Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

skkn vật lí 11

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Trọng Kỳ Anh
Ngày gửi: 14h:34' 20-03-2026
Dung lượng: 110.0 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích: 0 người
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi:...........................................................................
1. Tôi:

STT

Họ và tên

1

Trần Minh Trung

Ngày,
tháng,
năm sinh

Nơi công tác
(hoặc nơi
thường trú)

Chức
danh

Trường THPT Giáo viên
Tứ Kiệt

Trình độ
chuyên
môn

Tỷ lệ
(%)
đóng
góp
100%

2. Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: “Vận dụng giáo dục STEM vào dạy
học môn Vật lý lớp 11”.
3. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường THPT Tứ Kiệt
4. Lĩnh vực áp dụng giải pháp: Giáo dục và Đào tạo.
5. Ngày giải pháp được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:
+ Áp dụng thử: 12/2022.
+ Áp dụng chính thức: 12/2023.
6. Mô tả bản chất sáng kiến
6.1. Tình trạng của giải pháp đã biết trước đó:
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI
Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, toàn ngành giáo dục đang ra sức nỗ lực
thực hiện nhằm nâng cao chất lượng của nền giáo dục nước nhà. Trong đó mỗi một
1

giáo viên đóng một vai trò then chốt cho sự phát triển đó, là một giáo viên THPT tôi
vẫn rất trăn trở để tìm giải pháp đổi mới nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của giáo
dục đất nước. Khoa học tự nhiên nói chung, môn Vật lý nói riêng ngày càng đóng vai
trò rất lớn trong nền kinh tế của thời đại công nghệ. Tuy nhiên làm thế nào để thu hút
được các em yêu thích và lựa chọn môn học này lại gặp nhiều khó khăn bởi đặc thù
của các bộ môn tự nhiên là cần các kĩ năng tính toán và tư duy logic nên đa số các em
rất ngại học nếu không có phương pháp dạy học phù hợp. Mặc dù cũng đã tăng thời
lượng các tiết thực hành, luyện tập nhưng vẫn chủ yếu các hoạt động trong phạm vi
không gian trường học, do vậy năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế còn rất hạn
chế. Đồng thời phương pháp dạy học truyền thống còn nặng về kiến thức lí thuyết
hàn lâm chưa kích thích các em tham gia nghiên cứu, học tập hiệu quả, khả năng thực
hành trải nghiệm lại còn rất yếu. Giáo dục hiện nay còn cần hướng tới học sinh phải
có khả năng vận dụng kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề phức tạp trong
cuộc sống.
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ảnh hưởng sâu rộng vào mọi mặt đời sống,
xã hội, giáo dục cũng không ngoại lệ. Vì thế đòi hỏi giáo viên phải thay đổi phương
pháp, học sinh phải thay đổi cách học. Do vậy, vai trò của giáo viên phải chuyển đổi
từ “dạy cái gì”, “điều gì” sang dạy cho học sinh “phải làm gì” và “làm như thế nào”.
Về sách giáo khoa
Thứ nhất, trong sách giáo khoa hiện hành còn nặng nhiều về lý thuyết, tính
toán, nhiều bài thực hành trùng lặp, không thực tế và xa vời với thực tiễn. Nội dung
Vật lý gắn với các vấn đề thực tiễn còn ít, đặc biệt khả năng vận dụng kiến thức đó
vào thực tiễn hầu như không có – trong khi đó Vật lý là bộ môn gần gũi nhất với các
vấn đề thực tiễn. Sách giáo khoa xuất hiện các bài tập thực tiễn nhưng số lượng còn
rất ít so với kiến thức thực tế mà các em được học.
Thứ hai, tính giáo dục của môn Vật lý thông qua lượng bài tập thực tế trong
sách giáo khoa cũng chưa thực sự nổi bật.

