SKKN - Mô hình học tập - KHTN 8 - Chủ đề Hệ sinh thái

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Trọng Kỳ Anh
Ngày gửi: 10h:21' 20-03-2026
Dung lượng: 954.9 KB
Số lượt tải: 47
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Trọng Kỳ Anh
Ngày gửi: 10h:21' 20-03-2026
Dung lượng: 954.9 KB
Số lượt tải: 47
Số lượt thích:
0 người
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG CÁC MÔ HÌNH
HỌC TẬP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT
CHỦ ĐỀ SINH VẬT VÀ MÔI TRƯỜNG MÔN
KHOA HỌC TỰ NHIÊN LỚP 8
MỤC LỤC
MỤC LỤC.............................................................................................................2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT................................................................................3
PHẦN I. PHẦN MỞ ĐẦU....................................................................................1
1. Khái quát vấn đề cần nghiên cứu..................................................................1
2. Lý do chọn xây dựng sáng kiến.....................................................................1
3. Thời gian áp dụng sáng kiến và đối tượng áp dụng......................................3
4. Mục đích nghiên cứu.....................................................................................3
PHẦN II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN...........................................................4
1. Thực trạng.....................................................................................................4
1.1. Thuận lợi và khó khăn............................................................................4
1.2. Khảo sát thực trạng.................................................................................4
2.3. Đánh giá thực trạng................................................................................5
2. Đề xuất một số giải pháp thực hiện...............................................................7
2.1. Quy trình chung về thiết kế và sử dụng mô hình...................................7
2.2. Một số ví dụ minh họa cụ thể.................................................................8
PHẦN III. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ÁP DỤNG VÀ PHẠM VI ẢNH HƯỞNG
CỦA SÁNG KIẾN..............................................................................................12
1. Hiệu quả của sáng kiến................................................................................12
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
Từ viết tắt
Ý nghĩa
1
KHTN
Khoa học tự nhiên
2
THCS
Trung học Cơ sở
3
HS
Học sinh
4
GV
Giáo viên
5
NL
Năng lực
6
PP
Phương pháp
7
TB
Trung bình
PHẦN I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Khái quát vấn đề cần nghiên cứu
Cốt lõi của đổi mới giáo dục là đổi mới phương pháp, nâng cao khả năng tự
học, tự cập nhật kiến thức của người dạy và người học. Việc nâng cao chất lượng
đội ngũ giáo viên, cung cấp các trang thiết bị hiện đại đạt chuẩn phục vụ cho việc
học tập, kèm theo đó là việc đổi mới của phương pháp giảng dạy theo hướng tích
cực thì các nguồn tư liệu, học liệu cũng đóng vai trò không nhỏ là những đồ dùng
cần thiết cho việc giảng dạy và tương tác trở lên gần gũi và hiệu quả hơn. Vai trò
của thiết bị dạy học vừa là trực quan sinh động, vừa là phương tiện để nhận thức,
đôi khi còn là đối tượng chứa nội dung cần nhận thức. Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ
ra, để quá trình nhận thức đạt hiệu quả cao cần phải thông qua quá trình nghe –
nhìn và thực hành, muốn vậy phải có phương tiện (thiết bị và công cụ) để tác động,
hỗ trợ. Mà chính thiết bị dạy học và học liệu thúc đẩy sự giao tiếp trao đổi thông
tin khiến học sinh học tập có hiệu quả, giúp người học tăng cường trí nhớ làm cho
việc học được lâu bền và đáp ứng được nhu cầu học đa dạng.
Ở các nhà trường THCS, các thiết bị học liệu thường được trang bị như
tranh ảnh, dụng cụ hoá chất, tuy nhiên đối với các nội dung bài không có sử dụng
thí nghiệm, mà thay vào đó là những tiết học có yếu tố luyện tập, củng cố thông
qua trò chơi hay tương tác nhóm thì các thiết bị dạy học lại phụ thuộc vào sự sáng
tạo của mỗi giáo viên. Thêm nữa là việc sử dụng thiết bị dạy học ở trường học hiện
này vẫn còn thiếu, không đồng bộ, bố trí lớp học và thời khoá biểu không thuận
tiện cho việc sử dụng khai thác thiết bị dạy học, chưa có quy định bắt buộc phải sử
dụng thiết bị dạy học...Các bài học giáo viên đưa thực tiễn vào bài học, hoặc khi
muốn tổ chức dưới dạng dạy học dự án, dạy học theo chủ đề thì nguồn thiết bị và
học liệu có sẵn không đáp ứng được. Trong khi đó, việc đổi mới và tạo ra nhiều đồ
dùng thiết bị dạy học trong các tiết học, vừa đáp ứng yêu cầu phù hợp với đổi mới
phương pháp, vừa đơn giản, tiết kiệm lại khiến học sinh có thêm nhiều trải nghiệm
hứng thú hơn, điều đó góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng dạy học.
