Tin tức thư viện

Khắc phục hiện tượng không xuất hiện menu Bộ công cụ Violet trên PowerPoint và Word

12099162 Kính chào các thầy, cô. Khi cài đặt phần mềm , trên PowerPoint và Word sẽ mặc định xuất hiện menu Bộ công cụ Violet để thầy, cô có thể sử dụng các tính năng đặc biệt của phần mềm ngay trên PowerPoint và Word. Tuy nhiên sau khi cài đặt phần mềm , với nhiều máy tính sẽ...
Xem tiếp

Quảng cáo

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Giáo án

DẠY HỌC TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ

Nhấn vào đây để tải về
Hiển thị toàn màn hình
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Dự án hỗ trợ giáo dục Việt Bỉ- Dự án PEDC- Dự án giáo dục Anh quốcc
Người gửi: Phan Van Tuyen
Ngày gửi: 00h:35' 23-03-2014
Dung lượng: 70.3 KB
Số lượt tải: 778
Số lượt thích: 0 người
CÁC PHƯƠNG PHƯƠNG PHÁP PHỔ BIẾN TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT CHO TRẺ DÂN TỘC THIỂU SỐ.
Rào cản ngôn ngữ là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến học sinh và giáo viên chúng ta không tiếp cận được mục tiêu dạy học và mục tiêu giáo dục. Để vượt qua các rào cản đó, không phải giáo viên nào cũng có thể nắm được tiếng mẹ đẻ của học sinh. Mà thực tế cho thấy ngay cả giáo viên địa phương cũng chưa thực sự nắm vững việc sử dụng thế mạnh tiếng mẹ đẻ của mình để truyền đạt kiến thức và hình thành kĩ năngsử dụng tiếng Việt cho học sinh một cách khoa học và hiệu quả.
Từ lâu, các tổ chức giáo dục trên thế giới đã nghiên cứu, tổng kết và phổ biến một số phương pháp cơ bản, hiệu quả để giải quyết vấn đề dạy ngôn ngữ thứ hai cho học sinh.
Đây không phải là các phương pháp mới vì nó được triển khai trong đa số nội dung các môn học của Bộ mà chúng ta giảng dạy trong năm.Có nghĩa là anh chị em chúng ta đã thực hành các phương pháp này.Vấn đề ở đây là đa số chúng ta không nhận ra tên gọi của nó và những yêu cầu đặc thù của mỗi phương pháp.Bởi vậy, tôi xin phép được tổng hợp và trình bày một cách tóm lược nhất bốn phương pháp phổ biến để các thành viên trong Tổ 2 chúng ta cùng thảo luận. Mong anh chị em trong tổ tiếp nhận tinh thần của tài liệu .
Tài liệu sử dụng nguồn từ : +Dự án Phát triển giáo dục Việt – Bỉ 2006.
+Tài liệu phổ cập dự án PEDC 2006
+Dự án Cứu trợ trẻ em Anh quốc.

