:
Đề 1. Phân tích vẻ đẹp nhân vật Tràng qua đoạn trích sau:
Sáng hôm sau, mặt trời lên bằng con sào, Tràng mới trở dậy. Trong người êm ái lửng lơ như
người vừa ở trong giấc mơ đi ra. Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không
phải.
Hắn chắp hai tay sau lưng, lững thững bước ra sân. Ánh nắng buổi sáng mùa hè sáng lóa
xói vào hai con mắt còn cay sè của hắn. Hắn chớp chớp liên hồi mấy cái, và bỗng vừa chợt nhận ra,
xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ. Nhà cửa, sân vườn, hôm nay đều được
quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng. Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên
ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong. Hai cái ang nước vẫn để khô cong ở dưới gốc ổi đã kín
nước đầy ăm ắp. Đống rác mùn tung bành ngay lối đi đã hót sạch.
Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở. Vợ hắn quét lại cái
sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất. Cảnh tượng thật đơn giản, bình thường nhưng
đối với hắn lại rất thấm thía cảm động. Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà
của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ
ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn
mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này. Hắn xăm xăm
chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà....
(Trích Vợ nhặt – Kim Lân, Ngữ văn 12, tập hai. NXB Giáo dục, 2008)
Phân tích diễn biến tâm lí nhân vật Tràng trong đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét về giá trị
nhân đạo của tác phẩm.
Bài làm
1.MB:
- Gợi dẫn: Kim Lân là cây cút có sở trường về truyện ngắn. TP của ông thường viết về cuộc sống và
con người của làng quê Việt Nam tuy nghèo khổ, thiếu thốn nhưng vẫn yêu đời, thật thà, chất phác
mà thông minh, tài hoa. Truyện ngắn Vợ nhặt của ông thể hiện sự am hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm
lí những người ở thôn quê: dù cuộc sống có tăm tối đến đâu họ vẫn khao khát sống, yêu thương đùm
bọc nhau, vẫn hi vọng vào tương lai.
- NDNL: Trong tác phẩm, nhà văn đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Tràng. Đó là hình
ảnh một người nông dân nghèo đói, bất hạnh nhưng giàu tình người và khát vọng hạnh phúc. Đặc
biệt trong đoạn trích “Sáng hôm sau, mặt trời lên bằng con sào (…)tu sửa lại căn nhà” đã miêt tả
thành công diễn biến tâm lí của Tràng vào buổi sáng hôm sau khi có vợ. Qua đó thể hiện sâu sắc
giá trị nhân đạo của tp.
2. TB
* Khái quát chung về tác giả tác phẩm ( 1đoạn văn ngắn)
- Kim Lân là một cây bút truyện ngắn xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại. Kim Lân được
mệnh danh là nhà văn của nông thôn đồng bằng bắc bộ. Nhà văn thường viết về khung cảnh nông
thôn và hình tượng người nông dân Việt Nam với một vốn hiểu biết sâu sắc và một tấm lòng thiết
tha, cảm động. Theo Nguyên Hồng thì Kim Lân là nhà văn một lòng đi về với đất, với người, với
thuần hậu, nguyên Thuỷ của nông thôn.
- “Vợ nhặt” được in trong tập truyện ngắn “Con chó xấu xí” (1962). Truyện ngắn có tiền thân là tiểu
thuyết “Xóm ngụ cư”- tác phẩm viết sau CMT8 nhưng còn dang dở và bị mất bản thảo. Sau khi hòa
bình lập lại (1954), tác giả dựa vào cốt truyện cũ để viết truyện ngắn “Vợ nhặt”.
-Thông qua tình huống Tràng nhặt được vợ giữa nạn đói năm 1945, Kim Lân đã tố cáo tội ác của
Pháp, Nhật gây ra nạn đói khiến giá trị con người bị rẻ rúng. Đồng thời nhà văn khẳng định dù trong
đói khát, chết chóc cận kề người lao động nghèo vẫn cưu mang, đùm bọc lẫn nhau vẫn luôn khát
khao hp và luôn tin tưởng ở tương lai.
* Giới thiệu đôi nét về nhân vật, đoạn trích( đoạn văn ngắn)
- Tràng là người có ngoại hình xấu xí, thô kệch “hai con mắt nhỏ tí”, “hai bên quai hàm bạnh
ra”, "thân hình to lớn vập vạp”. Đó là Sự gọt đẽo còn sơ sài của hóa công.
- Không chỉ thế, tính cách Tràng còn vô tư, ngờ nghệch, vụng về. "Hắn có tật vừa đi vừa nói.
Hắn lảm nhảm, than thở điều hắn nghĩ". Bọn trẻ con trêu Tràng chỉ "ngửa mặt cười hềnh hệch".
- Đã thế gia cảnh của Tràng lại nghèo : hắn làm nghề đẩy xe bò thuê, sống với 1 mẹ già và là dân
ngụ cư nghèo khổ.
Tràng được miêu tả giống như những nhân vật chàng ngốc có sp bất hạnh trong những câu
chuyện cổ tích. Bề ngoài Tràng xấu xí, thô kệch nhưng Tràng có 1 trái tim đẹp, giàu tình yêu
thương, giàu khát vọng hạnh phúc. Đó là hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn con người.
- Dẫn tới đoạn trích (tách đoạn): Giữa lúc cái đói, cái chết đang bủa vây thì Tràng lại dẫn về một
người đàn bạ lạ về làm vợ. Tình huống đầy bất ngờ và éo le khiến mọi người trong cái xóm nghèo
xơ xác ấy lo lắng và ái ngại. Chỉ có Tràng mới đủ can đảm thực hiện hành động liều lĩnh ấy.Và cũng
chỉ khi liều lĩnh cưu mang một con người Tràng mới có cơ hội được thấy hạnh phúc, được tận
hưởng những giây phút thực sự sống trong cuộc đời của mình. Buổi sang đầu tiên sau khi Tràng có
vợ là cái mốc quan trọng đánh dấu sự trưởng thành về nhân cách, từ đây Tràng không còn ngờ
nghệch dại khờ nữa.
*Phân tích nội dung đoạn trích ( có thể tách làm nhiều ýnhỏ=nhiều đoạn văn)
-Thời gian:
Đoạn trích bắt đầu bằng hình ảnh của buổi sáng quang đãng tươi tắn. « Sáng hôm sau, mặt
trời lên bằng con sào, Tràng mới trở dậy.” Đã qua một đêm Tràng có vợ, kể từ cái buổi chiều chạng
vạng nhá nhem mặt người ấy. Đất trời đã sang ngày mới, cũng như cuộc đời Tràng đã sang trang
mới sáng sủa và tràn đầy hi vọng. Có lẽ đó là cái nhìn đầy ưu ái của Kim Lân khi dụng ý miêu tả sự
vận động của thời gian từ bóng tối đến ánh sáng. . Chí Phèo của Nam Cao cũng tỉnh rượu trong môt
buổi sáng với nắng vàng rực rỡ cùng tiếng chim ríu rít líu lo. Dường như, mỗi khi nói đến sự thay
đổi mới mẻ và tốt đẹp, các nhà văn đều chọn gắn với một buổi sớm mai tran hòa ánh nắng !
- Niềm hạnh phúc ngây ngất, ngập tràn: « Trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc
mơ đi ra”.Tác giả đã diễn tả rất chính xác tâm trạng Tràng, một người đang cảm nhận vị ngọt ngào
của cuộc sống hạnh phúc gia đình. Nó đẹp đẽ như một giấc mơ, một giấc mơ mà Tràng chưa bao
giờ dám nghĩ tới. Tràng vẫn chưa thoát khỏi sự bất ngờ “Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn
ngỡ ngàng như không phải.” Hạnh phúc đến với Tràng quá nhanh, chỉ trong hai lần gặp thị, người
phụ nữ không tên không tuổi, không quê hương, không gia đình, thế mà nên vợ nên chồng. Tràng
không hề chủ tâm mà sự thật đã hiện hữu, một chuyện hệ trọng như thế lại đến với Tràng quá dễ
dàng? Tràng không bất ngờ sao được?
-Nhận ra sự đổi thay trong ngôi nhà: “Hắn chắp hai tay sau lưng, lững thững bước ra sân.”
Bước ra sân để đến với không gian khoáng đạt hơn, để hít thở không khí trong lành của buổi sáng
yên bình. Tràng đã không khỏi bất ngờ khi bắt gặp sự đổi thay“Hắn chớp chớp liên hồi mấy cái, và
bỗng vừa chợt nhận ra, xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ.” Đó hoàn tòan
không phải là cảnh tượng quen thuộc của một căn nhà hoang lạnh, thiếu sức sống. Tất cả đã thay đổi
tốt đẹp hơn: “Nhà cửa, sân vườn, hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng. Mấy
chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong.
Hai cái ang nước vẫn để khô cong ở dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm ắp. Đống rác mùn tung bành
ngay lối đi đã hót sạch.”.
