báo cao giai phap

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Võ Thị Như Nguyệt
Ngày gửi: 14h:17' 24-03-2026
Dung lượng: 4.1 MB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Võ Thị Như Nguyệt
Ngày gửi: 14h:17' 24-03-2026
Dung lượng: 4.1 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
UBND HUYỆN TÂN HỒNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG TIỂU HỌC THÔNG BÌNH 2
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BÁO CÁO GIẢI PHÁP
GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY
___________________________
A. Sơ lược lý lịch
Họ và tên: VÕ THỊ NHƯ NGUYỆT
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường Tiểu học Thông Bình 2
Tên giải pháp:
“ Một số giải pháp rèn luyện kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ thông qua dạy học môn
đạo đức cho học sinh lớp 2A1 Trường Tiểu học Thông Bình 2”.
B. Nội dung
I. Thực trạng và nguyên nhân
1. Thực trạng
Trường Tiểu học Thông Bình 2 là một trong những trường vùng sâu của huyện
Tân Hồng. Đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn học sinh đa số ít được trải
nghiệm, ít được đi đến những nơi công cộng, khu vui chơi dẫn đến kỹ năng tìm kiếm
sự hỗ trợ của các em còn gặp không ít khó khăn.
Các em chưa được giáo dục tốt kỹ năng sống cơ bản để xử lý tốt một số tình
huống khó khăn mà xã hội mang đến. Nhiều trẻ em cha mẹ đi làm phải ở nhà một
mình phải tự đi học hoặc trường hợp khi các em bị dụ dỗ, bạo hành hoặc gặp khó khăn
hàng ngày mà không biết tìm sự hỗ trợ.
Năm học 2023- 2024 tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 2A1 có 28
học sinh. Qua phiếu thăm dò ý kiến vào tháng 9/2023 tôi nhận thấy kỹ năng tìm kiếm
sự hỗ trợ của các em còn rất hạn chế.
Trước những thực trạng nêu trên tôi tiến hành thu thập các kỹ năng mà học sinh
biết tìm kiếm sự hỗ trợ. Qua đó tôi đánh giá được hiệu quả như sau:
Số liệu đánh giá kĩ năng Tìm kiếm sự hỗ trợ của học sinh của học sinh lớp 2A1
Tổng
số HS
Học sinh có khả năng tìm
kiếm tốt sự hỗ trợ
Học sinh có khả năng Học sinh còn hạn chế
tìm kiếm được sự hỗ khả năng tìm kiếm sự
trợ
hỗ trợ
28
Số lượng học
Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
sinh
học sinh
học sinh
8
28,6
9
32,1
11
39,3
- Qua việc thu thập tôi nhận thấy rằng 2A1 còn 11 em chưa có kỹ năng tìm kiếm sự hỗ
trợ từ người thân thầy cô, bạn bè và những người xung quanh. Chiếm tỉ lệ 39,3 %.
2. Nguyên nhân
- Học sinh chưa xác định được mức độ nguy hiểm của một số tình huống xảy ra với
2
bản thân ở nhà, trên đường đi học, ở trường và ở nơi công cộng.
- Học sinh thiếu kiến thức kỹ năng sống, chưa biết tìm kiếm sự hỗ trợ từ những
người xung quanh.
- Học sinh còn rụt rè nhút nhát và thiếu tự tin, còn phụ thuộc vào người lớn khi gặp
vấn đề các em chưa có kỹ năng giải quyết vấn đề khó khăn của bản thân.
- Cha mẹ học sinh quá yêu thương bao bọc các em nhưng chưa dạy cho các em kỉ
năng đối phó với một số tình huống nguy hiểm.
II. Giải pháp đã thực hiện:
1. Giúp học sinh có kỹ năng xác định mức độ nguy hiểm trong một số tình huống
cụ thể trong cuộc sống.
1.1 Mức độ nguy hiểm khi ở nhà một mình.
Tình huống: Bạn An đang ở nhà xem ti vi và đang sử dụng quạt điện thì bạn chợt
thấy ổ điện xẹt lửa và quạt tắt. Nếu em là An em sẽ làm như thế nào?
GV yêu cầu học sinh thảo luận theo nhóm và đưa ra hướng giải quyết.
Ở trường hợp này chắc chắn các em sẽ đưa ra nhiều hướng giải quyết khác nhau
như:
- Tự rút chui điện
- Chỉnh lại chui điện
- Tắt cầu dao điện…
Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh cách giải quyết bằng cách tìm người lớn
hỗ trợ giúp đỡ các em không tự ý rút chui điện hoặc chạm vào công tắt điện.
1.2 Mức độ nguy hiểm khi trên đường các em đi học hoặc ở trường.
Tình huống : Bạn An đang trên đường đi học thì gặp một người lạ đưa cho 50
nghìn và rủ đi mua đồ chơi. Trong tình huống này nếu em là An em sẽ làm như thế
nào?