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRỰC TIẾP
Định nghĩa
Phương pháp dạy học trực tiếp còn gọi là phương pháp tự nhiên . Nguyên tắc chính của phương pháp này là: dạy ngôn ngữ thứ hai không thông qua ngôn ngữ mẹ đẻ nhằm rút ngắn được thời gian học tiếng và tránh được những lẫn lộn ngôn ngữ khi sử dụng.
Các yêu cầu sư phạm của phương pháp trực tiếp
Khi dùng phương pháp dạy học trực tiếp, cần phải nắm roc 5 yêu cầu sau đây:
Dạy từ ngữ thông qua người thật, việc thật, tranh hoặc mẫu minh họa; tránh giải thích từ ngữ mới bằng ngôn ngữ thứ hai. Khi gặp câu, đoạn khó, không được giải thích bằng ngôn ngữ mẹ đẻ mà phải giải thích bằng ngôn ngữ 2.
( Từ mới không giải thích bằng ngôn ngữ 2, câu khó không giải thích bằng ngôn ngữ1).
2.2 . Dạy ngư phap thông qua hệ thống bài tập. Không đưa ra bất kì một qui tắc nào khi giải thích các hiện tượng ngữ pháp; Chỉ khi học sinh thật thành thục ngôn ngữ nói mới thận trọng đưa ra những ghi nhớ đơn giản về hiện tượng ngữ pháp và cách dùng một số từ ngữ đặc biệt.
2.3. Mở đầu một bài đàm thoại theo phương pháp trực tiếp luôn cần có một mẩu chuyện ngắn hoặc có một cuộc đàm thoại giữa thầy và trò theo lối nói hàng ngày.
2.4. Dạng luyện tập là hệ thống bài tập luyện theo câu hỏi hoặc tập nghe hiểu những mẫu chuyện ngắn dễ hiểu.Thông thường đó là những mẩu chuyện vui, giai thoại có trong đời thường.
2.5. Bài học luôn gắn với việc giới thiệu và làm quen với văn hóa. Văn hóa cảu ngôn ngữ hai là mặt được phương pháp dạy học trực tiếp đặc biệt chú trọng vì cho rằng các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cuẩ một cộng đồng, suy cho cùng , chính là sự thể hiện các đặc diểm văn hóa.
3. Những ưu điêm và hạn chế của phương pháp trực tiếp
3.1. Những ưu điểm của phương pháp trực tiếp là:
- Không khí học tập trong lớp luôn vui vẻ và hòn nhiên.
- Học sinh phản ứng nhanh trong giao tiếp hàng ngày
- Vốn từ và mẫu ngữ pháp tăng lên nhanh chóng vì ít bị rơi rụng và được thực hành trực tiếp hàng ngày.
- Là cơ sở chắc chắn để học sinh học ngôn ngữ viết, ngôn ngữ học tập trong các tài liệu một cách nhẹ nhàng, tự tin.
3.2 Những nhược điểm, hạn chế
- Môi trường học không phải là chinh smôi trường giao tiếp thực cho học sinh sử dụng ngôn ngữ hai. Nó chỉ mang tính mô hình nên học sinh nắm từ ngưc và cách giao tiếp không thể chuẩn xác.
- Ngôn ngữ 2 học theo phương pháp trực tiếp là khẩu ngữ, dùng trong giao tiếp hàng ngày. Dạng ngôn ngữ này có phần khác với ngôn ngữ viết. Chẳng hạn trong khẩu ngữ, câu thươgnf tỉnh lược, từ ngữ ít chính xác và thiên về cảm xúc. Do vậy, nếu không có biện pháp kịp thời, học sinh sẽ gặp khó khăn ở những lớp cao, nơi thường phảo tiếp xúc với phong cách ngôn ngữ viết.
4 Sử dụng phương pháp trực tiếp trong dạy học các môn ở Tiểu học
Trong dạy học ngôn ngữ 2, không phải tất cả các môn và các phan môn đều thích hợp với phương pháp dạy học trực tiếp. Việc quyết định sử dụng phương pháp dạy học trực tiếp cho việc dạy học một môn hay phân môn nào còn tùy thuộc vào trình độ tiếng Việt của học sinh và mưc độ trừu tượng của môn học.
Ví dụ ở môn Tiếng Việt, những phân môn như Học vần, Kể chuyện, Tập Làm Văn miệng thì có thể dùng phương pháp trực tiếp, nhưng khi học tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu hay tập làm văn viết thì khó hơn, hoặc chỉ áp dụng được với từng phần trong nội dung bài học. Tương tự, nếu ở các môn như Đạo Đức, Khoa học dễ sử dụng phương pháp trực tiếp thì ở môn Toán, do tính trừu tượng của nó, cũng khó dùng được phương pháp này một cách tuyệt đối, cần phải phối hợp với các phương pháp khác.
Ngoài ra, trình độ tiếng Việt của học sinh quyết định khá lớn đến khả năng có dùng phương pháp trực tiếp hay không. Nếu vốn từ của các em còn quá hạn chế thì việc dùng phương pháp trực tiếp sẽ không đem lại kết quả như mong muốn, bởi vì bài học sẽ luôn luôn bị ngắt quãng ra để bổ túc hoặc luyện từ mới, mẫu câu mới trong bài ; Như vậy, yêu cầu về tiêngd đã choán hết thời gian truyền thụ kiến thức nên phương pháp trực tiếp sẽ không mang lại kết quả như mong đợi.
PHƯƠNG PHÁP DẠY NGÔN NGỮ GIAO TIẾP
1. Định nghĩa
Phương pháp dạy ngôn ngữ giao tiếp hiện đang được dùng phổ biến, đặc biệt ở Châu Âu. Nguyên tắc chủ yếu của phương pháp này là : Dạy cho người học các phương thức xử lí hoàn cảnh dựa vào giao tiếp. Qua thực hành, người học có được kĩ năng và chủ động trong giao tiếp. Người thầy tốt nhất phải là người sử dụng thành thạo ngôn ngữ 2. Trong quá trình dạy ngôn ngữ 2, người thầy phải có ý thức không can thiệp quá sâu và chi tiết vào thực hành nói năng của học sinh. Người thầy chỉ tư vấn và chỉ can thiệp khi học sinh thật sự gặp khó khăn, có yêu cần được tư vấn.
Các yêu cầu sư phạm chính của phương pháp
Phương pháp này khi sử dụng cần tuân thủ 5 nguyên tắc sư phạm sau đây:
Ngôn ngữ được dùng khi dạy học là ngôn ngữ nói khi giao tiếp.
Học sinh thực hành giao tiếp không được nói các cụm từ rời rạc mà buộc phải nói ra thành các cụm từ hoặc câu để có dạng lời nói liên tục.
Khi trao đổi hoặc có nhu cầu giúp đỡ, học sinh chỉ dùng ngôn ngữ 2, không dùng tiếng mẹ đẻ. Luôn hướng tới cách giao tiếp tay đôi, theo cặp : giữa trò và thậy hoặc giữa trò và trò.
Giáo viên có nhiệm vụ thiết kế :+ Các tình huống giao tiếp ( giao tiếp với bạn bè, giao tiếp trong gia đình; giao tiếp trong đời sống với người bán hàng, người phụ trách thư viện,... ).
+ Các mục đích giao tiếp.
Khi nhóm học tập gặp khó khăn nào đó trong xử lí tình huống giao tiếp, đại diện nhóm đến trao đổi trực tiếp với giáo viên. Sau đó cả nhóm bàn bạc tìm ra cách khắc phục.Toàn bộ các công đoạn này đều phải dùng ngôn ngữ 2.
Những ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy giao tiếp
4.1 Ưu điểm
- Không khí học tập trong lớp dễ sôi nổi.
- Tạo nền tảng quan trọng cho việc học kiến thức thông qua ngôn ngữ 2.
- Học sinh sớm quen với giao tiếp vì bắt buộc phải dùng cụm từ và câu.
4.2 Nhược điểm
- Dạng ngôn ngữ được thực hành là ngôn ngữ nói nên sẽ gây bất lợi cho việc học ngôn ngữ chuẩn mực, thường có trong các bài học kiến thức.
- người học có năng lực giao tiếp nhưng không có nhiều kiến thức về chính ngôn ngữ đang học vì thời gian chủ yếu dành cho các kĩ năng nói và nghe.
- Trong một số trường hợp, cần nhiều vật liệu thiết kế các khung cảnh cho thực hành giao tiếp.
Các yêu cầu của giáo viên :
Có tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ 2 hoặc hiểu biết về ngôn ngữ 2 một cách chắc chắn.
Ứng xư mềm mỏng và linh hoạt.
Có khả năng hòa nhập cao.
Luôn bình tĩnh trước mọi tình huống.
Sử dụng phương pháp dạy giao tiếp trong các môn học ở Tiểu học
Phương pháp dạy giao tiếp thích hợp với nhiều phân môn Tiếng Việt và nhiều môn khác so với phương pháp trực tiếp.Chẳng hạn như với môn Tiếng Việt, các phân môn sau đây sử dụng khá tự nhiên phương pháp này:
-Tập đọc
- Kể chuyện
- Tập làm văn miệng
- Luyện từ vầ câu.
Đây là những phân môn ít nhiều sử dụng dạng nói của ngôn ngữ 2 trong dạy học. Phương pháp này tỏ ra rất thích hợp với:
Tiết luyện tập toán
Đạo đức
Tự nhiên xã hội
Mĩ thuật
Âm nhạc
Đương nhiên, việc áp dụng thành công phương pháp này vào viêc dạy học còn phụ thuộc khá nhiều vào khả năng thiết kế của giáo viên, năng lực tiếng việt của học sinh và các điều kiện cụ thể về môi trường học tập( đồ dùng, điều kiện sống của gia đình, cộng đồng…)