2. Lý do chọn xây dựng sáng kiến
Phân môn sinh học là một môn khoa học thực nghiệm, lí thuyết luôn gắn
liền với thực hành. Xã hội ngày nay càng tiến bộ thì vai trò của sinh học được nâng
lên tầng cao mới. Sinh học tạo ra những khu bảo tồn thiên nhiên, những khu du
lịch sinh thái, những vườn quốc gia.., không chỉ thế nó còn góp phần xây dựng
kinh tế, bảo vệ sức khỏe con người. Còn đối với chủ đề Sinh vật và môi trường nói
riêng nó cũng có vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu về môi trường sống của
sinh vật, hệ sinh thái, tìm hiều về tác động của con người tới môi trường và các
biện pháp bảo vệ môi trường,... Không chỉ thế nó còn có vai trò quan trọng trong
sự nghiệp giáo dục nói chung và ở cấp THCS nói riêng.
Việc đổi mới phương pháp dạy học được xem là một yêu cầu cấp thiết trong
quá trình nâng cao chất lượng giảng dạy. Và việc đổi mới phương pháp dạy học
trong nhà trường hiện nay rất cần thiết nhưng đôi lúc còn mang tính hình thức, thử
nghiệm chưa đem lại hiệu quả như mong muốn. Đôi khi trong quá trình giảng dạy,
giáo viên còn dạy học theo kiểu truyền thụ kiến thức một chiều. Giáo viên giảng
giải, học sinh lắng nghe, ghi nhớ và biết nhắc lại những điều mà giáo viên truyền
đạt. Giáo viên chủ động cung cấp tri thức cho học sinh, áp đặt những kinh nghiệm,
hiểu biết, cách cảm, cách nghĩ của mình tới học sinh. Giáo viên còn chưa chú trọng
đến việc tiếp thu, vận dụng kiến thức của học sinh cũng như chỉ ra cho người học
con đường tích cực, chủ động để tiếp nhận kiến thức. Do đó có những tiết dạy
giống như những giờ diễn thuyết. Vì thế mà một số giờ học chưa thu hút được sự
chú ý của học sinh. Dẫn đến việc một phần không nhỏ học sinh tỏ ra thờ ơ trong
học tập.
Bên cạnh đó, do sự thiếu thốn về trang thiết bị dạy học như đồ dùng trực
quan, dụng cụ nghe, nhìn, tài liệu tham khảo… cho giáo viên cũng như học sinh
khiến cho việc áp dụng phương pháp dạy học mới gặp nhiều khó khăn dẫn tới việc
dạy – học chay. Học sinh lại có thói quen thụ động, quen nghe, quen chép, ghi nhớ
và tái hiện một cách máy móc, rập khuôn những gì mà giáo viên đã giảng. Đa phần
học sinh chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá bài học. Điều này đã thủ
tiêu óc sáng tạo, suy nghĩ của người học, biến học sinh thành những người quen
suy nghĩ và diễn đạt bằng những ý vay mượn, bằng những lời có sẵn của người
khác. Lẽ ra học sinh là chủ của tri thức lại trở thành lệ thuộc sách vở. Học sinh
chưa hào hứng và chưa quen bộc lộ những suy nghĩ, tình cảm của cả nhân trước
tập thể cho nên khi phải nói và viết, học sinh gặp rất nhiều khó khăn.
Trước yêu cầu của các môn học nói chung và môn Khoa học tự nhiên phân
môn Sinh học nói riêng, tôi thấy cần đổi mới ngay hình thức dạy học nhằm phát
huy tính tích cực chủ động của học sinh, giúp các em yêu thích và học tốt, giúp cho
các em được tự mình khám phá kiến thức cũng như hình thành cho học sinh kỹ
năng và phong cách hoạt động để nắm tri thức một cách chủ động, sáng tạo và tôi
đã mạnh dạn áp dụng sáng kiến “Thiết kế và sử dụng các mô hình học tập giúp
học sinh học tốt chủ đề Sinh vật và môi trường môn Khoa học tự nhiên lớp 8”.