GV yêu cầu học sinh thảo luận theo nhóm và đưa ra hướng giải quyết.
Ở tình huống này thì chắc chắn các em cũng sẽ thảo luận và đưa ra nhiều hướng
giải quyết khác nhau ví dụ như:
- Sợ quá bỏ chạy.
- Nhận tiền nhưng không đi cùng
- Nhận tiền rồi nói với thầy cô.
- Không nhận tiền và về nhà nói với người quen gần đó.
Ở tình huống này giáo viên hướng dẫn cho học sinh không nhận quà từ người lạ
và tìm ngay sự hỗ trợ từ người lớn ở gần hoặc đến trường nói ngay với thầy cô không
được sợ sệt mà giữ im lặng.
1.3 Mức độ nguy hiểm khi các em ở nơi công cộng.
Tình huống: Khi bạn An đi vào khu vui mua sắm siêu thị vì quá ham một món đồ
chơi nên bạn mãi ngắm và đã bị lạc cha mẹ. Tiếp sau đó có một chú ở gần đó nói là
3
chú đã thấy ba mẹ. Cháu đi theo chú, chú sẽ dẫn cháu đến chỗ ba mẹ. Nếu em là An
em sẽ làm thế nào?
GV yêu cầu học sinh thảo luận theo nhóm và đưa ra hướng giải quyết.
Trong tình huống này thì các em vẫn tiếp tục thảo luận và tìm ra hướng giải
quyết. Các em có thể đưa ra nhiều hướng giải quyết như:
- Đứng tại chỗ đợi cha mẹ đến.
- Đi theo chú lạ
- Đứng tại chỗ khóc
- Tìm người xung quanh giúp đỡ
- Tìm chú bảo vệ
Ở tình huống này thì giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh tìm kiếm sự hỗ trợ từ
chú bảo vệ là những người mặc áo màu xanh thường đứng ở cổng ra vào nơi mua sắm.
Các em không nên tự ý đi theo những người lạ.
Tóm lại: Ở giải pháp này giáo viên giáo viên dùng Video minh họa: dùng AI nêu
tình huống, giáo viên tổ chức thực hiện dạy ở lớp để giúp cho HS giải quyết tình
huống. ( Sử dụng phương pháp dạy học thông qua giao tiếp)
Yêu cầu học sinh tự do thảo luận nhằm giúp cho học sinh nhận biết được một số
sự việc xảy ra các em cần phải biết tìm người hỗ trợ xung quanh chứ không thể tự bản
thân giải quyết được.
2. Giúp học sinh cập nhật kiến thức xã hội để rèn kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ từ
những người xung quanh để giải quyết một số tình huống cụ thể thường gặp.
Để giúp học sinh cập nhật kiến thức xã hội và rèn luyện kỹ năng tìm kiếm sự hỗ
trợ tôi tiến hành xây dựng và tổ chức hoạt động trải nghiệm. Hoạt động trải nghiệm
của giáo viên cần phải linh hoạt và sáng tạo, phù hợp với mục tiêu, nội dung học tập,
đặc điểm học sinh và các điều kiện khách quan, chủ quan khác. Khuyến khích lôi cuốn
học sinh tham gia vào việc xây dựng chủ đề.
Có nhiều loại hoạt động trải nghiệm khác nhau như trong lớp và ngoài lớp. Khi
thực hiện xây dựng hoạt động, giáo viên cần đảm bảo các yêu cầu chung, tùy vào mục
tiêu nhưng phải lựa chọn phương pháp và hình thức linh hoạt, sáng tạo, tránh máy
móc, rập khuôn.
Ví dụ: Tôi sẽ xây dựng hoạt động trải nghiệm trong hoạt động vận dụng của bài
“Tìm kiếm sự hỗ trợ ở nơi công cộng”
Tên bài: Tìm kiếm sự hỗ trợ khi ở nơi công cộng
TÌM KIẾM SỰ HỖ TRỢ
Hồi tưởng
a) Hãy hồi tưởng lại xem trong quá khứ
4
Em đã có khi nào gặp khó khăn và phải nhờ đến sự hỗ trợ, giúp đỡ của ai chưa?
Đó là tình huống như thế nào?
Em đã nhờ ai giúp đỡ?
Họ có giúp em không? Giúp em như thế nào?
Kể lại trước lớp.
Em vẽ “Bàn tay tin cậy” của mình bằng cách:
+ Xòe bàn tay đặt úp lên giấy A4 rồi dùng bút chì vẽ theo bàn tay đó.
+ Viết về một khó khăn mà em đã trải qua trong quá khứ vào giữa hình bàn tay.