(Liên hệ :Khi chứng kiến sự thay đổi tâm lí của Tràng, ta lại nhớ đến cái giây phút tỉnh ngộ của
Chí Phèo trong tác phẩm của Nam Cao. Tưởng như đó là sự đồng nhất, nhưng không. Nếu Chí Phèo
quan sát thấy những điều vốn dĩ vẫn diễn ra hằng ngày: tiếng chim hót, tiếng người cười nói,
tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá, vẫn là những âm thanh từ xa vọng lại, thì Tràng lại tận
mục sở thị sự thay đổi từ chính cuộc sống của mình, rất gần, đó là những điều Tràng chưa từng
thấy trong căn nhà của mình. Khác với sự thức tỉnh phần người trong Chí, tâm lí của Tràng là tâm lí
của một người ngờ nghệch bỗng trưởng thành, sự quan sát trở nên kĩ lưỡng và tỉ mỉ hơn. Tức
là Tràng đã chú ý quan sát, chú ý cảm nhận, điều mà trước đây Tràng không mấy quan tâm)
-Tràng thấy thấm thía cảm động , trân trọng hạnh phúc mình đang có.
Khi nhìn thấy cảnh tượng đơn giản, binh thường: « Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi giẫy những
búi cỏ mọc nham nhở. Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất..” đã
khiến T thấy Thấm thía cảm động. Bởi đó là những hình ảnh của một cuộc sống gia đình đúng
nghĩa: yên bình, đầm ấm, và gắn bó. Mỗi thành viên đang cố gắng cải thiện không gian sống,với
một mong muốn dọn dẹp nhà cửa cho quang quẻ sạch sẽ thì tương lai sẽ tốt đẹp hơn. Điều đó đã tác
động mạnh mẽ đến tình cảm của Tràng: “ Hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ
lùng”. Quả đúng là lạ lùng, bởi dẫu sao với người dân xóm ngụ cư thì căn nhà chỉ là nơi tạm bợ qua
ngày, vậy mà Tràng lại thương yêu và gắn bó với nó. Chỉ có thể là bởi căn nhà đó đã có thị, chính
sự hiện diện của thị đã khiến căn nhà trở nên ý nghĩa và nhiều sinh khí. Tràng nhận thức được
hạnh phúc mình đang có, đó là một gia đình và hắn đã nghĩ đến tương lai : “Hắn sẽ cùng vợ sinh
con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng.” Nhà văn Kim Lân đã miêu tả thật tỉ mỉ,
chi tiết từng chuyển biến nhỏ trong suy nghĩ của nhân vật Tràng . Tràng đã thực sự thăng hoa
trong cảm xúc hạnh phúc: “Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng.”
-Tràng ý thức được trách nhiệm, bổn phận của bản thân:
Càng thấy được những chuyển biết tốt đẹp trong ý thức của Tràng, độc giả càng thấy được sức
mạnh to lớn của tình người, sức mạnh của những khát khao bình dị, chính nó là đôi cánh nâng đỡ
con người vượt thoát khỏi tối tắm, khổ ải. “Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có
bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này.” Hai chữ “nên người” hạ xuống như một điểm nhấn xác
nhận sự biến đổi về chất ở Tràng. Cái gốc của sự biến đổi ấy chính là gia đình. Nó là nền tảng của
xã hội. Cái gốc của sự biến đổi ấy chính là gia đình. Nó là nền tảng của xã hội. Là căn cốt của nhân
tính. Tràng phục sinh nhân tính nhờ vươn tới ý thức về gia đình
-Hành động muốn góp sức để dựng xây,vun vén cho hạnh phúc gia đình:
Khát khao sẽ hình thành ý chí. Ý chí sẽ hình thành hành động. Hành động sẽ hình thành vận
mệnh. Thật đúng như vậy. T chẳng còn cái vẻ lững thững, chắp tay sau lưng ngắm nhìn nữa mà: “
Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà....”.
Đây có thể coi là chi tiết đắt nhất của tp. Hai chữ “xăm xăm” gợi lên bao nhiêu là hăm hở, háo hức
trong bước chân của Tràng tìm đến hạnh phúc. Nhưng điều quan trọng hơn đấy là dấu hiệu một
bước ngoặt lớn ở Tràng. So với cái dáng “ngật ngưỡng” ở mở đầu tác phẩm, thì hành động xăm xăm
này là một đột biến không chỉ ở dáng đi mà còn là thay đổi cả số phận, tính cách của Tràng: từ đau
khổ sang hạnh phúc, từ ngây dại sang ý thức. Đó là ý thức tự giác của một con người nhận ra giá trị
của những gì mình đang có. Chính tình yêu thương và khát vọng hp gđ đã giúp Tràng trưởng
thành hơn cả trong suy nghĩ và hành động. T không còn là một anh chàng ngờ nghệch nữa mà
đã trỏ thành một người đàn ông trưởng thành, biết lo toan, vun vén cho gia đình.
Cùng với sự thay đổi đó, trong bữa cơm đón nàng dâu mới, T được người vợ nhặt kể cho
nghe câu chuyện về những người nông dân ở BG, TN đã đi phá kho thóc của Nhật chia cho dân
nghèo, khiến T cảm thấy tiếc vẩn tiếc vơ những việc mình đã làm hôm trước. Đề rồi đến cuối câu
chuyện, Tràng đã có những thay đổi lớn lao khi nghĩ đến cảnh mình cùng những người nông dân
nghèo sẽ tham gia CM để giải phóng dt, để đổi đời. “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá
cờ đỏ bay phấp phới”.
*Nhận xét về nghệ thuât ( 1 đoạn tách riêng)
-Có ý kiến cho rằng “Nghệ thuật miêu tả tâm lí con người là thước đo tài năng người nghệ sĩ”.
Thực sự Kim Lân rất tài tình trong việc tái hiện một cách sinh động diễn biến tâm lí của nhân vật
Tràng .
- Nhân vật được đặt trong tình huống éo le cảm động để từ đó bộc lộ diễn biến tâm trạng cũng như
vẻ đẹp tâm hồn.
- Tác phẩm còn lôi cuốn bạn đọc bởi cách kể chuyện tự nhiên, hấp dẫn.
- Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, gần với khẩu ngữ nhưng được chắt lọc kĩ lưỡng.
Chính nhờ những thành công về nghệ thuật trên, mà nhà văn Nguyễn Khải từng phát biểu: “Tôi
không tin rằng NT viết “CNTT”, KL viết về “Làng” và “Vợ nhặt”. Đó là thần viết, thần mượn
tay người để viết nên những trà bất hủ”. VN của KL quả xứng đáng với lời khen đó.
* Y nghĩa nội dung tư tưởng ( giá trị nhân đạo- hiện thực)- vấn đề nghị luận t2 ( dù hỏi
hay ko vẫn trả lời- nếu hỏi sẽ trả lời sâu)
+ Qua tác phẩm, nhà văn đã tố cáo tội ác của thực dân Pháp, phát xít Nhật gây ra nạn đói năm 1945,
làm giá trị con người bị rẻ rúng , giá trị của con người chỉ bằng “cọng rơm, cọng rác” có thể nhặt
được nơi đầu đường, xó chợ.
+ Nhà văn không chỉ thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với số phận của những con người nghèo khổ
mà quan trọng hơn ông đã phát hiện và ngợi ca những phẩm chất tốt đep, những khát vọng chân
chính ở người lao động nghèo: Đó là vẻ đẹp tình người, niềm khao khát hạnh phúc và niềm tin ở
tương lai. Như chính Kim lân từng tâm sự “Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết
nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin
tưởng ở tương lai. Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người.”
3.KL
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên từng nói: “Thời gian có thể phủ bụi một số thứ nhưng có
những thứ càng rời xa thời gian càng sáng, càng đẹp”. Tôi cho rằng "Vợ nhặt" của Kim Lân là một
tác phẩm như thế. Trong cuộc đời sáng tác của mình, Kim Lân sáng tác không nhiều nhưng tác
phẩm của ông đã trở thành niềm ao ước của nhiều người cầm bút. Đọc xong tác phẩm, tấm lòng của
anh Tràng vẫn còn gây nhiều xúc cảm trong lòng bạn đọc. Khi vật chất chẳng có gì, con người vẫn
còn một chữ "tình". "Còn gì đẹp hơn thế, người với người sống để yêu nhau".
Đề 2: Trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân có đoạn:
…Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao
nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả
chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn
mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt… Biết rằng chúng nó có
nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không.
Bà lão khẽ thở dài ngửng lên, đăm đăm nhìn người đàn bà. Thị cúi mặt xuống, tay vân vê tà
áo đã rách bợt. Bà lão nhìn thị và bà nghĩ: Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta
mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được… Thôi thì bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo
lắng được cho con… May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó
yên bề nó, chẳng may ra ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được ?
Bà lão khẽ dặng hắng một tiếng, nhẹ nhàng nói với “nàng dâu mới” :
- Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng…
Tràng thở đánh phào một cái, ngực nhẹ hẳn đi. Hắn ho khẽ một tiếng, bước từng bước dài ra
sân. Bà cụ Tứ vẫn từ tốn tiếp lời:
- Nhà ta thì nghèo con ạ. Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi ra may mà ông
giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời ? Có ra thì rồi con cái chúng mày
về sau”.
Bà lão đăm đăm nhìn ra ngoài. Bóng tối trùm lấy hai con mắt. Ngoài xa dòng sông sáng trắng
uốn khúc trong cánh đồng tối. Mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào
khét lẹt. Bà lão thở nhẹ ra một hơi dài. Bà lão nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đưa con gái út. Bà lão
nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình. Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó
liệu có hơn bố mẹ trước kia không?...
Con ngồi xuống đây. Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân.
Bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy thương xót.Nó bây giờ là dâu là con trong nhà rồi. Người đàn
bà khẽ nhúc nhích, thị vẫn khép nép đứng nguyên chỗ cũ. Bà lão hạ thấp giọng xuống thân mật:
Kể ra làm được dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo, cũng chả ai người ta
chấp nhặt chi cái lúc này. Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi. Năm nay thì đói to đấy.
Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…
Bà cụ nghẹn lời không nói được nữa, nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng.
(Trích Vợ nhặt, Kim Lân, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục, 2013,tr 28-29)
Anh/chị hãy cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật bà cụ Tứ trong đoạn trích trên.
Từ đó, rút ra nhận xét tấm lòng nhân đạo của nhà văn Kim Lân trong tác phẩm.
1.MB ( CHUNG CHO CÁC ĐỀ VỀ CỤ TỨ)
Bersot từng nói: “ Trong vũ trụ có nhiều kì quan, nhưng kì quan tuyệt diệu nhất vẫn là trái tim
người mẹ”. Có thể nói tình yêu thương và sự hi sinh của mẹ dành cho những đứa con là một đại
dương sâu thẳm mà cuộc đời con người không thể đo đạc cũng không thể tháu hiểu hết. Trong văn
chương đã có nhiều tác phẩm viết về mẹ chạm đến trái tim người đọc như Những đứa con trong gia
đình ( Nguyễn Thi) hay Chiếc thuyền ngoài xa( Nguyễn Minh Châu)... Tiêu biểu hơn cả là “Vợ
nhặt” của nhà văn Kim Lân. Trong tác phẩm, ông đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật bà
cụ Tứ. Một người mẹ nghèo khổ, già yếu nhưng giàu tình thương con và nhân hậu. Vẻ đẹp ấy được
thể hiện sâu đậm qua đoạn văn bản được trích dẫn: “…..”. Qua đó nhà văn thể hiện sâu sắc tấm
lòng nhân đạo của mình.
2. TB
* Khái quát chung về tác giả tác phẩm ( 1đoạn văn ngắn)
- Kim Lân là một cây bút truyện ngắn xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại. Lim Lân được
mệnh danh là nhà văn của nông thôn đồng bằng bắc bộ. Nhà văn thường viết về khung cảnh nông
thôn và hình tượng người nông dân Việt Nam với một vốn hiểu biết sâu sắc và một tấm lòng thiết
tha, cảm động. Theo Nguyên Hồng thì Kim Lân là nhà văn một lòng đi về với đất, với người, với
thuần hậu, nguyên Thuỷ.
- “Vợ nhặt” được in trong tập truyện ngắn “Con chó xấu xí” (1962). Truyện ngắn có tiền thân là tiểu
thuyết “Xóm ngụ cư”- tác phẩm viết sau CMT8 nhưng còn dang dở và bị mất bản thảo. Sau khi hòa
bình lập lại (1954), tác giả dựa vào cốt truyện cũ để viết truyện ngắn “Vợ nhặt”.
-Thông qua tình huống Tràng nhặt được vợ giữa nạn đói năm 1945, Kim Lân đã tố cáo tội ác của
Pháp, Nhật gây ra nạn đói khiến giá trị con người bị rẻ rúng. Đồng thời nhà văn khẳng định dù trong
đói khát, chết chóc cận kề người lao động nghèo vẫn cưu mang, đùm bọc lẫn nhau vẫn luôn khát
khao hp và luôn tin tưởng ở tương lai.
* Khái quát chung về nhân vật(1 đoạn ngắn): ngoại hình- lai lịch- hoàn cảnh xuất hiện...
Nếu nhân vật Tràng hiện ra trong tâm trí độc giả là một người trai “ngờ nghệch”, với cái cười”
hềnh hệch” vô tư lự thì bà cụ Tứ lại hiện ra với bao nhiêu cái khắc khổ hằn in trên “khuôn mặt
bủng beo u tối”, hằn in trên cái dáng người “lọng khọng” già nua của mình. “Từ ngoài rặng tre, bà
lọng khọng đi vào”, “vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán gì trong miệng”.
Bà cụ Tứ, dù là nhân vật xuất hiện sau cùng trong tác phẩm nhưng lại góp tiếng nói đủ đầy nhất,
sâu sắc nhất về những thông điệp nhân văn sâu sắc của tác phẩm. Qua diễn biến tâm lí phức tạp khi
bà lão đón nhận tin bất ngờ: con trai bà có vợ, thì những phẩm chất tốt đẹp cứ thế được bộc lộ thật
mộc mạc, tự nhiên và đáng trân trọng.
* Vẻ đẹp nhân vật bà cụ Tứ (trong cảnh ra mắt nàng dâu)
Bà cụ Tứ là một người mẹ nghèo giàu tình yêu thương các con, giàu tấm lòng nhân hậu, vị
tha, bao dung, giàu tinh thần lạc quan.Tấm lòng cao cả ấy được thể hiện qua diễn biến tâm
trạng chân thành, tự nhiện, phức tạp của bà cụ Tứ trong tình huống éo le, cảm động: anh
Tràng nhặt vợ giữa nạn đói 1945.
- Khi về đến nhà, thấy những hành động khác thường của cậu con trai, lại thêm một người đàn
bà lạ ở trong nhà minh, bà cụ Tứ hết sức ngac nhiên. Phải đợi đến lúc Tràng phân trần rành mạch
“Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ!...” thì bà cụ Tứ đã có một phản ứng không lời nhưng
lại chất chứa đầy cảm xúc phức tạp: “Bà lão cúi đầu nín lặng.Bà lão hiểu rồi, lòng người mẹ nghèo
khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình ”. Như
vậy, trong cái cúi đầu nín lặng của bà cụ Tứ là sự nén chặt, sự dồn tụ rất nhiều cảm xúc: vừa là niềm
hạnh phúc khi thằng con mình có một người bạn đời để sẻ chia vui buồn, vừa là sự xót xa vì việc
trọng đại với đứa con trai lại diễn ra chóng vánh, bất ngờ đến thế, vừa là sự tủi phận của người mẹ
cảm thấy mình đã không làm tròn trách nhiệm, không lo lắng được cho hạnh phúc của con cái. Bà
cụ đã so sánh nhà người ta với nhà mình để mà chua chát, để mà than thân trách phận, áy náy, mặc
cảm thương mình, thương con vì phận làm cha làm mẹ mà không lo nổi cho con. Câu văn bỏ lửng
trong xúc cảm nghẹn ngào, chua xót khơi gợi bao nỗi đồng cảm sẻ chia của người đọc: “Còn mình
thì…”. Nước mắt người mẹ nghèo rơi xuống với bao nỗi thương xót tủi hờn “Trong kẽ mắt kèm
nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt. Những dòng nước mắt lặng lẽ chảy của bà cụ đã khiến
cho tất cả người đọc đều phải lặng đi, xúc động bởi ở đó tình mẫu tử, tình thương con đã được thể
hiện sâu sắc.
+Sau phút cúi đầu nín lặng với nhiều cảm xúc trái chiều phức tạp, bà cụ đã trở về vơi thực tại,
nhìn vào thực tế đói khổ nghiệt ngã để trong lòng trào lên sự lo lắng, thương xót cho hai đứa con:
“Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không”.
- Bà nhân hậu, bao dung đón nhận nàng dâu mới: Và rất tự nhiên từ tình thương, từ sự lo lắng
dành cho đứa con trai, bà cụ chuyển sang nhìn người con dâu cũng bằng ánh mắt đầy xót xa,
thương cảm. Dù Tràng không hề đề cập đến việc nhặt vợ ở đầu đường xó chợ qua loa và chóng
vánh như thế nào nhưng bằng kinh nghiệm sống của một người đã đi gần hết cả cuộc đời, bà cụ
hoàn toàn có thể hiểu được sự thật trần trụi, đắng chát của cuộc hôn nhân đó. Nhưng bà không hề
nhìn cô con dâu bằng sự phán xét khắt khe, đay nghiến thường thấy của một bà mẹ chồng mà bằng
con mắt đầy bao dung, cảm thông thương người như thể thương thân:“Bà lão nhìn thị và bà
nghĩ: Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình
mới có vợ được…” .. Bà cụ nhận thức rõ may mắn của con trai mình, nhận thức rõ tình cảnh đáng
thương của thị. Bà chấp nhận nàng dâu với tất cả sự chân thành, yêu thương, đầy bao dung. Dẫu có
lo lắng nhưng bà cụ vẫn chắt chiu lấy niềm vui, niềm hi vọng dẫu mong manh : “Thôi thì bổn
phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con… May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì
thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó, chẳng may ra ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế
nào mà lo cho hết được?”. Mỗi câu độc thoạt nội tâm của bà cụ đều chất chứa một nỗi chua xót
đắng cay, một sự bế tắc nhưng vẫn luôn thấm đượm tình người.
=>bà cụ Tứ hiện lên không chỉ là hình ảnh của tình mẫu tử thiêng liêng cao cả mà còn là biểu hiện
của tình người ấm áp, bao dung. Bằng sự nhân hậu, vị tha, bà đã sẵn sàng mở rộng lòng và dang đôi
bàn tay để cưu mang, che chở, nâng đỡ những kiếp người khốn khổ hơn mình. Ở đó, truyền thống
đạo lý tốt đẹp của người Việt Nam: “Lá lành đùm lá rách” được thể hiện rất rõ.