3. Thời gian áp dụng sáng kiến và đối tượng áp dụng
- Thời gian thực hiện: Năm học 2023-2024
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu tập trung thực hiện tại trường
THCS ..........................................................., khối 8, môn Khoa học tự nhiên.
- Đối tượng nghiên cứu: quá trình dạy và học phân môn Sinh học môn Khoa
học tự nhiên lớp 8 chủ đề Sinh vật và môi trường có sử dụng mô hình học tập của
giáo viên và học sinh các lớp 8A1 và 8A2.
+ Lớp thực nghiệm: 8A1 và 8A2.
+ Lớp đối chứng: 8A3 và 8A4.
4. Mục đích nghiên cứu
- Thiết kế và chế tạo được một số mô hình học tập phục vụ việc học tập môn
Khoa học tự nhiên lớp 8 phân môn Sinh học, chủ đề Sinh vật và môi trường.
Những học liệu tự làm này vừa có giá cả hợp lí, có thể dùng lại nhiều năm và có
thể áp dụng sang cho các khối lớp khác.
- Tạo được nguồn học liệu sáng tạo, có hiệu quả cho giáo viên trong dạy
học, nâng cao chất lượng buổi dạy. Tiết kiệm thời gian, công sức để chuẩn bị cho
các tiết học có nội dung tương tự những năm học sau đó mà vẫn đảm bảo chất
lượng dạy học đồng thời khiến học sinh yêu thích môn học, có ấn tượng tốt với
cách dạy của giáo viên.
- Giúp học sinh được học tập với phương pháp học tập và học liệu mới, hiệu
quả, giúp các em dễ tiếp thu bài học, dễ tưởng tượng ra những mô tả trong nội
dung bài học. Tăng cường hứng thú học tập của học sinh, làm cho các em yêu
thích môn học, không cảm thấy môn học nhàm chán, không thấy năng nề khi học,
nâng cao động lực và hiệu quả học tập.
PHẦN II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN
1. Thực trạng
1.1. Thuận lợi và khó khăn
a. Thuận lợi
+ Được sự quan tâm của Ban giám hiệu, của các ban ngành đoàn thể trong
và ngoài nhà trường đã tạo điều kiện cho học sinh được học 2 buổi/ngày nên các
em được tham gia học tập, rèn luyện nhiều ở trường.
+ Trường học trang bị đầy đủ bàn ghế và bảng đen, có thiết bị đồ dùng dạy
học. Giáo viên nhiệt tình, có ý thức trách nhiệm với học sinh.
+ Phụ huynh học sinh đa phần đã có sự quan tâm chăm lo hơn về việc học
hành của con em mình, mua sắm tương đối đầy đủ vở và đồ dùng học tập, tạo điều
kiện thuận lợi cho các em tới trường, thường xuyên giữ được mối liên hệ với giáo
viên chủ nhiệm lớp và nhà trường.
b. Khó khăn
+ Một số giáo viên còn hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ cũng như kinh
nghiệm công tác.
+ Chương trình giáo dục phổ thông mới còn rất mới mẻ, đặc biệt chương
trình mới môn KHTN 8 chỉ vừa áp dụng vào giảng dạy năm 2023 - 2024, nên học
sinh và cả giáo viên chưa quen, khó tiếp cận.
1.2. Khảo sát thực trạng
Để tìm hiểu khách quan hơn về quá trình dạy và học với mô hình của giáo
viên và học sinh trong môn Khoa học tự nhiên lớp 8, tôi đã tiến hành phỏng vấn và
dùng phiếu điều tra (Phụ lục). Kết quả thu được như sau:
- Đối với giáo viên:
Câu 1: Sự cần thiết của sử dụng mô
hình trong dạy môn Khoa học tự
nhiên lớp 8.