Ví dụ: Em bị ốm, phải nghỉ học; Em bị bạn bắt nạt;…
+ Trên mỗi hình ngón tay, hãy ghi tên một người thân đã giúp em giải quyết khó
khăn đó. Ví dụ: bố, mẹ, cô giáo, bạn Hưng, bác Lan hàng xóm,
+ Chia sẻ hình “Bàn tay tin cậy” của mình với bạn.
Ảnh thảo luận nhóm vẽ bàn tay tin cậy
Một môi trường học tập phù hợp với cách thức tổ chức dạy học của môn Đạo Đức trong
việc giáo dục kĩ năng tự bảo vệ sẽ phát triển tối đa năng lực, đem lại cho học sinh sự hứng
5
thú, khả năng tư duy sáng tạo, tưởng tượng.
Để đảm bảo môi trường học tập sáng tạo tự tin cho học sinh cần thực hiện theo các
bước:
Bước 1: Tìm hiểu về điều kiện tổ chức môi trường: Môi trường tổ chức hoạt động
cần phong phú, đa dạng và chứa đựng các thách thức đối với học sinh.
Bước 2: Tìm hiểu về bầu không khí tâm lý trong tập thể hoạt động: Đó là một môi
trường cho sự tự do tư tưởng, tự do tranh luận, khuyến khích việc nảy sinh ý tưởng
thông qua hoạt động tương tác giữa các cá nhân với nhau diễn ra trong quá trình học
tập làm việc cùng nhau.
Bước 3: Khảo sát tính thống nhất giữa việc vạch kế hoạch tổ chức môi trường
thuận lợi và việc thực hiện triển khai kế hoach tổ chức môi trường thuận lợi ở nhà
trường, lớp học.
Bước 4: Đánh giá phong cách thể hiện ý tưởng của học sinh thông qua môi trường
sáng tạo.
Ví dụ:
Tôi xây dựng hoạt động trải nghiệm trong hoạt động vận dụng của bài “Tìm kiếm
sự hỗ trợ ở nhà, ở trường”
Tên bài: Tìm kiếm sự hỗ trợ ở nơi công cộng
Phương pháp: phương pháp báo cáo.
Hình thức: nhóm.
Cách tiến hành:
- Giáo viên tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động học tập môn Đạo đức ở ngoài sân
trường.
- Giáo viên chia lớp thành các nhóm để thảo luận và thực hiện các nhiệm vụ giáo viên
đưa ra:
+ Tìm kiếm các mối nguy hiểm nơi công cộng, trường học…
+ Tạo tình huống liên quan đến một trong các mối nguy hiểm mà nhóm đã tìm được
và đóng vai giải quyết tình huống đó.
- Nhóm báo cáo về những gì nhóm đã thu thập được.
- Nhóm khác nhận xét.
- Nhóm sắm vai xử lí tình huống nhóm đã đưa ra.
- Giáo viên nhận xét hoạt động và bổ sung.
- Giáo viên tổng kết và tổ chức cho học sinh đóng vai.
6
Cách tiến hành
Bước 1: Chia nhóm để đóng vai
Bước 2: Nêu tình huống xử lí
Bước 3: Cho học sinh thảo luận và giáo viên quan sát hổ trợ nếu cần
Bước 4: Tổ chức sắm vai
Bước 5: Cho học sinh nhận xét, trao đổi
Bước 6: Giáo viên nhận xét, bổ sung và đánh giá
Ảnh đóng vai xử lí tình huống.
Học sinh tham gia hoạt động học tập
môn Đạo đức ở ngoài sân trường.
3. Vận dụng công nghệ AI giúp học sinh tự tin giải quyết vấn đề khi gặp khó
khăn và tạo hứng thú cho học sinh bằng cách xây dựng và giải quyết tình huống
kết hợp sử dụng phần mềm Beeclass.
Để giúp học sinh tự tin giải quyết vấn đề khi gặp khó khăn thì giáo viên cần phải tạo được
sự thoải mái tự tin cho tất cả các học sinh. Các học sinh có thể tham gia và ham thích các
hoạt động dạy học được giáo viên tổ chức như: thực hành sắm vai, suy nghĩ, thảo luận, trao
đổi, trình bày bằng lời nói hay viết.
Mục tiêu của giải pháp là xây dựng một môi trường học tập đa dạng giúp học sinh
tự tin. Học sinh có thể tương tác với nội dung học tập một cách sinh động và trực diện
hơn. Nội dung học tập thông qua các hình thức đa phương tiện như âm thanh, hình
ảnh và đọc giọng nói. Sự kết hợp giữa âm thanh và hình ảnh với nội dung giúp tạo ra
biểu tượng sâu sắc, từ đó cung cấp khả năng ghi nhớ trong thời hạn. Hơn nữa, các giác
quan của học sinh được kích thích cùng lúc, đặc biệt là thính giác và thị giác, tạo việc
làm học trở nên hấp dẫn, giúp các em dễ dàng nắm bắt kiến thức.