2

Thứ ba, những thông tin khoa học mới và những vấn đề mang tính thời sự có
liên quan đến bộ môn không được cập nhật kịp thời vào chương trình. Điều đó làm
cho ý nghĩa của việc học trở nên kém hứng thú và khó thuyết phục học sinh.
Về tài liệu tham khảo
Hiện nay do yêu cầu đổi mới thi cử nên những tài liệu về các bài tập Vật lý ứng
dụng thực tế khá nhiều, tuy nhiên những tài liệu đó còn rời rạc chưa được hệ thống và
phân loại chi tiết. Hầu hết các tài liệu chỉ đưa ra các bài tập (thường được trích dẫn
trong các đề thi thử) mà chưa có sự phân tích, thiết kế vào các bài giảng cụ thể, gây
khó khăn cho giáo viên khi tham khảo và vận dụng.
Về giáo viên và học sinh
- Ưu điểm: Trong những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học môn
Vật lý ở trường THPT đã có một số chuyển biến tích cực. Trong mỗi tiết dạy, giáo
viên đã quan tâm đến việc chuyển từ học tập một chiều, thụ động sang học tập chủ
động. Chú trọng năng lực thực hành cho HS. Các hình thức dạy học tích cực đã được
vận dụng làm cho việc học tập HS trở nên hứng thú hơn. Đồng thời với sự phát triển
mạnh mẽ của công nghệ thông tin được áp dụng vào quá trình dạy học, việc học của
HS thuận lợi rất nhiều, tạo điều kiện để HS có thể tự mình khám phá tri thức mới theo
nhiều cách khác nhau chứ không phụ thuộc quá nhiều vào GV.
- Hạn chế: Năng lực của GV trong việc tiếp cận với chương trình đổi mới
phương pháp dạy học ở các trường và các địa phương không đồng đều, một số GV
chưa thực hiện đổi mới phương pháp giáo dục, giảng dạy do chưa quan tâm đến quá
trình đổi mới, cải cách của Bộ giáo dục. Phương pháp dạy học của nhiều GV còn
thiếu sáng tạo, gượng ép. Nhiều GV chỉ chú trọng việc rèn luyện các dạng bài tập để
luyện thi đại học, học sinh học để vượt qua các kì thi. Nhiều kiến thức thực tiễn bị
lãng quên mà không được áp dụng ngoài thực tiễn.
Tuy nhiên với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kí thuật, trong công cuộc
thực hiện cuộc cách mạng 4.0 chúng ta cần nhìn nhận lại cách truyền thụ kiến thức
cho học sinh. Quá trình hình thành năng lực chính là quá trình phát triển nhân cách
toàn diện của học sinh. Quá trình bồi dưỡng giáo dục năng lực là quá trình tác động
3

sư phạm của nhà giáo một cách đúng quy luật, đảm bảo tính khoa học và mang tính
thực tiễn. Phương pháp dạy học STEM đang là sự lựa chọn của nhiều nước có nền
giáo dục hiện đại vì thông qua quá trình học giúp các em tự lĩnh hội được kiến thức,
kĩ năng và có khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết các vấn đề
thực tế. Nhưng làm thế nào để vận dụng phương pháp dạy học STEM vào trường
THPT của ta để mang lại hiệu quả?
Chính vì vậy đầu năm học 2023 - 2024 tôi đã tiến hành khảo sát 200 em học
sinh khối 11 (gồm 5 lớp 11A1, 11A2, 11A3, 11A4, 11A5) về sự hứng thú, cách thức
học và nội dung phương pháp học môn Vật lý:
Câu
1

2

3

Kết quả

Nội dung

Số lượng

Tỉ lệ %

Sự hứng thú học môn Vật lý ở các em thuộc mức nào ?
Rất thích

12

6

Thích

35

17,5

Bình thường

95

47,5

Không thích

58

29

Môn Vật lý là một trong những môn thi vào các
trường ĐH, CĐ

39

19,5

Bài học sinh động, thầy cô dạy vui vẻ, dễ hiểu

78

39

Kiến thức dễ nắm bắt

38

19

Kiến thức gắn thực tế nhiều

45

22,5

Em thích học môn Vật lý vì:

Trong giờ học môn Vật lý em thích được học như thế nào
Tập trung nghe giảng, phát biểu ý kiến, thảo
luận và làm việc

65

32,5

Nghe giảng và ghi chép một cách thụ động

35

17,5

4

4

Được làm các thí nghiệm thực hành để hiểu sâu
sắc vấn đề về sinh học

50

25

Làm các bài tập nhiều để ôn thi đại học

60

30

Không cần thí nghiệm thực hành nhiều

50

25

Tăng cường học lí thuyết và giải bài tập tính
toán gắn với kì thi đại học cao đẳng

90

45

Giảm tải lí thuyết, vận dụng kiến thức đã học để
đưa kiến thức vào thực tiễn, tăng cường phần
thực hành.