Câu 2: Mức độ sử dụng mô hình
Cần thiết
Số lượng
Không cần thiết
%
Số lượng
%
5
100
0
0
Chưa
Hiếm
Thỉnh
Thường
trong dạy học môn Khoa học tự nhiên
lớp 8
bao giờ
khi
thoảng
xuyên
Số lượng
1
1
3
0
Phần trăm (%)
20,0
20,0
60,0
0,0
Câu 3: Khó khăn của GV khi tổ chức dạy học sử dụng mô hình
Mất thời gian, tốn
công sức chuẩn bị
Khó đảm bảo tiến
độ thực hiện
chương trình
chung
Giáo viên chưa
Năng lực của học
thành thạo về cách sinh không đáp
tổ chức
ứng được
Số lượng
%
Số lượng
%
Số lượng
%
Số lượng
%
5
100
1
20
1
20
3
60
Câu hỏi
Số học sinh
khảo sát
Có
Không
(chiếm %)
(chiếm %)
Câu 1: Em có yêu thích và
hứng thú với việc học phân
môn Sinh học không
196
117
79
(59,7%)
(40,3%)
Câu 2: Em có hứng thú với
việc học với mô hình không?
196
175
21
(89,3%)
(10,71%)
- Đối với học sinh:
Câu 3: Thầy cô có thường xuyên sử dụng
mô hình trong dạy học không?
Chưa Hiếm
bao giờ khi
Số lượng
8
17
Phần trăm
4,1%
8,7%
Thỉnh
thoảng
Thường
xuyên
145
26
73,9%
13,3%
2.3. Đánh giá thực trạng
Qua phỏng vấn và khảo sát, tôi nhận thấy việc sử dụng mô hình trong dạy và
học mang lại một số thành công sau:
- Tạo được không khí vui tươi, sinh động cho giờ dạy.
- Có thể phát triển năng lực toàn diện cho học sinh từ tâm lí, tính cách cho
đến kỹ năng và hành vi giao tiếp…
- Học sinh làm việc tập thể nên có thể bổ sung cho nhau những thiếu sót.
- Qua quan sát hoạt động của các em với mô hình, giáo viên có thể đánh giá
chính xác năng lực của từng học sinh từ đó kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy học
cho phù hợp, đồng thời cũng kịp thời chấn chỉnh thái độ học tập không tốt của học
sinh.
Tuy nhiên đi kèm với đó là những hạn chế
- Giáo viên thường bị động về thời gian.
- Không phải mô hình nào cũng đem lại hiệu quả như mong muốn.
Với lứa tuổi của các em học sinh khối THCS rất hiếu động, sự tập trung cho
học tập chú ý chưa cao. Tư duy của các em còn nặng về trực quan cụ thể, tư duy
trừu tượng chưa phát triển. Học theo các phương pháp học tập mới, học sinh được
học tập tích cực, chủ động, hứng thú do có cơ hội chia sẻ những trải nghiệm cá
nhân, có cơ hội thực hành và vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào đời sống
hằng ngày. Học sinh có nhiều cơ hội để độc lập suy nghĩ khi làm việc cá nhân và
có nhiều cơ hội để phát huy năng lực hợp tác khi học theo nhóm. Học sinh chủ yếu
làm việc theo nhóm nhỏ và sau mỗi nội dung học tập, các em được tranh luận,
được đánh giá lẫn nhau. Việc tự học của học sinh được thực hiện trong bối cảnh có
hướng dẫn của giáo viên. Các em được giáo viên giao nhiệm vụ, được giáo viên
trực tiếp hỗ trợ khi cần. Các em cũng được nghe ý kiến của giáo viên như là những
quyết định của trọng tài trong các cuộc thảo luận, trao đổi ý kiến.
Bên cạnh những thuận lợi đã nêu trên, học theo các phương pháp mới học
sinh cần có nhiều thay đổi về cách học. Học sinh cần học một cách chủ động, tự
đọc sách, tự thực hiện các hoạt động theo chỉ dẫn của sách. Khi có khó khăn, các
em cần tự tìm kiếm sự hỗ trợ từ bạn trong cùng cặp, cùng nhóm, tìm kiếm sự hỗ
trợ của giáo viên. Phương pháp học tập với mô hình chú trọng vào phát triển tuy
duy trừu tượng. Học sinh được rèn kĩ năng hợp tác với bạn cùng cặp, nhóm, cùng
lớp. Học sinh không chỉ học theo cách làm nêu trong sách mà còn được khuyến
khích phát biểu các ý kiến cá nhân, đề xuất cách thực hiện nhiệm vụ học tập cùng
bạn. Tuy nhiên, những thay đổi về cách học đối với học sinh không phải là thách
thức lớn đối với học sinh vì đây là khối lớp 8, việc học tập chưa tích cực không
hoàn toàn là thói quen không tốt của các em. Nó không phải là rào cản lớn lắm
trong thực hiện học tập tích cực của các em.