SỬ DỤNG TIẾNG MẸ ĐẺ ĐỂ DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
Qua trình học tiếng mẹ đẻ của trẻ
Giai đoạn thứ nhất: Trẻ lắng nghe ngôn ngữ nói – Đây là giai đoạn này trẻ bắt đầu chú ý đến âm thanh lời nói.
Giai đoạn thứ 2: trẻ quan sat sự liên kết giữa âm thanh và lời nói với vật, hành động, màu sắc ,… giai đoạn này trẻ bắt đầu hiểu nghĩa của câu nói.
Giai đoạn thứ ba: trẻ lắng nghe và nhớ các từ ngữ, các câu nói được lặp lại hàng ngày. Đây là giai đoạn trẻ cố gắng nhập tâm và thu thập vốn từ.
Giai đoạn thứ tư: Trẻ thực hành nói bằng cách mô phỏng theo âm thanh mà chúng nghe thấy- Đây là giai đoạn trẻ nói thụ động/ bắt chước/nói theo.
Giai đoạn thứ năm: Trẻ chủ động tạo ra âm thanh lời nói, chủ động giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ.
Như vậy, để học được tiếng mẹ đẻ, trẻ phải trải qua 5 giai đoạn bao gồm: nghe – hiểu- tích lũy vốn từ - bắt chước- nói được.
Để trẻ có thể nói được một thứ tiếng nào đó, cần dạy trẻ nói theo từng bước thích hợp với lứa tuổi vàphải đặt trẻ trong môi trường giao tiếp bằng ngôn ngữ đó thường xuyên, liê tục.

Cách học TMĐ của trẻ.
Học qua quá trình giao tiếp hàng ngày, qua việc thực hành các kĩ năng nghe – nói- đọc- viết.
Học thông qua các trò chơi phát triển ngôn ngữ;
Học thông qua các hoạt động trong gia đình, ngoài xã hội
Học thông qua các môn học trong nhà trường.
Sử dụng kiến thức –kĩ năng tiếng mẹ đẻ của trẻ để dạy học tiếng Việt
Việc dạy học ngôn ngữ 2 đối với học sinh dân tộc thiểu số cần dựa trên ki
 
Gửi ý kiến