- Từ sự cảm thông, thấu hiểu bà mừng cho hạnh phúc của các con:
Điều đáng trân trọng nhất ở bà cụ Tứ là dù có xót xa, đau đớn và lo lắng nhưng tất cả đều được bà
mẹ này giữ kín trong cõi riêng của mình còn những điều bà nói ra đều là sự vui mừng, tốt đẹp.Câu
nói đầu tiên bà nói với nàng dâu mới: “ Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u
cũng mừng lòng…”. Là một câu nói ngắn gọn mà giá trị vô cùng! Ngạn ngữ Nhật có câu:“ Một lời
nói thiện ý có thể sưởi ấm cả ba tháng mùa đông”. Một câu nói có thể làm cho người ta đau, nhưng
cũng có thể chữa lành những vết thương, sưởi ấm những tâm hồn.Câu nói mộc mạc giản dị của bà
cụ mà ý nghĩa vô cùng . Nó vừa giúp cả ba người thoát khỏi tình thế ngượng nghịu, khó xử, vừa là
sự chào đón ấm áp, đôn hậu với nàng dâu mới. Nó khiến cuộc hôn nhân chóng vánh, vội vàng của
T cũng trở nên thiêng liêng, trọng đại như các cuộc hôn nhân mâm cao cỗ đầy khác. Câu nói ấy còn
giúp Tràng thở phào nhẹ nhõm như trút được cả 1 trái núi lo toan mà còn giúp Thị chiêu tuyết , lấy
lại danh dự cho thị để thị bớt đi muôn phần tủi hổ. Rằng cuộc hôn nhân của Tràng- Thị cũng là vì
duyên số chứ không phải vì miếng ăn! Và điều đặc biệt là bà lão cũng bộc lộ tâm trạng của mình
trong câu nói “u cũng mừng lòng”. tức là có sự vừa ý, có niềm vui hân hoan. Câu nói chan chữa
niềm cảm thông yêu thương.Bà cụ sẽ khiến thị hiểu rằng, dù sao sự xuất hiện của thị trong căn nhà
rúm ró, xiêu vẹo cũng đem đến nguồn vui sống cho người mẹ già nua ấy. Như vậy, với tấm lòng cao
cả, giàu đức hy sinh, bà lão đã nén chặt trong lòng những buồn tủi để nâng đỡ, vun vén cho hạnh
phúc của hai đứa con mình.
Xem cách bà cụ phản ứng với tin Tràng có vợ, độc giả càng thấm thía vẻ đẹp thấm đượm
tình yêu thương những con người dân quê mộc mạc. Nó khác hẳn với suy nghĩ đầy định kiến
của bà cô thị Nở khi đón nhận tin cháu gái bà muốn lấy Chí Phèo, trong lời lẽ của bà cô chỉ có
những lời thóa mạ, miệt thị tàn nhẫn.Thế mới biết, chỉ có tấm lòng người mẹ thương con, chỉ
có tình người ấm áp mới đủ bao dung mở lòng cưu mang những kiếp người bên bờ vực của
tuyệt vọng như thị. Và có bị thử thách trong hoàn cảnh bĩ cực ấy, ta mới thấy cái nhìn đầy tin
yêu của nhà văn dành cho những con người lao động lam lũ.
-Sau khi chấp nhận nàng dâu mới, người mẹ nghèo ân cần động viên con dâu, hướng các con
đến một tương lai tươi sáng. Bà cụ phân trần về gia cảnh: “Nhà ta thì nghèo con ạ.” Khuyên bảo
con tu chí làm ăn “ Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn.” Và nhen nhóm trong các con
niềm tin tưởng, lạc quan vào tương lai phía trước. “ Rồi ra may mà ông giời cho khá… Biết thế nào
hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời ? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau”. Động viên an ủi con
suy nghĩ lạc quan, tin tưởng vào tương lai. Đó cũng là thông điệp mà nhà văn Kim Lân muốn nhắn
gửi.
- Hi vọng, lạc quan là thế nhưng rồi người mẹ nghèo vẫn không khỏi lo cho các con. Là người
từng trải hơn ai hết bà cảm thấu được nỗi đau, sự mất mát mà cái đói đã gây ra cho con người.
Chính bà cũng là nạn nhân. Cái đói cái nghèo vẫn như bóng ma hắc ám đeo bám cuộc đời bà.Bà lão
thở nhẹ ra một hơi dài. Bà lão nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đưa con gái út. Bà lão nghĩ đến cuộc đời
cực khổ dài dằng dặc của mình. Vì vậy bà càng thương các con “Vợ chồng chúng nó lấy nhau,
cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không?”Thương các con, bà càng ân cần với nàng
dâu mới. Bà lão đang cố gắng kéo gần khoảng cách giữa người con dâu tội nghiệp với mình: “ Con
ngồi xuống đây. Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân.” Bà có thêm bổn phận phải lo lắng, yêu thương
người đàn bà đói rách ấy, bởi “nó bây giờ là dâu là con trong nhà rồi.” Nhưng trong tâm trạng rối
bời, bà cụ Tứ vẫn không thể xua tan được bóng mây đen đặc của chết chóc đang trùm lên tổ ấm gia
đình bà. Bà bộc lộ tình cảm yêu thương các con “Chúng mày lấy nhau lúc này u thương quá”…Bà
muốn nói thật nhiều, nhưng nghẹn ngào không nói được nữa, “nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng.”
Lại một lần nữa bà khóc. Nhưng lần này, giọt nước mắt cứ mặc sức tuôn rơi, bởi đó là giọt nước
mắt của tình yêu thương, không cần ngăn lại. Giọt nước mắt chảy xuống có thể xoa dịu những phiền
lo, có thể khiến thị hiểu mình được yêu thương và vì thế mà gắn bó hơn với các thành viên trong gia
đình. Yêu thương vô điều kiện, thị nhanh chóng trở thành một phần cuộc sống của bà cụ. Khóc cho
mình, khóc cho người và rồi bà sẽ lại khóc nữa cho tương lai mờ mịt của các con.
Chốt: Qua đó, tác giả làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn lạc quan, nhân hậu, bao dung, giàu
lòng nhân ái, thương con vô hạn, hết lòng vun đắp cho các con được hạnh phúc của Bà cụ Tứ - một
hình mẫu tiêu biểu cho vẻ đẹp người mẹ Việt Nam. Qua hình tượng nhân vật bà cụ Tứ, Kim Lân đã
bộc lộ niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của tình người. Nếu bát cháo hành của thị Nở có thể kéo
Chí từ con quỷ dữ về với xã hội loài người thì chính sự cưu mang nhân từ của bà cụ Tứ đã cứu vớt
cả cuộc đời thị. Quả thực, trong cuộc đời này, chỉ có tình đời, tình người ở lại, chỉ có tình yêu
thương mới làm nên điều kì diệu trong cuộc sống.
*Nhận xét nghệ thuật
-Có ý kiến cho rằng “Nghệ thuật miêu tả tâm lí con người là thước đo tài năng người nghệ sĩ”.
Thực sự Kim Lân rất tài tình trong việc tái hiện một cách sinh động diễn biến tâm lí của nhân vật
Tràng .
- Nhân vật được đặt trong tình huống éo le cảm động để từ đó bộc lộ diễn biến tâm trạng cũng như
vẻ đẹp tâm hồn.
- Tác phẩm còn lôi cuốn bạn đọc bởi cách kể chuyện tự nhiên, hấp dẫn.
- Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, gần với khẩu ngữ nhưng được chắt lọc kĩ lưỡng.
Chính nhờ những thành công về nghệ thuật trên, mà nhà văn Nguyễn Khải từng phát biểu: “Tôi
không tin rằng NT viết “CNTT”, KL viết về “Làng” và “Vợ nhặt”. Đó là thần viết, thần mượn
tay người để viết nên những trà bất hủ”. VN của KL quả xứng đáng với lời khen đó.
* Y nghĩa nội dung tư tưởng ( giá trị nhân đạo- hiện thực)- vấn đề nghị luận t2 ( dù hỏi hay
ko vẫn trả lời- nếu hỏi sẽ trả lời sâu)
+ Quan tác phẩm, nhà văn đã tố cáo tội ác của thực dân Pháp, phát xít Nhật gây ra nạn đói năm
1945, làm giá trị con người bị rẻ rúng , giá trị của con người chỉ bằng “cọng rơm, cọng rác” có thể
nhặt được nơi đầu đường, xó chợ.
+ Nhà văn không chỉ thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với số phận của những con người nghèo khổ
mà quan trọng hơn ông đã phát hiện và ngợi ca những phẩm chất tốt đep, những khát vọng chân
chính ở người lao động nghèo: Đó là vẻ đẹp tình người, niềm khao khát hạnh phúc và niềm tin ở
tương lai. Như chính Kim lân từng tâm sự “Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết
nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin
tưởng ở tương lai. Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người.”
3. KL
“Vợ nhặt” của Kim Lân đã xây dựng được hình ảnh người mẹ nghèo khổ, nhân hậu, giàu tình yêu
thương và tinh thần lạc quan. Nhờ có những hình tượng nhân vật như vậy mà trong cuộc đời sáng
tác của mình, Kim Lân không có nhiều tác phẩm nhưng tác phẩm nào của ông cũng xuất sắc, cũng
trở thành niềm ao ước của nhiều người cầm bút. Đúng như Nguyễn Khải từng nhận xét: “Tôi không
tin Nguyễn Tuân viết “Chữ người tử tù”, Kim Lân viết về “Làng” và “Vợ nhặt”. Đó là thần viết,
thần mượn tay người để viết nên những trang bất hủ”.
Đề 3:
"Bữa cơm gày đói trông thật thảm hại. Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối,
và một đĩa m...