7
Ngoài ra để tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học đạo đức thì tôi kết hợp sử
dụng phần mềm Beeclass trên trang wed để gọi học sinh sắm vai và giải quyết tình
huống. https://beeclass.net/
Ví dụ: Sử dụng AI để mô phỏng tình huống học sinh ở nhà một mình Sách giáo
khoa Đạo đức lớp 2 trang 47. AI đưa ra các câu hỏi và tình huống, học sinh phải đưa
ra quyết định. Phương pháp này giúp học sinh trải nghiệm và học cách xử lý tình
huống một cách an toàn trong môi trường ảo. Nó cũng giúp phát triển kỹ năng quan
sát, nghe hiểu và tư duy sáng tạo của học sinh. Ngoài ra để tạo hứng thú cho học sinh
trong giờ học đạo đức thì tôi kết hợp sử dụng phần mềm BeeClass trên trang wed để
gọi học sinh sắm vai và giải quyết tình huống
Hình ảnh chatbox được tạo ra từ công
nghệ AI
Phần mềm BeeClass
4. Tăng cường sự tương tác giữa nhà trường và gia đình để rèn luyện cho học sinh
kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ.
Tôi luôn thường xuyên liên lạc với cha mẹ học sinh để trao đổi những vấn đề
liên quan đến rèn luyện kĩ năng cho học sinh.
Gia đình, nhà trường và xã hội luôn đồng hành sát cánh bên nhau trong việc
giáo dục học sinh vì thế có thể nói cha mẹ học sinh là một trong những lực lượng quan
trọng để giáo dục kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ cho học sinh.
Giáo viên gặp gỡ định kì, thường xuyên với cha mẹ của học sinh để trao đổi về
vấn đề giáo dục kĩ năng tự bảo vệ qua cuộc họp hoặc Zalo nhóm. Giáo viên sẽ lồng
ghép phiếu đánh giá để tương tác với phụ huynh về học sinh với nhiều vấn đề xã hội
đặc biệt là giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho các em. Bên cạnh đó giáo viên cũng gửi
những hình ảnh, thư khen các em để cha mẹ học sinh tương tác thường xuyên trên
8
nhóm.
III. Hiệu quả và khả năng áp dụng
1. Hiệu quả
Các giải pháp trên mang lại hiệu quả phù hợp với đặc điểm tâm lý của lứa tuổi học
sinh, đáp ứng đúng với nội dung khung chương trình môn Đạo Đức. Bên cạnh đó, tôi
cho rằng giải pháp này khá đơn giản, có nhiều tài liệu, dễ dàng tìm hiểu và có hướng
phát triển hiệu quả cho học sinh. Học sinh tiếp thu bài dễ dàng, hiệu quả, phát triển
năng lực học nhóm.
Đây là giải pháp tốt để có thể phát triển kĩ năng cho học sinh, giúp học sinh có
thêm những kiến thức để hình thành kĩ năng tự bảo vệ vừa giữ được truyền thống vừa
theo cách mới lạ và đơn giản hơn.
Để kiểm nghiệm tính khả thi, đúng đắn của giải pháp và đánh giá hiệu quả hình
thành kĩ năng tự bảo vệ cho học sinh thông qua các giải pháp, tôi tiến hành thực
nghiệm tại nơi tôi đang trực tiếp giảng dạy lớp 2A1 Trường Tiểu học Thông Bình 2
vào tháng 3/2024.
Sau quá trình thực hiện, áp dụng biên pháp tôi thu được kết quả khả quan như sau:
Số liệu đánh giá kĩ năng Tìm kiếm sự hỗ trợ của học sinh của học sinh lớp 2A1
Tổng số HS Học sinh có khả năng Học sinh có khả năng
Học sinh còn hạn
tìm kiếm tốt sự hỗ trợ tìm kiếm được sự hỗ
chế khả năng tìm
trợ
kiếm sự hỗ trợ
28
Số lượng
Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
học sinh
học sinh
học sinh
Trước khi
8
28,6
9
32,1
11
39,3
áp dụng
giải pháp
Sau khi áp
13
46,4
15
53,6
0
dụng giải
pháp
Qua phiếu thăm dò và so sánh giữa 2 lần khảo sát nêu trên tôi thấy học sinh tìm
kiếm sự hỗ trợ được đánh giá ở mức tốt tăng cao, học sinh còn hạn chế giảm xuống
đáng kể và tôi đã rút ra được kinh nghiệm trong công tác giảng dạy, áp dụng giải pháp
nghiên cứu vào việc giáo dục kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ trong dạy học.
2. Khả năng áp dụng
9
Giải pháp này có thể áp dụng cho tất cả thầy cô đang giảng dạy môn Đạo Đức ở
trường Tiểu học Thông Bình 2 và nhân rộng trên địa bàn huyện và trong tỉnh.
