Tuần 10. Ca dao hài hước

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Võ Thị Ngọc Bích
Ngày gửi: 12h:12' 04-10-2015
Dung lượng: 33.9 KB
Số lượt tải: 266
Nguồn:
Người gửi: Võ Thị Ngọc Bích
Ngày gửi: 12h:12' 04-10-2015
Dung lượng: 33.9 KB
Số lượt tải: 266
Số lượt thích:
0 người
Tiết 29 Ngày soạn: 30/09/2015
CA DAO HÀI HƯỚC
I. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT
Giúp học sinh:
- Cảm nhận được tiếng cười lạc quan yêu đời của người bình dân trong xã hội xưa;
- Thấy được nghệ thuật trào lộng thông minh, hóm hỉnh trong các bài ca dao hài hước
II. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC KỸ NĂNG
Kiến thức:
Tâm hồn lạc quan yêu đời và triết lí nhân sinh lành mạnh của người lao động Việt Nam ngày xưa được thể hiện bằng nghệ thuật trào lộng thông minh, hóm hỉnh.
Kỹ năng:
Tiếp tục rèn luyện kỹ năng tiếp cận và phân tích ca dao
Phương tiện:
SGK, SGV, Giáo án, máy chiếu, chuẩn kiến thức kỹ năng
C. NỘI DUNG LÊN LỚP :
1. Kiểm tra bài cũ ( 0 phút) :
2. Bài mới (43 phút):
Sự hài hước của nhân dân không chỉ được thể hiện xuất sắc trong các tác phẩm tự sự. Nhiều khi để trải lòng, tác giả dân gian đã lựa chọn hình thức trữ tình để thể hiện mình. Cũng bật lên tiếng cười, nhưng ca dao lại đem đến cho người đọc, người nghe một cảm xúc mới mẻ. Chúng ta sẽ đi tìm kiếm cảm xúc đó qua bài học hôm nay.
Hoạt động của GV và HS
Nội dung cần đạt
Hoạt động 1:Tạo tâm thế tiếp nhận cho học sinh(3 phút)
Các em biết gì về ca dao hài hước?
- HS trả lời (tuỳ theo hiểu biết)
- GV diễn giảng: Trong kho tàng ca dao văn học dân gian Việt Nam, ca dao hài hước có số lượng đồ sộ và chiếm một vị trí quan trọng thể hiện tâm hồn yêu đời, lạc quan của người bình dân xưa. Các nhà nghiên cứu văn học dân gian dựa vào nội dung đã chia ca dao hài hước thành hai loại, đó là ca dao tự trào và ca dao châm biếm.
Vậy em hiểu thế nào là ca dao tự trào? Thế nào là ca dao châm biếm?
- HS phát biểu
- GV chốt:
Ca dao tự trào: là những bài ca dao vang lên tiếng tự cười bản thân mình, cười hoàn cảnh của mình…
Ca dao châm biếm: dùng lời lẽ sắc sảo thâm thúy để phê phán, chê bai, chế diễu những thói tật xấu, những kiểu người xấu trong xã hội.
Hoạt động 2: Đọc, tóm tắt(2 phút)
- HS đọc toàn bộ VB (giọng vui, hóm hỉnh)
- GV nhận xét:
Theo các em bài nào là ca dao tự trào, bài nào là ca dao châm biếm?
- GV: Hướng dẫn các bài cần học (bài 1,2)
Vì thời gian có hạn nên tiết học hôm nay cô và các em sẽ cùng nhau tìm hiểu bài 1, bài 2. Còn bài 3 và bài 4 thì về nhà các bạn tìm hiểu thêm.
Hoạt động 3: Phân tích cắt nghĩa văn bản
GV cho HS đọc lại bài 1: 1 nam – 1 nữ (giọng vui, hóm hỉnh, lạc quan)(2 phút)
Về hình thức kêt cấu, bài ca dao có gì đáng lưu ý?
GV bình: Hình thức đối đáp được thể hiện rất nhiều trong ca dao. Nhất là trong những cuộc vui đùa hay hát giao duyên trai gái. Ở đây, lời hát cất lên như trong chặng hát cưới của dân ca. Theo tục lệ của người Việt, cưới xin không thể thiếu sính lễ dẫn cưới.
-HS thảo luận nhóm:
+ Hình thức: chia lớp thành 6 nhóm, mỗi nhóm 8-9 học sinh thảo luận trong 3-5 phút sau đó cử đại diện trình bày, các nhóm còn lại nhận xét, bổ sung. GV phát phiếu thảo luận có câu hỏi gợi dẫn.
+ Nội dung:
Nhóm 1, 3, 5: Lời dẫn cưới của chàng trai.
Em thấy việc dẫn cưới của chàng trai có gì đặc biệt?Em nhận xét về những lễ vật trong dự kiến và lý do huỷ lễ vật đó?
GV diễn giảng: Cách lập luận của anh dù suy diễn hài hước nhưng có lí, rất thuyết phục… chứng tỏ anh là người đứng đắn, cẩn trọng, chỉn chu, biết lo xa, biết nghĩ đến người khác, biết cách ứng xử. Với những lí do đó, chàng trai thông minh và bản lĩnh đã tìm ra giải pháp tuyệt vời để hủy bỏ dự định to tát của mình.
Vậy quyết định cuối cùng của chàng trai trong việc chọn lựa sính lễ là gì?
Tiếng cười bật lên ở đây nhờ yếu tố nghệ thuật nào?