Đề 1. Phân tích vẻ đẹp nhân vật Tràng qua đoạn trích sau:
Sáng hôm sau, mặt trời lên bằng con sào, Tràng mới trở dậy. Trong người êm ái lửng lơ như
người vừa ở trong giấc mơ đi ra. Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không
phải.
Hắn chắp hai tay sau lưng, lững thững bước ra sân. Ánh nắng buổi sáng mùa hè sáng lóa
xói vào hai con mắt còn cay sè của hắn. Hắn chớp chớp liên hồi mấy cái, và bỗng vừa chợt nhận ra,
xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ. Nhà cửa, sân vườn, hôm nay đều được
quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng. Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên
ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong. Hai cái ang nước vẫn để khô cong ở dưới gốc ổi đã kín
nước đầy ăm ắp. Đống rác mùn tung bành ngay lối đi đã hót sạch.
Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở. Vợ hắn quét lại cái
sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất. Cảnh tượng thật đơn giản, bình thường nhưng
đối với hắn lại rất thấm thía cảm động. Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà
của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ
ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn
mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này. Hắn xăm xăm
chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà....
(Trích Vợ nhặt – Kim Lân, Ngữ văn 12, tập hai. NXB Giáo dục, 2008)
Phân tích diễn biến tâm lí nhân vật Tràng trong đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét về giá trị
nhân đạo của tác phẩm.
Bài làm
1.MB:
- Gợi dẫn: Kim Lân là cây cút có sở trường về truyện ngắn. TP của ông thường viết về cuộc sống và
con người của làng quê Việt Nam tuy nghèo khổ, thiếu thốn nhưng vẫn yêu đời, thật thà, chất phác
mà thông minh, tài hoa. Truyện ngắn Vợ nhặt của ông thể hiện sự am hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm
lí những người ở thôn quê: dù cuộc sống có tăm tối đến đâu họ vẫn khao khát sống, yêu thương đùm
bọc nhau, vẫn hi vọng vào tương lai.
- NDNL: Trong tác phẩm, nhà văn đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Tràng. Đó là hình
ảnh một người nông dân nghèo đói, bất hạnh nhưng giàu tình người và khát vọng hạnh phúc. Đặc
biệt trong đoạn trích “Sáng hôm sau, mặt trời lên bằng con sào (…)tu sửa lại căn nhà” đã miêt tả
thành công diễn biến tâm lí của Tràng vào buổi sáng hôm sau khi có vợ. Qua đó thể hiện sâu sắc
giá trị nhân đạo của tp.
2. TB
* Khái quát chung về tác giả tác phẩm ( 1đoạn văn ngắn)
- Kim Lân là một cây bút truyện ngắn xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại. Kim Lân được
mệnh danh là nhà văn của nông thôn đồng bằng bắc bộ. Nhà văn thường viết về khung cảnh nông
thôn và hình tượng người nông dân Việt Nam với một vốn hiểu biết sâu sắc và một tấm lòng thiết
tha, cảm động. Theo Nguyên Hồng thì Kim Lân là nhà văn một lòng đi về với đất, với người, với
thuần hậu, nguyên Thuỷ của nông thôn.
- “Vợ nhặt” được in trong tập truyện ngắn “Con chó xấu xí” (1962). Truyện ngắn có tiền thân là tiểu
thuyết “Xóm ngụ cư”- tác phẩm viết sau CMT8 nhưng còn dang dở và bị mất bản thảo. Sau khi hòa
bình lập lại (1954), tác giả dựa vào cốt truyện cũ để viết truyện ngắn “Vợ nhặt”.
-Thông qua tình huống Tràng nhặt được vợ giữa nạn đói năm 1945, Kim Lân đã tố cáo tội ác của
Pháp, Nhật gây ra nạn đói khiến giá trị con người bị rẻ rúng. Đồng thời nhà văn khẳng định dù trong
đói khát, chết chóc cận kề người lao động nghèo vẫn cưu mang, đùm bọc lẫn nhau vẫn luôn khát
khao hp và luôn tin tưởng ở tương lai.
* Giới thiệu đôi nét về nhân vật, đoạn trích( đoạn văn ngắn)
- Tràng là người có ngoại hình xấu xí, thô kệch “hai con mắt nhỏ tí”, “hai bên quai hàm bạnh
ra”, "thân hình to lớn vập vạp”. Đó là Sự gọt đẽo còn sơ sài của hóa công.
- Không chỉ thế, tính cách Tràng còn vô tư, ngờ nghệch, vụng về. "Hắn có tật vừa đi vừa nói.
Hắn lảm nhảm, than thở điều hắn nghĩ". Bọn trẻ con trêu Tràng chỉ "ngửa mặt cười hềnh hệch".
- Đã thế gia cảnh của Tràng lại nghèo : hắn làm nghề đẩy xe bò thuê, sống với 1 mẹ già và là dân
ngụ cư nghèo khổ.
Tràng được miêu tả giống như những nhân vật chàng ngốc có sp bất hạnh trong những câu
chuyện cổ tích. Bề ngoài Tràng xấu xí, thô kệch nhưng Tràng có 1 trái tim đẹp, giàu tình yêu
thương, giàu khát vọng hạnh phúc. Đó là hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn con người.
- Dẫn tới đoạn trích (tách đoạn): Giữa lúc cái đói, cái chết đang bủa vây thì Tràng lại dẫn về một
người đàn bạ lạ về làm vợ. Tình huống đầy bất ngờ và éo le khiến mọi người trong cái xóm nghèo
xơ xác ấy lo lắng và ái ngại. Chỉ có Tràng mới đủ can đảm thực hiện hành động liều lĩnh ấy.Và cũng
chỉ khi liều lĩnh cưu mang một con người Tràng mới có cơ hội được thấy hạnh phúc, được tận
hưởng những giây phút thực sự sống trong cuộc đời của mình. Buổi sang đầu tiên sau khi Tràng có
vợ là cái mốc quan trọng đánh dấu sự trưởng thành về nhân cách, từ đây Tràng không còn ngờ
nghệch dại khờ nữa.
*Phân tích nội dung đoạn trích ( có thể tách làm nhiều ýnhỏ=nhiều đoạn văn)
-Thời gian:
Đoạn trích bắt đầu bằng hình ảnh của buổi sáng quang đãng tươi tắn. « Sáng hôm sau, mặt
trời lên bằng con sào, Tràng mới trở dậy.” Đã qua một đêm Tràng có vợ, kể từ cái buổi chiều chạng
vạng nhá nhem mặt người ấy. Đất trời đã sang ngày mới, cũng như cuộc đời Tràng đã sang trang
mới sáng sủa và tràn đầy hi vọng. Có lẽ đó là cái nhìn đầy ưu ái của Kim Lân khi dụng ý miêu tả sự
vận động của thời gian từ bóng tối đến ánh sáng. . Chí Phèo của Nam Cao cũng tỉnh rượu trong môt
buổi sáng với nắng vàng rực rỡ cùng tiếng chim ríu rít líu lo. Dường như, mỗi khi nói đến sự thay
đổi mới mẻ và tốt đẹp, các nhà văn đều chọn gắn với một buổi sớm mai tran hòa ánh nắng !
- Niềm hạnh phúc ngây ngất, ngập tràn: « Trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc
mơ đi ra”.Tác giả đã diễn tả rất chính xác tâm trạng Tràng, một người đang cảm nhận vị ngọt ngào
của cuộc sống hạnh phúc gia đình. Nó đẹp đẽ như một giấc mơ, một giấc mơ mà Tràng chưa bao
giờ dám nghĩ tới. Tràng vẫn chưa thoát khỏi sự bất ngờ “Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn
ngỡ ngàng như không phải.” Hạnh phúc đến với Tràng quá nhanh, chỉ trong hai lần gặp thị, người
phụ nữ không tên không tuổi, không quê hương, không gia đình, thế mà nên vợ nên chồng. Tràng
không hề chủ tâm mà sự thật đã hiện hữu, một chuyện hệ trọng như thế lại đến với Tràng quá dễ
dàng? Tràng không bất ngờ sao được?
-Nhận ra sự đổi thay trong ngôi nhà: “Hắn chắp hai tay sau lưng, lững thững bước ra sân.”
Bước ra sân để đến với không gian khoáng đạt hơn, để hít thở không khí trong lành của buổi sáng
yên bình. Tràng đã không khỏi bất ngờ khi bắt gặp sự đổi thay“Hắn chớp chớp liên hồi mấy cái, và
bỗng vừa chợt nhận ra, xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ.” Đó hoàn tòan
không phải là cảnh tượng quen thuộc của một căn nhà hoang lạnh, thiếu sức sống. Tất cả đã thay đổi
tốt đẹp hơn: “Nhà cửa, sân vườn, hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng. Mấy
chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong.
Hai cái ang nước vẫn để khô cong ở dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm ắp. Đống rác mùn tung bành
ngay lối đi đã hót sạch.”.