60

30

Nội dung dạy học

Kết quả khảo sát cho thấy số lượng học sinh yêu thích và thích môn Vật lý rất
thấp chỉ chiếm 6% và 17%; các em thích học vì môn Vật lý là do giáo viên dạy, do là
môn thi đại học và kiến thức gắn với thực tiễn. Các em cũng rất chú trọng các nội
dung dạy học gắn với các kì thi chiếm 45%. Rõ ràng qua phân tích thì các em vẫn chủ
yếu học theo lối truyền thống nặng về thi cử đối phó, do vậy mà các em ít có yếu tố
đam mê nghiên cứu và thực sự yêu thích là rất ít, kĩ năng thực hành rất hạn chế và là
nguyên nhân năng lực làm việc hạn chế sau khi ra trường, đặc biệt là trong thời đại
4.0 với kỉ nguyên của thế giới phẳng thì khả năng đáp ứng đầu ra sau khi ra trường lại
càng rất khó khăn. Qua 1 năm vận dụng tôi đã lồng ghép STEM với dạy học truyền
thống và xây dựng một số chủ đề dạy học theo điều kiện của trường, đã mang lại hiệu
quả khả quan. Nên tôi mạnh dạn thực hiện biện pháp “Vận dụng giáo dục STEM vào
dạy học môn Vật lý lớp 11” với mong muốn góp phần thực hiện việc đổi mới phương
pháp dạy học, đáp ứng yêu cầu của xã hội ngày nay.
6.2. Nội dung của giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
a) Mục đích của giải pháp:
Giải quyết bất cập của phương pháp cũ: Khắc phục tình trạng dạy học Vật lý
hiện nay còn nặng về lý thuyết hàn lâm, tính toán trên giấy để đối phó thi cử mà xa
rời thực tiễn. Học sinh thường cảm thấy môn Vật lý khô khan, khó hiểu và thiếu hứng
thú vì ít được thực hành.
5

Phát triển năng lực toàn diện: Thay vì chỉ học thuộc lòng, giải pháp giúp học
sinh hình thành năng lực giải quyết vấn đề thực tế, tư duy kỹ thuật và kỹ năng làm
việc nhóm thông qua quy trình thiết kế sản phẩm.
Tiết kiệm và bảo vệ môi trường: Tận dụng tối đa các vật liệu tái chế (bìa
carton, ống nhựa) hoặc vật liệu thiên nhiên (rau củ quả) để làm đồ dùng học tập, giúp
tiết kiệm chi phí mua sắm thiết bị dạy học đắt tiền và giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường cho học sinh.
b) Tính mới của giải pháp:
Sáng kiến này có 03 điểm mới và sáng tạo nổi bật so với phương pháp dạy
học truyền thống đang áp dụng tại đơn vị:
Điểm mới 1: Thay đổi hoàn toàn quy trình tổ chức dạy học (Từ thụ động sang
Quy trình kỹ thuật 5 bước)
Trước khi áp dụng sáng kiến: Giáo viên chủ yếu giảng giải lý thuyết trên bục
giảng, học sinh nghe và ghi chép thụ động. Các tiết thực hành (nếu có) thường làm
theo các bước định sẵn trong sách giáo khoa, ít có cơ hội sáng tạo.
Sau khi áp dụng sáng kiến (Điểm mới): Tôi đã xây dựng và chuẩn hóa quy
trình dạy học dựa trên Quy trình thiết kế kỹ thuật của giáo dục STEM gồm 5 bước
chặt chẽ:
1. Xác định vấn đề: Đặt ra bài toán thực tế (Ví dụ: Chế tạo nhạc cụ, làm
đèn ngủ) thay vì ra bài tập lý thuyết.
2. Nghiên cứu kiến thức nền: Học sinh tự chủ động tìm hiểu kiến thức
Sóng âm, Dòng điện không đổi để giải quyết bài toán.
3. Đề xuất giải pháp: Học sinh phải tự vẽ bản thiết kế, tính toán thông số kỹ
thuật (chiều dài dây đàn, số lượng củ quả cần dùng).
4. Chế tạo và thử nghiệm: Học sinh tự tay lắp ráp, thử nghiệm và điều
chỉnh sai số (bước này sách giáo khoa cũ không có hướng dẫn chi tiết).
5. Trình bày và đánh giá: Tổ chức "sân khấu hóa" để học sinh biểu diễn sản
phẩm, rèn kỹ năng thuyết trình.