Vì thế, muốn hoạt động dạy học với mô hình thành công, giáo viên phải nắm
vững phương pháp, biết cách tổ chức, biết kết hợp nhiều phương tiện, kỹ thuật hỗ
trợ. Song yếu tố quyết định vẫn là ở học sinh. Ngoài việc phải năng động, tích cực,
các em cần được hướng dẫn cụ thể trước khi tiến hành khám phá mô hình.
2. Đề xuất một số giải pháp thực hiện
2.1. Quy trình chung về thiết kế và sử dụng mô hình
Bước 1: Lựa chọn đề tài
- Việc lựa chọn đề tài rất quan trọng. Đề tài quá khó hoặc quá dễ đối với học
sinh đều ảnh hưởng đến hoạt động học tập của học sinh. Lựa chọn vấn đề phải phù
hợp, có tính chất kích thích tính tích cực chủ động làm việc của học sinh. Đề tài
phải là vấn đề chính của bài học, vấn đề có thể có nhiều hướng khai thác khác
nhau, nhiều cấp độ nhận thức khác nhau. Thường là loại cấp độ phát hiện và suy
luận thì sẽ phù hợp với học tập qua mô hình.
Bước 2: Nghiên cứu kiến thức
- Sau khi lựa chọn được đề tài phù hợp để làm mô hình, giáo viên cần tham
khảo thêm các kiến thức liên quan từ các tài liệu tham khảo, các kênh thông tin uy
tín, đáng tin cậy. Việc làm này sẽ hình thành nên nhiều ý tưởng hay, sáng tạo khi
thực hiện mô hình học tập.
- Ngoài ra giáo viên còn có thể tham khảo các mô hình có sẵn trên internet,
các mô hình đã được áp dụng trước đó và cho kết quả tốt sẽ được học hỏi, những
mô hình không đem lại hiệu quả như mong muốn sẽ là một bài học kinh nghiệm
phù hợp cho các bước tiếp theo.
Bước 3: Làm mô hình
- Khi đã có đầy đủ các thông tin, giáo viên tiến hành làm mô hình theo
những hiểu biết, tưởng tượng và sáng tạo của bản thân. Giáo viên nên tự làm một
bản vẽ chi tiết, một quy trình làm mô hình cụ thể để làm theo cũng như làm thông
tin lưu lại về sau.
- Mô hình nên làm từ những vật dụng có sẵn để tiết kiệm chi phí, tuy nhiên
vẫn phải đảm bảo minh họa đầy đủ và chính xác thông tin, kiến thức cần truyền đạt
cho học sinh. Ngoài ra mô hình cũng cần đáp ứng tiêu chuẩn về độ bền để có thể
được sử dụng trong các năm học tiếp theo mà không cần làm lại mô hình khác.
Bước 4: Kiểm tra tính hợp lý của mô hình
- Sau khi có mô hình hoàn chỉnh, giáo viên cần kiểm tra lại mô hình dựa
theo những gì cần truyền đạt, nên có bảng đánh giá chi tiết để có cái nhìn tổng
quát. Mô hình làm ra cần đáp ứng được các yêu cầu của bước 3. Ở giai đoạn này,
giáo viên có thể thử dùng mô hình để truyền đạt kiến thức xem có hợp lý chưa
trước khi đưa vào áp dụng trong dạy học thực tế.
Bước 5: Áp dụng vào thực tiễn dạy và học
- Sau khi kiểm tra, mô hình có thể được đưa vào dạy học thử nghiệm trên
lớp. Giáo viên cần theo dõi để đánh giá hiệu quả của việc áp dụng biện pháp so với
các lớp đối chứng (không áp dụng biện pháp).
- Trong quá trình áp dụng thực tế, giáo viên cần thay đổi, tích hợp mô hình
trong các hoạt động dạy học tích cực khác nhau để không gây nhàm chán và phát
huy được hết giá trị của mô hình.