(Liên hệ :Khi chứng kiến sự thay đổi tâm lí của Tràng, ta lại nhớ đến cái giây phút tỉnh ngộ của
Chí Phèo trong tác phẩm của Nam Cao. Tưởng như đó là sự đồng nhất, nhưng không. Nếu Chí Phèo
quan sát thấy những điều vốn dĩ vẫn diễn ra hằng ngày: tiếng chim hót, tiếng người cười nói,
tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá, vẫn là những âm thanh từ xa vọng lại, thì Tràng lại tận
mục sở thị sự thay đổi từ chính cuộc sống của mình, rất gần, đó là những điều Tràng chưa từng
thấy trong căn nhà của mình. Khác với sự thức tỉnh phần người trong Chí, tâm lí của Tràng là tâm lí
của một người ngờ nghệch bỗng trưởng thành, sự quan sát trở nên kĩ lưỡng và tỉ mỉ hơn. Tức
là Tràng đã chú ý quan sát, chú ý cảm nhận, điều mà trước đây Tràng không mấy quan tâm)
-Tràng thấy thấm thía cảm động , trân trọng hạnh phúc mình đang có.
Khi nhìn thấy cảnh tượng đơn giản, binh thường: « Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi giẫy những
búi cỏ mọc nham nhở. Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất..” đã
khiến T thấy Thấm thía cảm động. Bởi đó là những hình ảnh của một cuộc sống gia đình đúng
nghĩa: yên bình, đầm ấm, và gắn bó. Mỗi thành viên đang cố gắng cải thiện không gian sống,với
một mong muốn dọn dẹp nhà cửa cho quang quẻ sạch sẽ thì tương lai sẽ tốt đẹp hơn. Điều đó đã tác
động mạnh mẽ đến tình cảm của Tràng: “ Hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ
lùng”. Quả đúng là lạ lùng, bởi dẫu sao với người dân xóm ngụ cư thì căn nhà chỉ là nơi tạm bợ qua
ngày, vậy mà Tràng lại thương yêu và gắn bó với nó. Chỉ có thể là bởi căn nhà đó đã có thị, chính
sự hiện diện của thị đã khiến căn nhà trở nên ý nghĩa và nhiều sinh khí. Tràng nhận thức được
hạnh phúc mình đang có, đó là một gia đình và hắn đã nghĩ đến tương lai : “Hắn sẽ cùng vợ sinh
con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng.” Nhà văn Kim Lân đã miêu tả thật tỉ mỉ,
chi tiết từng chuyển biến nhỏ trong suy nghĩ của nhân vật Tràng . Tràng đã thực sự thăng hoa
trong cảm xúc hạnh phúc: “Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng.”
-Tràng ý thức được trách nhiệm, bổn phận của bản thân:
Càng thấy được những chuyển biết tốt đẹp trong ý thức của Tràng, độc giả càng thấy được sức
mạnh to lớn của tình người, sức mạnh của những khát khao bình dị, chính nó là đôi cánh nâng đỡ
con người vượt thoát khỏi tối tắm, khổ ải. “Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có
bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này.” Hai chữ “nên người” hạ xuống như một điểm nhấn xác
nhận sự biến đổi về chất ở Tràng. Cái gốc của sự biến đổi ấy chính là gia đình. Nó là nền tảng của
xã hội. Cái gốc của sự biến đổi ấy chính là gia đình. Nó là nền tảng của xã hội. Là căn cốt của nhân
tính. Tràng phục sinh nhân tính nhờ vươn tới ý thức về gia đình
-Hành động muốn góp sức để dựng xây,vun vén cho hạnh phúc gia đình:
Khát khao sẽ hình thành ý chí. Ý chí sẽ hình thành hành động. Hành động sẽ hình thành vận
mệnh. Thật đúng như vậy. T chẳng còn cái vẻ lững thững, chắp tay sau lưng ngắm nhìn nữa mà: “
Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà....”.
Đây có thể coi là chi tiết đắt nhất của tp. Hai chữ “xăm xăm” gợi lên bao nhiêu là hăm hở, háo hức
trong bước chân của Tràng tìm đến hạnh phúc. Nhưng điều quan trọng hơn đấy là dấu hiệu một
bước ngoặt lớn ở Tràng. So với cái dáng “ngật ngưỡng” ở mở đầu tác phẩm, thì hành động xăm xăm
này là một đột biến không chỉ ở dáng đi mà còn là thay đổi cả số phận, tính cách của Tràng: từ đau
khổ sang hạnh phúc, từ ngây dại sang ý thức. Đó là ý thức tự giác của một con người nhận ra giá trị
của những gì mình đang có. Chính tình yêu thương và khát vọng hp gđ đã giúp Tràng trưởng
thành hơn cả trong suy nghĩ và hành động. T không còn là một anh chàng ngờ nghệch nữa mà
đã trỏ thành một người đàn ông trưởng thành, biết lo toan, vun vén cho gia đình.
Cùng với sự thay đổi đó, trong bữa cơm đón nàng dâu mới, T được người vợ nhặt kể cho
nghe câu chuyện về những người nông dân ở BG, TN đã đi phá kho thóc của Nhật chia cho dân
nghèo, khiến T cảm thấy tiếc vẩn tiếc vơ những việc mình đã làm hôm trước. Đề rồi đến cuối câu
chuyện, Tràng đã có những thay đổi lớn lao khi nghĩ đến cảnh mình cùng những người nông dân
nghèo sẽ tham gia CM để giải phóng dt, để đổi đời. “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá
cờ đỏ bay phấp phới”.
*Nhận xét về nghệ thuât ( 1 đoạn tách riêng)
-Có ý kiến cho rằng “Nghệ thuật miêu tả tâm lí con người là thước đo tài năng người nghệ sĩ”.
Thực sự Kim Lân rất tài tình trong việc tái hiện một cách sinh động diễn biến tâm lí của nhân vật
Tràng .
- Nhân vật được đặt trong tình huống éo le cảm động để từ đó bộc lộ diễn biến tâm trạng cũng như
vẻ đẹp tâm hồn.
- Tác phẩm còn lôi cuốn bạn đọc bởi cách kể chuyện tự nhiên, hấp dẫn.
- Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, gần với khẩu ngữ nhưng được chắt lọc kĩ lưỡng.
Chính nhờ những thành công về nghệ thuật trên, mà nhà văn Nguyễn Khải từng phát biểu: “Tôi
không tin rằng NT viết “CNTT”, KL viết về “Làng” và “Vợ nhặt”. Đó là thần viết, thần mượn
tay người để viết nên những trà bất hủ”. VN của KL quả xứng đáng với lời khen đó.
* Y nghĩa nội dung tư tưởng ( giá trị nhân đạo- hiện thực)- vấn đề nghị luận t2 ( dù hỏi
hay ko vẫn trả lời- nếu hỏi sẽ trả lời sâu)
+ Qua tác phẩm, nhà văn đã tố cáo tội ác của thực dân Pháp, phát xít Nhật gây ra nạn đói năm 1945,
làm giá trị con người bị rẻ rúng , giá trị của con người chỉ bằng “cọng rơm, cọng rác” có thể nhặt
được nơi đầu đường, xó chợ.
+ Nhà văn không chỉ thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với số phận của những con người nghèo khổ
mà quan trọng hơn ông đã phát hiện và ngợi ca những phẩm chất tốt đep, những khát vọng chân
chính ở người lao động nghèo: Đó là vẻ đẹp tình người, niềm khao khát hạnh phúc và niềm tin ở
tương lai. Như chính Kim lân từng tâm sự “Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết
nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin
tưởng ở tương lai. Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người.”
3.KL
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên từng nói: “Thời gian có thể phủ bụi một số thứ nhưng có
những thứ càng rời xa thời gian càng sáng, càng đẹp”. Tôi cho rằng "Vợ nhặt" của Kim Lân là một
tác phẩm như thế. Trong cuộc đời sáng tác của mình, Kim Lân sáng tác không nhiều nhưng tác
phẩm của ông đã trở thành niềm ao ước của nhiều người cầm bút. Đọc xong tác phẩm, tấm lòng của
anh Tràng vẫn còn gây nhiều xúc cảm trong lòng bạn đọc. Khi vật chất chẳng có gì, con người vẫn
còn một chữ "tình". "Còn gì đẹp hơn thế, người với người sống để yêu nhau".
Đề 2: Trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân có đoạn:
…Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao
nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả
chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn
mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt… Biết rằng chúng nó có
nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không.
Bà lão khẽ thở dài ngửng lên, đăm đăm nhìn người đàn bà. Thị cúi mặt xuống, tay vân vê tà
áo đã rách bợt. Bà lão nhìn thị và bà nghĩ: Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta
mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được… Thôi thì bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo
lắng được cho con… May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó
yên bề nó, chẳng may ra ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được ?
Bà lão khẽ dặng hắng một tiếng, nhẹ nhàng nói với “nàng dâu mới” :
- Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng…
Tràng thở đánh phào một cái, ngực nhẹ hẳn đi. Hắn ho khẽ một tiếng, bước từng bước dài ra
sân. Bà cụ Tứ vẫn từ tốn tiếp lời:
- Nhà ta thì nghèo con ạ. Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi ra may mà ông
giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời ? Có ra thì rồi con cái chúng mày
về sau”.
Bà lão đăm đăm nhìn ra ngoài. Bóng tối trùm lấy hai con mắt. Ngoài xa dòng sông sáng trắng
uốn khúc trong cánh đồng tối. Mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào
khét lẹt. Bà lão thở nhẹ ra một hơi dài. Bà lão nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đưa con gái út. Bà lão
nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình. Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó
liệu có hơn bố mẹ trước kia không?...
Con ngồi xuống đây. Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân.
Bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy thương xót.Nó bây giờ là dâu là con trong nhà rồi. Người đàn
bà khẽ nhúc nhích, thị vẫn khép nép đứng nguyên chỗ cũ. Bà lão hạ thấp giọng xuống thân mật:
Kể ra làm được dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo, cũng chả ai người ta
chấp nhặt chi cái lúc này. Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi. Năm nay thì đói to đấy.
Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…
Bà cụ nghẹn lời không nói được nữa, nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng.
(Trích Vợ nhặt, Kim Lân, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục, 2013,tr 28-29)
Anh/chị hãy cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật bà cụ Tứ trong đoạn trích trên.
Từ đó, rút ra nhận xét tấm lòng nhân đạo của nhà văn Kim Lân trong tác phẩm.
1.MB ( CHUNG CHO CÁC ĐỀ VỀ CỤ TỨ)
Bersot từng nói: “ Trong vũ trụ có nhiều kì quan, nhưng kì quan tuyệt diệu nhất vẫn là trái tim
người mẹ”. Có thể nói tình yêu thương và sự hi sinh của mẹ dành cho những đứa con là một đại
dương sâu thẳm mà cuộc đời con người không thể đo đạc cũng không thể tháu hiểu hết. Trong văn
chương đã có nhiều tác phẩm viết về mẹ chạm đến trái tim người đọc như Những đứa con trong gia
đình ( Nguyễn Thi) hay Chiếc thuyền ngoài xa( Nguyễn Minh Châu)... Tiêu biểu hơn cả là “Vợ
nhặt” của nhà văn Kim Lân. Trong tác phẩm, ông đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật bà
cụ Tứ. Một người mẹ nghèo khổ, già yếu nhưng giàu tình thương con và nhân hậu. Vẻ đẹp ấy được
thể hiện sâu đậm qua đoạn văn bản được trích dẫn: “…..”. Qua đó nhà văn thể hiện sâu sắc tấm
lòng nhân đạo của mình.
2. TB
* Khái quát chung về tác giả tác phẩm ( 1đoạn văn ngắn)
- Kim Lân là một cây bút truyện ngắn xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại. Lim Lân được
mệnh danh là nhà văn của nông thôn đồng bằng bắc bộ. Nhà văn thường viết về khung cảnh nông
thôn và hình tượng người nông dân Việt Nam với một vốn hiểu biết sâu sắc và một tấm lòng thiết
tha, cảm động. Theo Nguyên Hồng thì Kim Lân là nhà văn một lòng đi về với đất, với người, với
thuần hậu, nguyên Thuỷ.
- “Vợ nhặt” được in trong tập truyện ngắn “Con chó xấu xí” (1962). Truyện ngắn có tiền thân là tiểu
thuyết “Xóm ngụ cư”- tác phẩm viết sau CMT8 nhưng còn dang dở và bị mất bản thảo. Sau khi hòa
bình lập lại (1954), tác giả dựa vào cốt truyện cũ để viết truyện ngắn “Vợ nhặt”.
-Thông qua tình huống Tràng nhặt được vợ giữa nạn đói năm 1945, Kim Lân đã tố cáo tội ác của
Pháp, Nhật gây ra nạn đói khiến giá trị con người bị rẻ rúng. Đồng thời nhà văn khẳng định dù trong
đói khát, chết chóc cận kề người lao động nghèo vẫn cưu mang, đùm bọc lẫn nhau vẫn luôn khát
khao hp và luôn tin tưởng ở tương lai.
* Khái quát chung về nhân vật(1 đoạn ngắn): ngoại hình- lai lịch- hoàn cảnh xuất hiện...
Nếu nhân vật Tràng hiện ra trong tâm trí độc giả là một người trai “ngờ nghệch”, với cái cười”
hềnh hệch” vô tư lự thì bà cụ Tứ lại hiện ra với bao nhiêu cái khắc khổ hằn in trên “khuôn mặt
bủng beo u tối”, hằn in trên cái dáng người “lọng khọng” già nua của mình. “Từ ngoài rặng tre, bà
lọng khọng đi vào”, “vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán gì trong miệng”.
Bà cụ Tứ, dù là nhân vật xuất hiện sau cùng trong tác phẩm nhưng lại góp tiếng nói đủ đầy nhất,
sâu sắc nhất về những thông điệp nhân văn sâu sắc của tác phẩm. Qua diễn biến tâm lí phức tạp khi
bà lão đón nhận tin bất ngờ: con trai bà có vợ, thì những phẩm chất tốt đẹp cứ thế được bộc lộ thật
mộc mạc, tự nhiên và đáng trân trọng.
* Vẻ đẹp nhân vật bà cụ Tứ (trong cảnh ra mắt nàng dâu)
Bà cụ Tứ là một người mẹ nghèo giàu tình yêu thương các con, giàu tấm lòng nhân hậu, vị
tha, bao dung, giàu tinh thần lạc quan.Tấm lòng cao cả ấy được thể hiện qua diễn biến tâm
trạng chân thành, tự nhiện, phức tạp của bà cụ Tứ trong tình huống éo le, cảm động: anh
Tràng nhặt vợ giữa nạn đói 1945.
- Khi về đến nhà, thấy những hành động khác thường của cậu con trai, lại thêm một người đàn
bà lạ ở trong nhà minh, bà cụ Tứ hết sức ngac nhiên. Phải đợi đến lúc Tràng phân trần rành mạch
“Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ!...” thì bà cụ Tứ đã có một phản ứng không lời nhưng
lại chất chứa đầy cảm xúc phức tạp: “Bà lão cúi đầu nín lặng.Bà lão hiểu rồi, lòng người mẹ nghèo
khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình ”. Như
vậy, trong cái cúi đầu nín lặng của bà cụ Tứ là sự nén chặt, sự dồn tụ rất nhiều cảm xúc: vừa là niềm
hạnh phúc khi thằng con mình có một người bạn đời để sẻ chia vui buồn, vừa là sự xót xa vì việc
trọng đại với đứa con trai lại diễn ra chóng vánh, bất ngờ đến thế, vừa là sự tủi phận của người mẹ
cảm thấy mình đã không làm tròn trách nhiệm, không lo lắng được cho hạnh phúc của con cái. Bà
cụ đã so sánh nhà người ta với nhà mình để mà chua chát, để mà than thân trách phận, áy náy, mặc
cảm thương mình, thương con vì phận làm cha làm mẹ mà không lo nổi cho con. Câu văn bỏ lửng
trong xúc cảm nghẹn ngào, chua xót khơi gợi bao nỗi đồng cảm sẻ chia của người đọc: “Còn mình
thì…”. Nước mắt người mẹ nghèo rơi xuống với bao nỗi thương xót tủi hờn “Trong kẽ mắt kèm
nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt. Những dòng nước mắt lặng lẽ chảy của bà cụ đã khiến
cho tất cả người đọc đều phải lặng đi, xúc động bởi ở đó tình mẫu tử, tình thương con đã được thể
hiện sâu sắc.
+Sau phút cúi đầu nín lặng với nhiều cảm xúc trái chiều phức tạp, bà cụ đã trở về vơi thực tại,
nhìn vào thực tế đói khổ nghiệt ngã để trong lòng trào lên sự lo lắng, thương xót cho hai đứa con:
“Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không”.
- Bà nhân hậu, bao dung đón nhận nàng dâu mới: Và rất tự nhiên từ tình thương, từ sự lo lắng
dành cho đứa con trai, bà cụ chuyển sang nhìn người con dâu cũng bằng ánh mắt đầy xót xa,
thương cảm. Dù Tràng không hề đề cập đến việc nhặt vợ ở đầu đường xó chợ qua loa và chóng
vánh như thế nào nhưng bằng kinh nghiệm sống của một người đã đi gần hết cả cuộc đời, bà cụ
hoàn toàn có thể hiểu được sự thật trần trụi, đắng chát của cuộc hôn nhân đó. Nhưng bà không hề
nhìn cô con dâu bằng sự phán xét khắt khe, đay nghiến thường thấy của một bà mẹ chồng mà bằng
con mắt đầy bao dung, cảm thông thương người như thể thương thân:“Bà lão nhìn thị và bà
nghĩ: Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình
mới có vợ được…” .. Bà cụ nhận thức rõ may mắn của con trai mình, nhận thức rõ tình cảnh đáng
thương của thị. Bà chấp nhận nàng dâu với tất cả sự chân thành, yêu thương, đầy bao dung. Dẫu có
lo lắng nhưng bà cụ vẫn chắt chiu lấy niềm vui, niềm hi vọng dẫu mong manh : “Thôi thì bổn
phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con… May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì
thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó, chẳng may ra ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế
nào mà lo cho hết được?”. Mỗi câu độc thoạt nội tâm của bà cụ đều chất chứa một nỗi chua xót
đắng cay, một sự bế tắc nhưng vẫn luôn thấm đượm tình người.
=>bà cụ Tứ hiện lên không chỉ là hình ảnh của tình mẫu tử thiêng liêng cao cả mà còn là biểu hiện
của tình người ấm áp, bao dung. Bằng sự nhân hậu, vị tha, bà đã sẵn sàng mở rộng lòng và dang đôi
bàn tay để cưu mang, che chở, nâng đỡ những kiếp người khốn khổ hơn mình. Ở đó, truyền thống
đạo lý tốt đẹp của người Việt Nam: “Lá lành đùm lá rách” được thể hiện rất rõ.