6

Điểm mới 2: Nội dung các chủ đề STEM mang tính liên môn và thực tiễn cao
(Do tác giả tự thiết kế)
Tôi đã không sử dụng các bài thực hành có sẵn trong sách giáo khoa mà tự
nghiên cứu, thiết kế mới 02 chủ đề chuyên sâu, tích hợp kiến thức của nhiều môn học
(Vật lý, Toán, Hóa, Công nghệ, Âm nhạc, Mỹ thuật):
 Chủ đề 1: "Thiết kế nhạc cụ đơn giản" (Áp dụng cho bài Sóng âm - Vật lý
11):
o Sự khác biệt: Không chỉ dạy đặc trưng vật lý của âm (tần số, biên độ), tôi
hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức Âm nhạc (về quãng tám, nốt nhạc)
và Toán học (tỉ lệ chiều dài) để chế tạo Đàn Guitar và Sáo trúc.
o Tính sáng tạo: Sử dụng vật liệu tái chế như hộp bánh, ống nước, dây cước
để tạo ra nhạc cụ có thể biểu diễn được bản nhạc đơn giản, giúp học sinh
thấy Vật lý hiện hữu ngay trong đồ phế thải.
 Chủ đề 2: "Thiết kế đèn ngủ dùng nguồn điện từ củ quả" (Áp dụng cho bài
Nguồn điện - Vật lý 11):
o Sự khác biệt: Thay vì dùng pin hóa học thông thường gây ô nhiễm môi
trường, tôi hướng dẫn học sinh tạo ra "pin sinh học" từ chanh, khoai tây, cà
chua.
o Tính sáng tạo: Học sinh phải vận dụng kiến thức Hóa học (phản ứng oxi
hóa khử giữa kim loại đồng/kẽm và axit trong quả) để tạo ra dòng điện.
Sáng kiến này đã giải quyết được bài toán mắc mạch điện (nối tiếp/song
song) để thắp sáng đèn LED 3V và duy trì trong tối thiểu 5 phút – điều mà
lý thuyết suông không làm được.
Điểm mới 3: Đổi mới công cụ kiểm tra đánh giá (Xây dựng bộ tiêu chí Rubric
chi tiết)
Trước đây: Đánh giá học sinh chủ yếu dựa vào điểm số bài kiểm tra viết hoặc
trắc nghiệm, chỉ đánh giá được năng lực ghi nhớ.

7

Điểm mới trong sáng kiến: Tôi đã xây dựng hệ thống Phiếu chấm điểm
(Rubric) định lượng chi tiết cho từng sản phẩm, giúp đánh giá toàn diện năng lực học
sinh:





Tiêu chí về Kỹ thuật (chiếm 30-40%): Nguyên lý hoạt động đúng, đèn sáng
đủ thời gian, nhạc cụ đúng nốt.
Tiêu chí về Kinh tế (chiếm 20%): Sử dụng vật liệu rẻ tiền, chi phí thấp.
Tiêu chí về Thẩm mỹ (chiếm 10%): Hình thức đẹp, sáng tạo.
Tiêu chí Kỹ năng mềm (chiếm 30%): Khả năng thuyết trình, phản biện và
hợp tác nhóm.

Tiêu chí xây dựng bài học STEM







Tiêu chí 1: Chủ đề bài học stem tập trung vào các vấn đề thực tiễn.
Tiêu chí 2: Cấu trúc bài học stem theo quy trình thiết kế kĩ thuật.
Tiêu chí 3: Phương pháp dạy học bài học stem đưa học sinh vào hoạt động
tìm tòi và khám phá, định hướng hành động, trải nghiệm và sản phẩm.
Tiêu chí 4: Hình thức tổ chức bài học stem lôi cuốn học sinh vào hoạt động
nhóm kiến tạo.
Tiêu chí 5: Nội dung bài học stem áp dụng chủ yếu vào nội dung khoa học
và toán mà học sinh đã và đang học.
Tiêu chí 6: Tiến trình bài học stem tính đến có nhiều đáp án đúng và coi sự
thất bại như là một phần cần thiết trong học tập.

Quy trình xây dựng bài học STEM




Bước 1: Lựa chọn chủ đề bài học: Căn cứ vào nội dung kiến thức trong
chương trình môn học, quá trình gắn với các kiến thức đó trong tự nhiên và
sử dụng của kiến thức đó trong thực tiễn... để lựa chọn chủ đề của bài học.
Bước 2: Xác định vấn đề cần giải quyết: Sau khi chọn chủ đề của bài học,
cần xác định vấn đề cần giải quyết để giao cho học sinh thực hiện sao cho
khi giải quyết vấn đề đó, học sinh phải vận dụng những kiến thức, kỹ năng
đã biết (STEM vận dung) để xây dựng bài học.