Bước 6: Tổng kết đánh giá
- Tổng kết đánh giá là khâu cuối cùng của hoạt động. Vấn đề cốt lõi của
khâu này là phải tìm ra được vấn đề - có thể xem như chân lý mà biện pháp đã đạt
được hoặc chưa đạt được. Ngoài ra cũng cần đánh giá khả làm việc của hóc sinh:
Các nhóm làm việc có khoa học hay không? Những ai tích cực, những ai lười
biếng, hay làm chuyện riêng, cần rút kinh nghiệm gì?… Giáo viên nên có cái nhìn
tổng quát thì mới đánh giá toàn diên và chính xác nhất.
2.2. Một số ví dụ minh họa cụ thể
Bài 41. Môi trường và các nhân tố sinh thái
- Đơn vị kiến thức áp dụng: Mục I. Môi trường sống, bài 41. Môi trường và các
nhân tố sinh thái.
- Mục đích: Cho học sinh nắm khái niệm môi trường sống của sinh vật, tưởng
tượng ra được một môi trường sống thực tế bao gồm các yếu tố nào.
- Chuẩn bị: Giấy bìa, màu nước, kéo, keo dán.
- Tiến hành:
+ Bước 1: Cắt 3 tấm giấy bìa hình chữ nhật bằng nhau. Tô màu xanh cho
chúng để làm phông nền và khung cho mô hình.
+ Bước 2: Ghép 3 tấm bìa lại lại khung bằng keo dán.
+ Bước 3: Cắt tạo hình các loài động vật trong nước như cá, ốc, sao biển,…
+ Bước 4: Tô màu tạo hình và dán lên khung để tạo mô hình hoàn chỉnh.
+ Bước 5: Hoàn chỉnh mô hình bằng cách chỉnh sửa, thêm các chi tiết.
- Áp dụng trong thực tế dạy học: Sử dụng phối hợp kỹ thuật khăn trải bàn, cho HS
quan sát mô hình, thảo luận và trả lời câu hỏi.
- Kết quả áp dụng: Học sinh hiểu bài, nắm kiến thức bài tốt, các em phản hồi tích
cực sau khi học xong bài.
- Hình ảnh mô hình:
Hình 1. Mô hình môi trường sống dưới nước
Bài 44. Hệ sinh thái
Mục I. Hệ sinh thái
- Đơn vị kiến thức áp dụng: Mục I. Hệ sinh thái, bài 44. Hệ sinh thái.
- Mục đích: Cho học sinh nắm khái niệm hệ sinh thái, nhận biết một hệ sinh thái
hoàn chỉnh, nêu được các thành phần chủ yếu của một hệ sinh thái.
- Chuẩn bị: Giấy bìa, màu nước, kéo, keo dán.
- Tiến hành:
+ Bước 1: Cắt 3 tấm giấy bìa hình chữ nhật bằng nhau. Tô màu xanh cho
chúng để làm phông nền và khung cho mô hình.
+ Bước 2: Ghép 3 tấm bìa lại lại khung bằng keo dán.
+ Bước 3: Cắt tạo hình các loài động vật trong nước như cá, ốc, rong biển,
đá, san hô, cua,…
+ Bước 4: Tô màu tạo hình và dán lên khung để tạo mô hình hoàn chỉnh, các
sinh vật có thể bơi lơ lững dùng xiên gỗ để đính vào tạo hiệu ứng không gian.
+ Bước 5: Hoàn chỉnh mô hình bằng cách chỉnh sửa, thêm các chi tiết.
- Áp dụng trong thực tế dạy học: Sử dụng phối hợp kỹ thuật dạy học theo nhóm,
dùng trò chơi tiếp sức. Đầu tiên GV cho HS xem mô hình, giảng về khái niệm hệ
sinh thái và giới thiệu mô hình là một hệ sinh thái dưới biển. Sau đó chia lớp thành
6 nhóm, cho các nhóm tiếp sức để ghi ra các thành phần của hệ sinh thái.
- Kết quả áp dụng: Học sinh hiểu bài, nắm kiến thức bài tốt, các em phản hồi tích
cực sau khi học xong bài.
- Hình ảnh mô hình:
Hình 2. Mô hình hệ sinh thái dưới biển
Mục IV. Thực hành điều tra thành phần quần xã sinh vật trong hệ sinh thái
- Đơn vị kiến thức áp dụng: Mục IV. Thực hành điều tra thành phần quần xã sinh
vật trong hệ sinh thái, bài 50. Hệ sinh thái.