Tân Hồng, ngày 28 tháng 10 năm 2024
Người viết
Võ Thị Như Nguyệt
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG TIỂU HỌC THÔNG BÌNH 2
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BÁO CÁO GIẢI PHÁP
GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY
___________________________
A. Sơ lược lý lịch
Họ và tên: VÕ THỊ NHƯ NGUYỆT
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường Tiểu học Thông Bình 2
Tên giải pháp:
“ Một số giải pháp rèn luyện kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ thông qua dạy học môn
đạo đức cho học sinh lớp 2A1 Trường Tiểu học Thông Bình 2”.
B. Nội dung
I. Thực trạng và nguyên nhân
1. Thực trạng
Trường Tiểu học Thông Bình 2 là một trong những trường vùng sâu của huyện
Tân Hồng. Đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn học sinh đa số ít được trải
nghiệm, ít được đi đến những nơi công cộng, khu vui chơi dẫn đến kỹ năng tìm kiếm
sự hỗ trợ của các em còn gặp không ít khó khăn.
Các em chưa được giáo dục tốt kỹ năng sống cơ bản để xử lý tốt một số tình
huống khó khăn mà xã hội mang đến. Nhiều trẻ em cha mẹ đi làm phải ở nhà một
mình phải tự đi học hoặc trường hợp khi các em bị dụ dỗ, bạo hành hoặc gặp khó khăn
hàng ngày mà không biết tìm sự hỗ trợ.
Năm học 2023- 2024 tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 2A1 có 28
học sinh. Qua phiếu thăm dò ý kiến vào tháng 9/2023 tôi nhận thấy kỹ năng tìm kiếm
sự hỗ trợ của các em còn rất hạn chế.
Trước những thực trạng nêu trên tôi tiến hành thu thập các kỹ năng mà học sinh
biết tìm kiếm sự hỗ trợ. Qua đó tôi đánh giá được hiệu quả như sau:
Số liệu đánh giá kĩ năng Tìm kiếm sự hỗ trợ của học sinh của học sinh lớp 2A1
Tổng
số HS
Học sinh có khả năng tìm
kiếm tốt sự hỗ trợ
Học sinh có khả năng Học sinh còn hạn chế
tìm kiếm được sự hỗ khả năng tìm kiếm sự
trợ
hỗ trợ
28
Số lượng học
Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
sinh
học sinh
học sinh
8
28,6
9
32,1
11
39,3
- Qua việc thu thập tôi nhận thấy rằng 2A1 còn 11 em chưa có kỹ năng tìm kiếm sự hỗ
trợ từ người thân thầy cô, bạn bè và những người xung quanh. Chiếm tỉ lệ 39,3 %.
2. Nguyên nhân
- Học sinh chưa xác định được mức độ nguy hiểm của một số tình huống xảy ra với
2
bản thân ở nhà, trên đường đi học, ở trường và ở nơi công cộng.
- Học sinh thiếu kiến thức kỹ năng sống, chưa biết tìm kiếm sự hỗ trợ từ những
người xung quanh.
- Học sinh còn rụt rè nhút nhát và thiếu tự tin, còn phụ thuộc vào người lớn khi gặp
vấn đề các em chưa có kỹ năng giải quyết vấn đề khó khăn của bản thân.
- Cha mẹ học sinh quá yêu thương bao bọc các em nhưng chưa dạy cho các em kỉ
năng đối phó với một số tình huống nguy hiểm.
II. Giải pháp đã thực hiện:
1. Giúp học sinh có kỹ năng xác định mức độ nguy hiểm trong một số tình huống
cụ thể trong cuộc sống.
1.1 Mức độ nguy hiểm khi ở nhà một mình.
Tình huống: Bạn An đang ở nhà xem ti vi và đang sử dụng quạt điện thì bạn chợt
thấy ổ điện xẹt lửa và quạt tắt. Nếu em là An em sẽ làm như thế nào?
GV yêu cầu học sinh thảo luận theo nhóm và đưa ra hướng giải quyết.
Ở trường hợp này chắc chắn các em sẽ đưa ra nhiều hướng giải quyết khác nhau
như:
- Tự rút chui điện
- Chỉnh lại chui điện
- Tắt cầu dao điện…
Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh cách giải quyết bằng cách tìm người lớn
hỗ trợ giúp đỡ các em không tự ý rút chui điện hoặc chạm vào công tắt điện.
1.2 Mức độ nguy hiểm khi trên đường các em đi học hoặc ở trường.
Tình huống : Bạn An đang trên đường đi học thì gặp một người lạ đưa cho 50
nghìn và rủ đi mua đồ chơi. Trong tình huống này nếu em là An em sẽ làm như thế
nào?
GV yêu cầu học sinh thảo luận theo nhóm và đưa ra hướng giải quyết.