8




Bước 3: Xây dựng tiêu chí, giải pháp giải quyết vấn đề: Sau khi đã xác định
vấn đề cần giải quyết, cần xác định rõ tiêu chí của giải pháp.
Bước 4: Thiết kế tiến trình tổ chức hoạt động dạy học: Mỗi hoạt động học
được thiết kế rõ ràng về mục đích, nội dung và sản phẩm học tập mà học
sinh phải hoàn thành. Các hoạt động học đó có thể được tổ chức cả ở trong
và ngoài lớp học (ở trường, ở nhà và cộng đồng). Đồng thời cần thiết kế bài
học điện tử trên mạng để hướng dẫn, hỗ trợ hoạt động học của học sinh bên
ngoài lớp học.
Xác định vấn đề
Tiến hành nghiên cứu bối cảnh
Cụ thể hóa các yêu cầu
Phác họa ý tưởng, đánh giá,
lựa chọn giải pháp
Xây dựng, tạo ra nguyên
mẫu giải pháp
Kiểm nghiệm giải pháp

Dựa trên kết quả,
thay đổi thiết kiết, tạo
ra mẫu thử, kiểm
nghiệm và đánh giá

Giải pháp đáp ứng một
phần / không đáp ứng yêu
cầu
Phổ biến kết quả

Giải pháp đáp ứng yêu cầu

Hình. Quy trình thiết kế kỹ thuật trong giáo dục STEM
Tiến trình bài học STEM tuân theo quy trình kĩ thuật nêu trên nhưng các
"bước" trong quy trình không được thực hiện một cách tuyến tính (hết bước nọ mới
sang bước kia) mà có những bước được thực hiện song hành, tương hỗ lẫn nhau. Việc
"Nghiên cứu kiến thức nền" được thực hiện đồng thời với "Đề xuất giải pháp"; "Chế
9

tạo mô hình" được thực hiện đồng thời với "Thử nghiệm và đánh giá", trong đó bước
này vừa là mục tiêu vừa là điều kiện để thực hiện bước kia.
Tiến trình mỗi bài học STEM được thực hiện phỏng theo quy trình kĩ thuật,
trong đó việc "Nghiên cứu kiến thức nền" trong tiến trình dạy học mỗi bài học STEM
chính là việc học để chiếm lĩnh nội dung kiến thức trong chương trình giáo dục phổ
thông tương ứng với vấn đề cần giải quyết trong bài học, trong đó học sinh là người
chủ động nghiên cứu sách giáo khoa, tài liệu bổ trợ, tiến hành các thí nghiệm theo
chương trình học (nếu có) dưới sự hướng dẫn của giáo viên; Vận dụng kiến thức đã
học để đề xuất, lựa chọn giải pháp giải quyết vấn đề; Thực hành thiết kế, chế tạo, thử
nghiệm mẫu; Chia sẻ, thảo luận, điều chỉnh thiết kế. Thông qua quá trình học tập đó,
học sinh được rèn luyện nhiều kĩ năng để phát triển phẩm chất, năng lực.
Các biện pháp đưa STEM vào dạy học

 Về phía nhà trường
 Tổ chức tập huấn tốt về hình thức dạy học STEM làm cho học sinh và giáo
viên hiểu được đầy đủ và đúng đắn ý nghĩa của hình thức học tập này.
 Mở các câu lạc bộ STEM dưới sự hướng dẫn của giáo viên, các tổ nhóm
chuyên môn.
 Có hình thức động viên, khuyến khích, khen thưởng kịp thời với những
giáo viên có những đóng góp cho sự phát triển phong trào dạy học STEM
của nhà trường.
 Tích cực tuyên truyền cho giáo viên và học sinh thấy được ý nghĩa của dạy
học STEM.
 Cơ sở vật chất của các nhà trường được đầu tư thêm để đáp ứng nhu cầu
cho giáo viên và học sinh giảng dạy và học tập.
 Tạo diễn đàn (FORUM) về việc học tập STEM trên trang web của nhà
trường, đó là nơi giáo viên có thể thảo luận về cách soạn bài, về phương
pháp, về cách thức tổ chức triển khai về bài học, các em học sinh có thể
trao đổi về các kiến thức trong bài, nội dung bài học, các bài tập hay giao
lưu kết bạn.