- Từ sự cảm thông, thấu hiểu bà mừng cho hạnh phúc của các con:
Điều đáng trân trọng nhất ở bà cụ Tứ là dù có xót xa, đau đớn và lo lắng nhưng tất cả đều được bà
mẹ này giữ kín trong cõi riêng của mình còn những điều bà nói ra đều là sự vui mừng, tốt đẹp.Câu
nói đầu tiên bà nói với nàng dâu mới: “ Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u
cũng mừng lòng…”. Là một câu nói ngắn gọn mà giá trị vô cùng! Ngạn ngữ Nhật có câu:“ Một lời
nói thiện ý có thể sưởi ấm cả ba tháng mùa đông”. Một câu nói có thể làm cho người ta đau, nhưng
cũng có thể chữa lành những vết thương, sưởi ấm những tâm hồn.Câu nói mộc mạc giản dị của bà
cụ mà ý nghĩa vô cùng . Nó vừa giúp cả ba người thoát khỏi tình thế ngượng nghịu, khó xử, vừa là
sự chào đón ấm áp, đôn hậu với nàng dâu mới. Nó khiến cuộc hôn nhân chóng vánh, vội vàng của
T cũng trở nên thiêng liêng, trọng đại như các cuộc hôn nhân mâm cao cỗ đầy khác. Câu nói ấy còn
giúp Tràng thở phào nhẹ nhõm như trút được cả 1 trái núi lo toan mà còn giúp Thị chiêu tuyết , lấy
lại danh dự cho thị để thị bớt đi muôn phần tủi hổ. Rằng cuộc hôn nhân của Tràng- Thị cũng là vì
duyên số chứ không phải vì miếng ăn! Và điều đặc biệt là bà lão cũng bộc lộ tâm trạng của mình
trong câu nói “u cũng mừng lòng”. tức là có sự vừa ý, có niềm vui hân hoan. Câu nói chan chữa
niềm cảm thông yêu thương.Bà cụ sẽ khiến thị hiểu rằng, dù sao sự xuất hiện của thị trong căn nhà
rúm ró, xiêu vẹo cũng đem đến nguồn vui sống cho người mẹ già nua ấy. Như vậy, với tấm lòng cao
cả, giàu đức hy sinh, bà lão đã nén chặt trong lòng những buồn tủi để nâng đỡ, vun vén cho hạnh
phúc của hai đứa con mình.
Xem cách bà cụ phản ứng với tin Tràng có vợ, độc giả càng thấm thía vẻ đẹp thấm đượm
tình yêu thương những con người dân quê mộc mạc. Nó khác hẳn với suy nghĩ đầy định kiến
của bà cô thị Nở khi đón nhận tin cháu gái bà muốn lấy Chí Phèo, trong lời lẽ của bà cô chỉ có
những lời thóa mạ, miệt thị tàn nhẫn.Thế mới biết, chỉ có tấm lòng người mẹ thương con, chỉ
có tình người ấm áp mới đủ bao dung mở lòng cưu mang những kiếp người bên bờ vực của
tuyệt vọng như thị. Và có bị thử thách trong hoàn cảnh bĩ cực ấy, ta mới thấy cái nhìn đầy tin
yêu của nhà văn dành cho những con người lao động lam lũ.
-Sau khi chấp nhận nàng dâu mới, người mẹ nghèo ân cần động viên con dâu, hướng các con
đến một tương lai tươi sáng. Bà cụ phân trần về gia cảnh: “Nhà ta thì nghèo con ạ.” Khuyên bảo
con tu chí làm ăn “ Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn.” Và nhen nhóm trong các con
niềm tin tưởng, lạc quan vào tương lai phía trước. “ Rồi ra may mà ông giời cho khá… Biết thế nào
hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời ? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau”. Động viên an ủi con
suy nghĩ lạc quan, tin tưởng vào tương lai. Đó cũng là thông điệp mà nhà văn Kim Lân muốn nhắn
gửi.
- Hi vọng, lạc quan là thế nhưng rồi người mẹ nghèo vẫn không khỏi lo cho các con. Là người
từng trải hơn ai hết bà cảm thấu được nỗi đau, sự mất mát mà cái đói đã gây ra cho con người.
Chính bà cũng là nạn nhân. Cái đói cái nghèo vẫn như bóng ma hắc ám đeo bám cuộc đời bà.Bà lão
thở nhẹ ra một hơi dài. Bà lão nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đưa con gái út. Bà lão nghĩ đến cuộc đời
cực khổ dài dằng dặc của mình. Vì vậy bà càng thương các con “Vợ chồng chúng nó lấy nhau,
cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không?”Thương các con, bà càng ân cần với nàng
dâu mới. Bà lão đang cố gắng kéo gần khoảng cách giữa người con dâu tội nghiệp với mình: “ Con
ngồi xuống đây. Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân.” Bà có thêm bổn phận phải lo lắng, yêu thương
người đàn bà đói rách ấy, bởi “nó bây giờ là dâu là con trong nhà rồi.” Nhưng trong tâm trạng rối
bời, bà cụ Tứ vẫn không thể xua tan được bóng mây đen đặc của chết chóc đang trùm lên tổ ấm gia
đình bà. Bà bộc lộ tình cảm yêu thương các con “Chúng mày lấy nhau lúc này u thương quá”…Bà
muốn nói thật nhiều, nhưng nghẹn ngào không nói được nữa, “nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng.”
Lại một lần nữa bà khóc. Nhưng lần này, giọt nước mắt cứ mặc sức tuôn rơi, bởi đó là giọt nước
mắt của tình yêu thương, không cần ngăn lại. Giọt nước mắt chảy xuống có thể xoa dịu những phiền
lo, có thể khiến thị hiểu mình được yêu thương và vì thế mà gắn bó hơn với các thành viên trong gia
đình. Yêu thương vô điều kiện, thị nhanh chóng trở thành một phần cuộc sống của bà cụ. Khóc cho
mình, khóc cho người và rồi bà sẽ lại khóc nữa cho tương lai mờ mịt của các con.
Chốt: Qua đó, tác giả làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn lạc quan, nhân hậu, bao dung, giàu
lòng nhân ái, thương con vô hạn, hết lòng vun đắp cho các con được hạnh phúc của Bà cụ Tứ - một
hình mẫu tiêu biểu cho vẻ đẹp người mẹ Việt Nam. Qua hình tượng nhân vật bà cụ Tứ, Kim Lân đã
bộc lộ niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của tình người. Nếu bát cháo hành của thị Nở có thể kéo
Chí từ con quỷ dữ về với xã hội loài người thì chính sự cưu mang nhân từ của bà cụ Tứ đã cứu vớt
cả cuộc đời thị. Quả thực, trong cuộc đời này, chỉ có tình đời, tình người ở lại, chỉ có tình yêu
thương mới làm nên điều kì diệu trong cuộc sống.
*Nhận xét nghệ thuật
-Có ý kiến cho rằng “Nghệ thuật miêu tả tâm lí con người là thước đo tài năng người nghệ sĩ”.
Thực sự Kim Lân rất tài tình trong việc tái hiện một cách sinh động diễn biến tâm lí của nhân vật
Tràng .
- Nhân vật được đặt trong tình huống éo le cảm động để từ đó bộc lộ diễn biến tâm trạng cũng như
vẻ đẹp tâm hồn.
- Tác phẩm còn lôi cuốn bạn đọc bởi cách kể chuyện tự nhiên, hấp dẫn.
- Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, gần với khẩu ngữ nhưng được chắt lọc kĩ lưỡng.
Chính nhờ những thành công về nghệ thuật trên, mà nhà văn Nguyễn Khải từng phát biểu: “Tôi
không tin rằng NT viết “CNTT”, KL viết về “Làng” và “Vợ nhặt”. Đó là thần viết, thần mượn
tay người để viết nên những trà bất hủ”. VN của KL quả xứng đáng với lời khen đó.
* Y nghĩa nội dung tư tưởng ( giá trị nhân đạo- hiện thực)- vấn đề nghị luận t2 ( dù hỏi hay
ko vẫn trả lời- nếu hỏi sẽ trả lời sâu)
+ Quan tác phẩm, nhà văn đã tố cáo tội ác của thực dân Pháp, phát xít Nhật gây ra nạn đói năm
1945, làm giá trị con người bị rẻ rúng , giá trị của con người chỉ bằng “cọng rơm, cọng rác” có thể
nhặt được nơi đầu đường, xó chợ.
+ Nhà văn không chỉ thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với số phận của những con người nghèo khổ
mà quan trọng hơn ông đã phát hiện và ngợi ca những phẩm chất tốt đep, những khát vọng chân
chính ở người lao động nghèo: Đó là vẻ đẹp tình người, niềm khao khát hạnh phúc và niềm tin ở
tương lai. Như chính Kim lân từng tâm sự “Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết
nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin
tưởng ở tương lai. Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người.”
3. KL
“Vợ nhặt” của Kim Lân đã xây dựng được hình ảnh người mẹ nghèo khổ, nhân hậu, giàu tình yêu
thương và tinh thần lạc quan. Nhờ có những hình tượng nhân vật như vậy mà trong cuộc đời sáng
tác của mình, Kim Lân không có nhiều tác phẩm nhưng tác phẩm nào của ông cũng xuất sắc, cũng
trở thành niềm ao ước của nhiều người cầm bút. Đúng như Nguyễn Khải từng nhận xét: “Tôi không
tin Nguyễn Tuân viết “Chữ người tử tù”, Kim Lân viết về “Làng” và “Vợ nhặt”. Đó là thần viết,
thần mượn tay người để viết nên những trang bất hủ”.
Đề 3:
"Bữa cơm gày đói trông thật thảm hại. Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối,
và một đĩa m...
 









Các ý kiến mới nhất