Ở tình huống này thì chắc chắn các em cũng sẽ thảo luận và đưa ra nhiều hướng
giải quyết khác nhau ví dụ như:
- Sợ quá bỏ chạy.
- Nhận tiền nhưng không đi cùng
- Nhận tiền rồi nói với thầy cô.
- Không nhận tiền và về nhà nói với người quen gần đó.
Ở tình huống này giáo viên hướng dẫn cho học sinh không nhận quà từ người lạ
và tìm ngay sự hỗ trợ từ người lớn ở gần hoặc đến trường nói ngay với thầy cô không
được sợ sệt mà giữ im lặng.
1.3 Mức độ nguy hiểm khi các em ở nơi công cộng.
Tình huống: Khi bạn An đi vào khu vui mua sắm siêu thị vì quá ham một món đồ
chơi nên bạn mãi ngắm và đã bị lạc cha mẹ. Tiếp sau đó có một chú ở gần đó nói là
3
chú đã thấy ba mẹ. Cháu đi theo chú, chú sẽ dẫn cháu đến chỗ ba mẹ. Nếu em là An
em sẽ làm thế nào?
GV yêu cầu học sinh thảo luận theo nhóm và đưa ra hướng giải quyết.
Trong tình huống này thì các em vẫn tiếp tục thảo luận và tìm ra hướng giải
quyết. Các em có thể đưa ra nhiều hướng giải quyết như:
- Đứng tại chỗ đợi cha mẹ đến.
- Đi theo chú lạ
- Đứng tại chỗ khóc
- Tìm người xung quanh giúp đỡ
- Tìm chú bảo vệ
Ở tình huống này thì giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh tìm kiếm sự hỗ trợ từ
chú bảo vệ là những người mặc áo màu xanh thường đứng ở cổng ra vào nơi mua sắm.
Các em không nên tự ý đi theo những người lạ.
Tóm lại: Ở giải pháp này giáo viên giáo viên dùng Video minh họa: dùng AI nêu
tình huống, giáo viên tổ chức thực hiện dạy ở lớp để giúp cho HS giải quyết tình
huống. ( Sử dụng phương pháp dạy học thông qua giao tiếp)
Yêu cầu học sinh tự do thảo luận nhằm giúp cho học sinh nhận biết được một số
sự việc xảy ra các em cần phải biết tìm người hỗ trợ xung quanh chứ không thể tự bản
thân giải quyết được.
2. Giúp học sinh cập nhật kiến thức xã hội để rèn kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ từ
những người xung quanh để giải quyết một số tình huống cụ thể thường gặp.
Để giúp học sinh cập nhật kiến thức xã hội và rèn luyện kỹ năng tìm kiếm sự hỗ
trợ tôi tiến hành xây dựng và tổ chức hoạt động trải nghiệm. Hoạt động trải nghiệm
của giáo viên cần phải linh hoạt và sáng tạo, phù hợp với mục tiêu, nội dung học tập,
đặc điểm học sinh và các điều kiện khách quan, chủ quan khác. Khuyến khích lôi cuốn
học sinh tham gia vào việc xây dựng chủ đề.
Có nhiều loại hoạt động trải nghiệm khác nhau như trong lớp và ngoài lớp. Khi
thực hiện xây dựng hoạt động, giáo viên cần đảm bảo các yêu cầu chung, tùy vào mục
tiêu nhưng phải lựa chọn phương pháp và hình thức linh hoạt, sáng tạo, tránh máy
móc, rập khuôn.
Ví dụ: Tôi sẽ xây dựng hoạt động trải nghiệm trong hoạt động vận dụng của bài
“Tìm kiếm sự hỗ trợ ở nơi công cộng”
Tên bài: Tìm kiếm sự hỗ trợ khi ở nơi công cộng
TÌM KIẾM SỰ HỖ TRỢ
Hồi tưởng
a) Hãy hồi tưởng lại xem trong quá khứ
4
Em đã có khi nào gặp khó khăn và phải nhờ đến sự hỗ trợ, giúp đỡ của ai chưa?
Đó là tình huống như thế nào?
Em đã nhờ ai giúp đỡ?
Họ có giúp em không? Giúp em như thế nào?
Kể lại trước lớp.
Em vẽ “Bàn tay tin cậy” của mình bằng cách:
+ Xòe bàn tay đặt úp lên giấy A4 rồi dùng bút chì vẽ theo bàn tay đó.
+ Viết về một khó khăn mà em đã trải qua trong quá khứ vào giữa hình bàn tay.
Ví dụ: Em bị ốm, phải nghỉ học; Em bị bạn bắt nạt;…
+ Trên mỗi hình ngón tay, hãy ghi tên một người thân đã giúp em giải quyết khó
khăn đó. Ví dụ: bố, mẹ, cô giáo, bạn Hưng, bác Lan hàng xóm,
+ Chia sẻ hình “Bàn tay tin cậy” của mình với bạn.
