Tìm kiếm Giáo án

Quảng cáo

Quảng cáo

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (04) 66 745 632
  • 0166 286 0000
  • contact@bachkim.vn

Giáo án cả năm

Nhấn vào đây để tải về
Hiển thị toàn màn hình
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Mai Huy Dũng (trang riêng)
Ngày gửi: 16h:22' 12-06-2018
Dung lượng: 6.8 MB
Số lượt tải: 7
Số lượt thích: 0 người
I – MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, đời sống người dân đang dần được cải thiện. Điều đó tác động không nhỏ đến công tác giáo dục, tạo động lực cho việc chúng ta tìm ra nhân tài cho đất nước thông qua việc các em hứng thú học và cảm thụ các giờ văn. Nhưng trước sự mở cửa của đất nước trong xu thế hội nhập về kinh tế thì vị trí môn Ngữ văn trong nhà trường ngày càng bị xem nhẹ, đặc biệt là đối với học sinh, học văn các em xem như là một sự ép buộc
(nhất là trong việc lựa chọn học sinh giỏi đi dự thi HSG môn Ngữ văn cấp Huyện, trước định hướng của phụ huynh học sinh các em càng ngại và không muốn đi thi HSG môn này). Cũng vì thế mà hiện nay chúng ta có thể thấy có một số em rất giỏi về làm kinh tế hay giỏi về nhiều ngoại ngữ nhưng không thể hiểu nổi ý nghĩa của một câu ca dao, tục ngữ đơn giản; không biết cách viết một câu đơn theo đúng nghĩa của nó. Là một giáo viên dạy môn Ngữ văn, hẳn mỗi lần chấm bài làm của học sinh chúng ta phải bật cười vì những câu không có nghĩa, hay trên lớp khi dạy học xong một bài văn bản, bài thơ…chúng ta cho học sinh phát biểu cảm nghĩ của mình với bài vừa học thì khi phát biểu của các em vừa dứt cũng là tràng cười của cả lớp ngả nghiêng, thế nhưng cũng đằng sau tiếng cười ấy lại là một nỗi chua xót đắng cay và những giọt nước mắt cảm thấy hổ thẹn thay vì sản phẩm ấy là của mình. Vì vậy, công việc dạy học đối với giáo viên Ngữ văn đòi hỏi làm sao phải lôi cuốn được học sinh ham thích tiết học văn bản để từ đó viết bài văn, tự nguyện đăng kí được dự thi học sinh giỏi môn Ngữ văn từ cấp trường trở lên, đó là một việc làm thường xuyên của giáo viên nói chung đặc biệt đối với giáo viên dạy môn Ngữ văn. Đây là một công việc mà người dạy học có thể đánh giá mức độ thành thạo về kĩ năng, mức độ tiếp thu kiến thức và tâm thế sau tiết học của học sinh, qua đó mà chúng ta có thể phần nào tự đánh giá công việc dạy học của mình và có biện pháp điều chỉnh sao cho hợp lí, phù hợp với tình hình học tập của học sinh.
Tuy nhiên, không phải lúc nào bộ môn Ngữ văn cũng lôi cuốn hứng thú đối với học sinh và tất cả học sinh cũng được giáo viên quan tâm đúng mức. Trong thời gian tham gia chỉ đạo chuyên môn ở Tổ xã hội cũng như thực tế đã đứng lớp giảng dạy môn Ngữ văn nhiều năm, tôi thấy nhiều thầy cô giáo chưa quan tâm đến vấn đề này vì khi đến những tiết văn bản giáo viên thường cung cấp kiến thức phần lớn đủ theo hệ thống câu hỏi ở sách giáo khoa, ít tìm tòi bổ sung, mở rộng kiến thức ở các bộ môn khác và không kích thích khả năng khám phá, sáng tạo của học sinh; “phớt lờ” cần biết thái độ học sinh đối
với bài dạy, tiết dạy của mình vì “ lương” của mình cứ đến kì thì tăng, cứ đến ngày là được lấy.
Có thể thấy, đây không phải là vấn đề mới, tuy nhiên xuất phát từ tình hình thực tế mỗi giáo viên có quan điểm khác nhau , cách tổ chức khác nhau, giáo án khác nhau trong tiết dạy học văn bản nhằm gây hứng thú cho học sinh đối với môn Ngữ văn, bằng đúc rút kinh nghiệm thực tiễn tôi chọn viết về: Kinh nghiệm chỉ đạo giáo viên bộ môn Ngữ văn thực hiện dạy học kiến thức liên môn cho bài “ Mùa xuân của tôi” – Vũ Bằng , trong chương trình Ngữ văn 7 nhằm nâng cao hứng thú học tập của học sinh ở Trường THCS Trường Lâm.
2. Mục đích nghiên cứu
Chỉ đạo giáo viên thực hiện dạy học tiết văn bản có sử dụng kiến thức liên môn để :
Giáo viên: Tăng khả năng tự học, tự bồi dưỡng kiến thức cho bộ môn của mình đồng thời mở rộng kiến thức thêm ở các bộ môn khác
Học sinh: Tăng khả năng sáng tạo, yêu thích học bộ môn Ngữ văn
3. Đối tượng nghiên cứu
- Đối với GV: nắm được phương pháp, cách thức cách truyền giảng tới HS
- Đối với HS: nắm bắt tâm tư, nguyện vọng đối với bộ môn và giáo viên
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: chỉ đạo tổ bộ môn cứ các công văn hướng dẫn của Ngành, căn cứ tình hình thực tiễn của giáo viên bộ môn họp bàn để xây dựng tiết dạy cho đồng nghiệp của mình
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin : bằng phiếu nhằm thu thập thông tin về thực trạng học sinh thụ
 
Gửi ý kiến