- Mục đích: Cho học sinh thực hành điều tra các thành phần của hệ sinh thái.
- Chuẩn bị: Giấy bìa, màu nước, kéo, keo dán.
- Tiến hành:
+ Bước 1: Cắt thùng giấy tạo khung cho mô hình. Dùng một tấm bìa vẽ cảnh
rừng núi để làm phông nền và khung cho mô hình.
+ Bước 2: Ghép phông nên và khung lại bằng keo dán.
+ Bước 3: Cắt tạo hình các loài động vật và thực vật phù hợp.
+ Bước 4: Tô màu tạo hình và dán lên khung để tạo mô hình hoàn chỉnh.
+ Bước 5: Hoàn chỉnh mô hình bằng cách chỉnh sửa, thêm các chi tiết.
- Áp dụng trong thực tế dạy học: Sử dụng phối hợp kỹ thuật dạy học theo nhóm.
Đầu tiên GV cho HS xem mô hình, yêu cầu các nhóm thảo luận theo nhóm và hoàn
thành yêu cầu điều tra các thành phần của hệ sinh thái theo mẫu cho sẵn.
- Kết quả áp dụng: Học sinh làm việc hăng hái, kết quả cho ra chính xác hơn khi so
sánh với các năm học trước học sinh chỉ được quan sát tranh ảnh.
- Hình ảnh mô hình:
Hình 3. Mô hình hệ sinh thái rừng nhiệt đới
PHẦN III. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ÁP DỤNG VÀ PHẠM VI ẢNH HƯỞNG
CỦA SÁNG KIẾN
1. Hiệu quả của sáng kiến
* Một số hiệu quả nổi bật về mặt xã hội:
- Nâng cao chất lượng dạy học: Việc sử dụng mô hình giúp học sinh dễ dàng
hình dung và ghi nhớ các khái niệm trừu tượng, phức tạp trong môn Sinh học, từ
đó nâng cao chất lượng tiếp thu kiến thức và kỹ nãng.
- Phát triển tư duy sáng tạo: Mô hình khuyến khích học sinh suy nghĩ độc
lập, sáng tạo, tự xây dựng mô hình của riêng mình để giải thích các hiện tượng,
vấn đề sinh học. Qua đó, học sinh rèn luyện được kỹ nãng tư duy phản biện, giải
quyết vấn đề và phát triển khả năng sáng tạo.
- Gắn lý thuyết với thực tiễn: Mô hình giúp học sinh liên hệ kiến thức đã học
với thực tế, từ đó hiểu rõ hơn về ứng dụng của kiến thức trong đời sống. Ví dụ, mô
hình hoạt động của hệ tiêu hóa giúp học sinh hiểu rõ hơn về quá trình tiêu hóa thức
ăn trong cơ thể người.
- Rèn luyện kỹ nãng học tập: Mô hình thường được sử dụng trong các hoạt
động học tập nhóm, khuyến khích học sinh thảo luận, chia sẻ ý tưởng và phối hợp
cùng nhau để hoàn thành mô hình. Qua đó, học sinh rèn luyện được kỹ năng làm
việc nhóm, giao tiếp hiệu quả và hợp tác với người khác.
- Kích thích hứng thú học tập: Việc sử dụng mô hình giúp biến việc học
Sinh học trở nên sinh động, hấp dẫn hơn, từ đó kích thích hứng thú học tập của học
sinh. Học sinh sẽ cảm thấy thích thú và hào hứng khi được tham gia vào các hoạt
động học tập sử dụng mô hình.
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Việc áp dụng sáng kiến sử dụng mô
hình trong dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Sinh học, từ đó
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai.
- Phát triển giáo dục: Việc sử dụng mô hình là một giải pháp đổi mới trong
dạy học, góp phần phát triển giáo dục và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường
quốc tế.