Ảnh thảo luận nhóm vẽ bàn tay tin cậy
Một môi trường học tập phù hợp với cách thức tổ chức dạy học của môn Đạo Đức trong
việc giáo dục kĩ năng tự bảo vệ sẽ phát triển tối đa năng lực, đem lại cho học sinh sự hứng
5
thú, khả năng tư duy sáng tạo, tưởng tượng.
Để đảm bảo môi trường học tập sáng tạo tự tin cho học sinh cần thực hiện theo các
bước:
Bước 1: Tìm hiểu về điều kiện tổ chức môi trường: Môi trường tổ chức hoạt động
cần phong phú, đa dạng và chứa đựng các thách thức đối với học sinh.
Bước 2: Tìm hiểu về bầu không khí tâm lý trong tập thể hoạt động: Đó là một môi
trường cho sự tự do tư tưởng, tự do tranh luận, khuyến khích việc nảy sinh ý tưởng
thông qua hoạt động tương tác giữa các cá nhân với nhau diễn ra trong quá trình học
tập làm việc cùng nhau.
Bước 3: Khảo sát tính thống nhất giữa việc vạch kế hoạch tổ chức môi trường
thuận lợi và việc thực hiện triển khai kế hoach tổ chức môi trường thuận lợi ở nhà
trường, lớp học.
Bước 4: Đánh giá phong cách thể hiện ý tưởng của học sinh thông qua môi trường
sáng tạo.
Ví dụ:
Tôi xây dựng hoạt động trải nghiệm trong hoạt động vận dụng của bài “Tìm kiếm
sự hỗ trợ ở nhà, ở trường”
Tên bài: Tìm kiếm sự hỗ trợ ở nơi công cộng
Phương pháp: phương pháp báo cáo.
Hình thức: nhóm.
Cách tiến hành:
- Giáo viên tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động học tập môn Đạo đức ở ngoài sân
trường.
- Giáo viên chia lớp thành các nhóm để thảo luận và thực hiện các nhiệm vụ giáo viên
đưa ra:
+ Tìm kiếm các mối nguy hiểm nơi công cộng, trường học…
+ Tạo tình huống liên quan đến một trong các mối nguy hiểm mà nhóm đã tìm được
và đóng vai giải quyết tình huống đó.
- Nhóm báo cáo về những gì nhóm đã thu thập được.
- Nhóm khác nhận xét.
- Nhóm sắm vai xử lí tình huống nhóm đã đưa ra.
- Giáo viên nhận xét hoạt động và bổ sung.
- Giáo viên tổng kết và tổ chức cho học sinh đóng vai.
6
Cách tiến hành
Bước 1: Chia nhóm để đóng vai
Bước 2: Nêu tình huống xử lí
Bước 3: Cho học sinh thảo luận và giáo viên quan sát hổ trợ nếu cần
Bước 4: Tổ chức sắm vai
Bước 5: Cho học sinh nhận xét, trao đổi
Bước 6: Giáo viên nhận xét, bổ sung và đánh giá
Ảnh đóng vai xử lí tình huống.
Học sinh tham gia hoạt động học tập
môn Đạo đức ở ngoài sân trường.
3. Vận dụng công nghệ AI giúp học sinh tự tin giải quyết vấn đề khi gặp khó
khăn và tạo hứng thú cho học sinh bằng cách xây dựng và giải quyết tình huống
kết hợp sử dụng phần mềm Beeclass.
Để giúp học sinh tự tin giải quyết vấn đề khi gặp khó khăn thì giáo viên cần phải tạo được
sự thoải mái tự tin cho tất cả các học sinh. Các học sinh có thể tham gia và ham thích các
hoạt động dạy học được giáo viên tổ chức như: thực hành sắm vai, suy nghĩ, thảo luận, trao
đổi, trình bày bằng lời nói hay viết.
Mục tiêu của giải pháp là xây dựng một môi trường học tập đa dạng giúp học sinh
tự tin. Học sinh có thể tương tác với nội dung học tập một cách sinh động và trực diện
hơn. Nội dung học tập thông qua các hình thức đa phương tiện như âm thanh, hình
ảnh và đọc giọng nói. Sự kết hợp giữa âm thanh và hình ảnh với nội dung giúp tạo ra
biểu tượng sâu sắc, từ đó cung cấp khả năng ghi nhớ trong thời hạn. Hơn nữa, các giác
quan của học sinh được kích thích cùng lúc, đặc biệt là thính giác và thị giác, tạo việc
làm học trở nên hấp dẫn, giúp các em dễ dàng nắm bắt kiến thức.