10



Trường được đầu tư xây dựng phòng học STEM sẽ là điều kiện thuận lợi để
giáo viên có cơ hội thể hiện dạy học theo hướng tiếp cận giáo dục STEM.
 Về phía giáo viên
 Tích cực tham gia các buổi tập huấn, các chương trình học STEM qua các
khóa học có chất lượng.
 Tích cực soạn bài giảng có định hướng STEM.
 Tham gia diễn đàn của các chương trình dạy học STEM trên khắp cả nước
và diễn đàn của nhà trường nói riêng.
 Hướng dẫn học sinh cách học tập và nghiên cứu theo phương pháp này để
học sinh cảm nhận được tính ưu việt của phương pháp dạy học này.
 Bên cạnh phát huy các ưu điểm của dạy học truyền thống cũng cần học sinh
thấy được vai trò của thực hành và khả năng vận dụng kiến thức vào cuộc
sống mang lại những bài giảng phong phú hấp dẫn cho học sinh.
 Về phía học sinh
 Học sinh là người học là người trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ học tập
một cách tự giác và chủ động, vì việc thực hiện các nhiệm vụ không những
thực hiện trong phạm vi không gian lớp học mà còn ở ngoài trường học
nữa.
 Dưới sự hướng dẫn của giáo viên học sinh các em phải có sự kết nối các
thành viên trong tổ nhóm khi thực hiện ở ngoài trường, nên cần tinh thần
trách nhiệm của các thành viên trong nhóm để đảm bào thành quả của sự
hợp tác nhóm.
 Vậy các em khi hoạt động ngoài không gian trường học với điều kiện địa lí
xa làm vậy cách triển khai kế hoạch thế nào?
o Lập nhóm trên diễn đàn (chủ yếu trên facebook), đề cử nhóm trưởng.
o Thảo luận và các thành viên và lên kế hoạch thông báo (như thời gian,
địa điểm…) cho các thành viên.
o Giáo viên tham gia hướng dẫn và tư vấn.



Kết hợp xây dựng các chủ đề dạy học STEM với phương pháp dạy học
truyền thống.

11

Một số chủ đề minh họa theo định hướng giáo dục STEM
CHUYÊN ĐỀ STEM
TÊN CHỦ ĐỀ: THIẾT KẾ NHẠC CỤ ĐƠN GIẢN
(Số tiết: 03 – Vật lí lớp 11)
1. Mô tả chủ đề:
Âm nhạc vốn là một phần không thể thiếu của cuộc sống. Trong kháng chiến,
âm nhạc đã góp phần tạo nên những thắng lợi to lớn, “Tiếng hát át tiếng bom”. Trong
thời bình, âm nhạc giúp cuộc sống trở nên thi vị hơn. Nó giúp con người giải tỏa
những căng thẳng, mệt mỏi, giúp người ta bình tĩnh, sang suốt hơn trước những áp
lực, những lo toan của cuộc sống hàng ngày.
Việc tự mình chế tạo một nhạc cụ, rồi tự mình biểu diễn một bài nhạc đơn giản
chắc chắn cũng sẽ được các em học sinh nhiệt liệt hưởng ứng. Từ đó học sinh hiểu rõ
các đặc trưng của sóng âm, khắc sâu kiến thức bài học, thêm yêu âm nhạc, yêu môn
Vật lí và yêu cuộc sống. Trong chủ đề này, HS sẽ thực hiện dự án thiết kế và chế tạo
được những nhạc cụ đơn giản như đàn ghita, ống sáo…Để thực hiện dự án này, HS
phải nghiên cứu và vận dụng các kiến thức như:
- Sóng âm (Vật lí 11).
- Thiết kế và bản vẽ kĩ thuật (Công nghệ).
Cùng với kiến thức về tính toán (Toán học), lắp ráp kĩ thuật, kiến thức về quãng, và
cách đọc nốt nhạc (Âm nhạc).
2. Mục tiêu:
Sau khi hoàn thành chủ đề này, học sinh có khả năng:
a. Kiến thức:
- Biết được sóng âm là sóng dọc.
- Nêu được các đặc trưng vật lí của âm.