GV bình: Bằng lối nói khoa trương, tác giả dân gian tưởng tượng ra một đám cưới linh đình… sau đó tiệm thoái, đối lập, giảm dần, chàng trai đi đến quyết định: “
CA DAO HÀI HƯỚC
I. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT
Giúp học sinh:
- Cảm nhận được tiếng cười lạc quan yêu đời của người bình dân trong xã hội xưa;
- Thấy được nghệ thuật trào lộng thông minh, hóm hỉnh trong các bài ca dao hài hước
II. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC KỸ NĂNG
Kiến thức:
Tâm hồn lạc quan yêu đời và triết lí nhân sinh lành mạnh của người lao động Việt Nam ngày xưa được thể hiện bằng nghệ thuật trào lộng thông minh, hóm hỉnh.
Kỹ năng:
Tiếp tục rèn luyện kỹ năng tiếp cận và phân tích ca dao
Phương tiện:
SGK, SGV, Giáo án, máy chiếu, chuẩn kiến thức kỹ năng
C. NỘI DUNG LÊN LỚP :
1. Kiểm tra bài cũ ( 0 phút) :
2. Bài mới (43 phút):
Sự hài hước của nhân dân không chỉ được thể hiện xuất sắc trong các tác phẩm tự sự. Nhiều khi để trải lòng, tác giả dân gian đã lựa chọn hình thức trữ tình để thể hiện mình. Cũng bật lên tiếng cười, nhưng ca dao lại đem đến cho người đọc, người nghe một cảm xúc mới mẻ. Chúng ta sẽ đi tìm kiếm cảm xúc đó qua bài học hôm nay.
Hoạt động của GV và HS
Nội dung cần đạt
Hoạt động 1:Tạo tâm thế tiếp nhận cho học sinh(3 phút)
Các em biết gì về ca dao hài hước?
- HS trả lời (tuỳ theo hiểu biết)
- GV diễn giảng: Trong kho tàng ca dao văn học dân gian Việt Nam, ca dao hài hước có số lượng đồ sộ và chiếm một vị trí quan trọng thể hiện tâm hồn yêu đời, lạc quan của người bình dân xưa. Các nhà nghiên cứu văn học dân gian dựa vào nội dung đã chia ca dao hài hước thành hai loại, đó là ca dao tự trào và ca dao châm biếm.
Vậy em hiểu thế nào là ca dao tự trào? Thế nào là ca dao châm biếm?
- HS phát biểu
- GV chốt:
Ca dao tự trào: là những bài ca dao vang lên tiếng tự cười bản thân mình, cười hoàn cảnh của mình…
Ca dao châm biếm: dùng lời lẽ sắc sảo thâm thúy để phê phán, chê bai, chế diễu những thói tật xấu, những kiểu người xấu trong xã hội.
Hoạt động 2: Đọc, tóm tắt(2 phút)
- HS đọc toàn bộ VB (giọng vui, hóm hỉnh)
- GV nhận xét:
Theo các em bài nào là ca dao tự trào, bài nào là ca dao châm biếm?
- GV: Hướng dẫn các bài cần học (bài 1,2)
Vì thời gian có hạn nên tiết học hôm nay cô và các em sẽ cùng nhau tìm hiểu bài 1, bài 2. Còn bài 3 và bài 4 thì về nhà các bạn tìm hiểu thêm.
Hoạt động 3: Phân tích cắt nghĩa văn bản
GV cho HS đọc lại bài 1: 1 nam – 1 nữ (giọng vui, hóm hỉnh, lạc quan)(2 phút)
Về hình thức kêt cấu, bài ca dao có gì đáng lưu ý?
GV bình: Hình thức đối đáp được thể hiện rất nhiều trong ca dao. Nhất là trong những cuộc vui đùa hay hát giao duyên trai gái. Ở đây, lời hát cất lên như trong chặng hát cưới của dân ca. Theo tục lệ của người Việt, cưới xin không thể thiếu sính lễ dẫn cưới.
-HS thảo luận nhóm:
+ Hình thức: chia lớp thành 6 nhóm, mỗi nhóm 8-9 học sinh thảo luận trong 3-5 phút sau đó cử đại diện trình bày, các nhóm còn lại nhận xét, bổ sung. GV phát phiếu thảo luận có câu hỏi gợi dẫn.
+ Nội dung:
Nhóm 1, 3, 5: Lời dẫn cưới của chàng trai.
Em thấy việc dẫn cưới của chàng trai có gì đặc biệt?Em nhận xét về những lễ vật trong dự kiến và lý do huỷ lễ vật đó?
GV diễn giảng: Cách lập luận của anh dù suy diễn hài hước nhưng có lí, rất thuyết phục… chứng tỏ anh là người đứng đắn, cẩn trọng, chỉn chu, biết lo xa, biết nghĩ đến người khác, biết cách ứng xử. Với những lí do đó, chàng trai thông minh và bản lĩnh đã tìm ra giải pháp tuyệt vời để hủy bỏ dự định to tát của mình.
Vậy quyết định cuối cùng của chàng trai trong việc chọn lựa sính lễ là gì?
Tiếng cười bật lên ở đây nhờ yếu tố nghệ thuật nào?
GV bình: Bằng lối nói khoa trương, tác giả dân gian tưởng tượng ra một đám cưới linh đình… sau đó tiệm thoái, đối lập, giảm dần, chàng trai đi đến quyết định: “
 









Các ý kiến mới nhất