7
Ngoài ra để tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học đạo đức thì tôi kết hợp sử
dụng phần mềm Beeclass trên trang wed để gọi học sinh sắm vai và giải quyết tình
huống. https://beeclass.net/
Ví dụ: Sử dụng AI để mô phỏng tình huống học sinh ở nhà một mình Sách giáo
khoa Đạo đức lớp 2 trang 47. AI đưa ra các câu hỏi và tình huống, học sinh phải đưa
ra quyết định. Phương pháp này giúp học sinh trải nghiệm và học cách xử lý tình
huống một cách an toàn trong môi trường ảo. Nó cũng giúp phát triển kỹ năng quan
sát, nghe hiểu và tư duy sáng tạo của học sinh. Ngoài ra để tạo hứng thú cho học sinh
trong giờ học đạo đức thì tôi kết hợp sử dụng phần mềm BeeClass trên trang wed để
gọi học sinh sắm vai và giải quyết tình huống
Hình ảnh chatbox được tạo ra từ công
nghệ AI
Phần mềm BeeClass
4. Tăng cường sự tương tác giữa nhà trường và gia đình để rèn luyện cho học sinh
kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ.
Tôi luôn thường xuyên liên lạc với cha mẹ học sinh để trao đổi những vấn đề
liên quan đến rèn luyện kĩ năng cho học sinh.
Gia đình, nhà trường và xã hội luôn đồng hành sát cánh bên nhau trong việc
giáo dục học sinh vì thế có thể nói cha mẹ học sinh là một trong những lực lượng quan
trọng để giáo dục kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ cho học sinh.
Giáo viên gặp gỡ định kì, thường xuyên với cha mẹ của học sinh để trao đổi về
vấn đề giáo dục kĩ năng tự bảo vệ qua cuộc họp hoặc Zalo nhóm. Giáo viên sẽ lồng
ghép phiếu đánh giá để tương tác với phụ huynh về học sinh với nhiều vấn đề xã hội
đặc biệt là giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho các em. Bên cạnh đó giáo viên cũng gửi
những hình ảnh, thư khen các em để cha mẹ học sinh tương tác thường xuyên trên
8
nhóm.
III. Hiệu quả và khả năng áp dụng
1. Hiệu quả
Các giải pháp trên mang lại hiệu quả phù hợp với đặc điểm tâm lý của lứa tuổi học
sinh, đáp ứng đúng với nội dung khung chương trình môn Đạo Đức. Bên cạnh đó, tôi
cho rằng giải pháp này khá đơn giản, có nhiều tài liệu, dễ dàng tìm hiểu và có hướng
phát triển hiệu quả cho học sinh. Học sinh tiếp thu bài dễ dàng, hiệu quả, phát triển
năng lực học nhóm.
Đây là giải pháp tốt để có thể phát triển kĩ năng cho học sinh, giúp học sinh có
thêm những kiến thức để hình thành kĩ năng tự bảo vệ vừa giữ được truyền thống vừa
theo cách mới lạ và đơn giản hơn.
Để kiểm nghiệm tính khả thi, đúng đắn của giải pháp và đánh giá hiệu quả hình
thành kĩ năng tự bảo vệ cho học sinh thông qua các giải pháp, tôi tiến hành thực
nghiệm tại nơi tôi đang trực tiếp giảng dạy lớp 2A1 Trường Tiểu học Thông Bình 2
vào tháng 3/2024.
Sau quá trình thực hiện, áp dụng biên pháp tôi thu được kết quả khả quan như sau:
Số liệu đánh giá kĩ năng Tìm kiếm sự hỗ trợ của học sinh của học sinh lớp 2A1
Tổng số HS Học sinh có khả năng Học sinh có khả năng
Học sinh còn hạn
tìm kiếm tốt sự hỗ trợ tìm kiếm được sự hỗ
chế khả năng tìm
trợ
kiếm sự hỗ trợ
28
Số lượng
Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
học sinh
học sinh
học sinh
Trước khi
8
28,6
9
32,1
11
39,3
áp dụng
giải pháp
Sau khi áp
13
46,4
15
53,6
0
dụng giải
pháp
Qua phiếu thăm dò và so sánh giữa 2 lần khảo sát nêu trên tôi thấy học sinh tìm
kiếm sự hỗ trợ được đánh giá ở mức tốt tăng cao, học sinh còn hạn chế giảm xuống
đáng kể và tôi đã rút ra được kinh nghiệm trong công tác giảng dạy, áp dụng giải pháp
nghiên cứu vào việc giáo dục kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ trong dạy học.
2. Khả năng áp dụng
9
Giải pháp này có thể áp dụng cho tất cả thầy cô đang giảng dạy môn Đạo Đức ở
trường Tiểu học Thông Bình 2 và nhân rộng trên địa bàn huyện và trong tỉnh.
Tân Hồng, ngày 28 tháng 10 năm 2024
Người viết
Võ Thị Như Nguyệt
 








Các ý kiến mới nhất