12

- Nêu được đặc trưng sinh lí của âm, mối liên hệ giữa đặc trưng vật lí và đặc trưng
sinh lí.
- Tính toán các thông số phù hợp cho bộ phận của nhạc cụ tự chế.
- Vận dụng được các kiến thức trong chủ đề và kiến thức đã biết, thiết kế và chế tạo
một nhạc cụ từ các vật liệu phù hợp.
b. Kĩ năng:
- Vẽ được bản thiết kế nhạc cụ từ các vật liệu thân thiện với môi trường.
- Chế tạo được nhạc cụ theo bản thiết kế;
- Trình bày, bảo vệ được ý kiến của mình và phản biện ý kiến của người khác;
- Hợp tác trong nhóm để cùng thực hiện nhiệm vụ học tập.
c. Phát triển phẩm chất:
- Có thái độ tích cực, hợp tác trong làm việc nhóm.
- Yêu thích, cảm nhận được cái đẹp của âm nhạc.
- Có tinh thần trách nhiệm, hòa đồng, giúp đỡ nhau trong nhóm, trong lớp.
d. Định hướng phát triển năng lực:
- Năng lực tự chủ và tự học: nghiên cứu kiến thức nền về sóng âm và kiến thức có
liên quan.
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, chế tạo được nhạc cụ đơn giản theo các tiêu
chí đã đề ra.
- Năng lực giao tiếp và hợp tác nhóm để thống nhất bản thiết kế và phân công thực
hiện từng phần nhiệm vụ cụ thể.
4. Thiết bị:
- Phương tiện dạy học: máy tính, máy chiếu, video.
- Đồ dùng trực quan: đàn ghita, sáo.

13

- Video về sự rung của dây đàn ghita tạo âm, cột khí trong ống sáo tạo âm; video về
âm sắc của các nhạc cụ khác nhau.
5. Tiến trình dạy học:
Hoạt động 1: XÁC ĐỊNH YÊU CẦU THIẾT KẾ NHẠC CỤ ĐƠN GIẢN
(Tiết 1 - tại lớp – 45 phút)
A. Mục tiêu:
Sau hoạt động này học sinh có khả năng:
- Nêu được nguyên lí hoạt động của các nhạc cụ là: dao động có tần số lớn hơn 20 Hz
sẽ tạo ra âm thanh.
- Nhận biết được vật liệu, kích thước, hình dạng của hộp cộng hưởng sẽ tác động đến
độ to, âm sắc của âm.
- Xác định được nhiệm vụ là thiết kế một nhạc cụ đơn giản: đàn ghita, ống sáo, với
các yêu cầu: nhạc cụ được chế tạo từ vật liệu dễ tìm, thân thiện với môi trường; có đủ
một quãng tám, có thể sử dụng nhạc cụ biểu diễn một bản nhạc đơn giản.
- Liệt kê được các tiêu chí đánh giá sản phẩm, từ đó định hướng thiết kế sản phẩm dự
án là một nhạc cụ tự chế.
B. Nội dung:
- GV tổ chức cho HS xem video về dao động của dây đàn, của cột khí tạo ra âm thanh
và các nhạc cụ khác nhau thì âm sắc khác nhau.
- Từ việc xem video, GV giao nhiệm vụ cho HS thực hiện dự án “Thiết kế nhạc cụ
dây: đàn ghi ta, nhạc cụ khí: ống sáo.”
- GV thống nhất với HS về kế hoạch triển khai dự án và tiêu chí đánh giá sản phẩm
của dự án.
- GV giao nhiệm vụ cho học sinh tìm hiểu kiến thức và kĩ năng liên quan trước khi
lập bản thiết kế sản phẩm.
C. Dự kiến sản phẩm hoạt động của học sinh:

14

Kết thúc hoạt động, HS cần đạt được các sản phẩm sau:
- Bảng tổng kết nguyên lí hoạt động của sản phẩm.
- Bảng mô tả nhiệm vụ của dự án và nhiệm vụ các thành viên; thời gian thực hiện dự
án và các tiêu chí đánh giá sản phẩm của dự án.
D. Cách thức tổ chức hoạt động:
Bước 1. Đặt vấn đề, chuyển giao nhiệm vụ
GV nêu tác dụng của âm nhạc đối với con người trong cuộc sống hàng ngày,
cho học sinh xem video về những bản nhạc hay của đàn ghita hay sáo và có thể thêm
các nhạc cụ khác. Từ đó khơi gợi cho học sinh việc
 
Gửi ý kiến