-
TRƯỜNG
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG CÁC MÔ HÌNH
HỌC TẬP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT
CHỦ ĐỀ SINH VẬT VÀ MÔI TRƯỜNG MÔN
KHOA HỌC TỰ NHIÊN LỚP 8
MỤC LỤC
MỤC LỤC.............................................................................................................2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT................................................................................3
PHẦN I. PHẦN MỞ ĐẦU....................................................................................1
1. Khái quát vấn đề cần nghiên cứu..................................................................1
2. Lý do chọn xây dựng sáng kiến.....................................................................1
3. Thời gian áp dụng sáng kiến và đối tượng áp dụng......................................3
4. Mục đích nghiên cứu.....................................................................................3
PHẦN II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN...........................................................4
1. Thực trạng.....................................................................................................4
1.1. Thuận lợi và khó khăn............................................................................4
1.2. Khảo sát thực trạng.................................................................................4
2.3. Đánh giá thực trạng................................................................................5
2. Đề xuất một số giải pháp thực hiện...............................................................7
2.1. Quy trình chung về thiết kế và sử dụng mô hình...................................7
2.2. Một số ví dụ minh họa cụ thể.................................................................8
PHẦN III. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ÁP DỤNG VÀ PHẠM VI ẢNH HƯỞNG
CỦA SÁNG KIẾN..............................................................................................12
1. Hiệu quả của sáng kiến................................................................................12
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
Từ viết tắt
Ý nghĩa
1
KHTN
Khoa học tự nhiên
2
THCS
Trung học Cơ sở
3
HS
Học sinh
4
GV
Giáo viên
5
NL
Năng lực
6
PP
Phương pháp
7
TB
Trung bình
PHẦN I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Khái quát vấn đề cần nghiên cứu
Cốt lõi của đổi mới giáo dục là đổi mới phương pháp, nâng cao khả năng tự
học, tự cập nhật kiến thức của người dạy và người học. Việc nâng cao chất lượng
đội ngũ giáo viên, cung cấp các trang thiết bị hiện đại đạt chuẩn phục vụ cho việc
học tập, kèm theo đó là việc đổi mới của phương pháp giảng dạy theo hướng tích
cực thì các nguồn tư liệu, học liệu cũng đóng vai trò không nhỏ là những đồ dùng
cần thiết cho việc giảng dạy và tương tác trở lên gần gũi và hiệu quả hơn. Vai trò
của thiết bị dạy học vừa là trực quan sinh động, vừa là phương tiện để nhận thức,
đôi khi còn là đối tượng chứa nội dung cần nhận thức. Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ
ra, để quá trình nhận thức đạt hiệu quả cao cần phải thông qua quá trình nghe –
nhìn và thực hành, muốn vậy phải có phương tiện (thiết bị và công cụ) để tác động,
hỗ trợ. Mà chính thiết bị dạy học và học liệu thúc đẩy sự giao tiếp trao đổi thông
tin khiến học sinh học tập có hiệu quả, giúp người học tăng cường trí nhớ làm cho
việc học được lâu bền và đáp ứng được nhu cầu học đa dạng.
Ở các nhà trường THCS, các thiết bị học liệu thường được trang bị như
tranh ảnh, dụng cụ hoá chất, tuy nhiên đối với các nội dung bài không có sử dụng
thí nghiệm, mà thay vào đó là những tiết học có yếu tố luyện tập, củng cố thông
qua trò chơi hay tương tác nhóm thì các thiết bị dạy học lại phụ thuộc vào sự sáng
tạo của mỗi giáo viên. Thêm nữa là việc sử dụng thiết bị dạy học ở trường học hiện
này vẫn còn thiếu, không đồng bộ, bố trí lớp học và thời khoá biểu không thuận
tiện cho việc sử dụng khai thác thiết bị dạy học, chưa có quy định bắt buộc phải sử
dụng thiết bị dạy học...Các bài học giáo viên đưa thực tiễn vào bài học, hoặc khi
muốn tổ chức dưới dạng dạy học dự án, dạy học theo chủ đề thì nguồn thiết bị và
học liệu có sẵn không đáp ứng được. Trong khi đó, việc đổi mới và tạo ra nhiều đồ
dùng thiết bị dạy học trong các tiết học, vừa đáp ứng yêu cầu phù hợp với đổi mới
phương pháp, vừa đơn giản, tiết kiệm lại khiến học sinh có thêm nhiều trải nghiệm
hứng thú hơn, điều đó góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng dạy học.
2. Lý do chọn xây dựng sáng kiến
Phân môn sinh học là một môn khoa học thực nghiệm, lí thuyết luôn gắn
liền với thực hành. Xã hội ngày nay càng tiến bộ thì vai trò của sinh học được nâng
lên tầng cao mới. Sinh học tạo ra những khu bảo tồn thiên nhiên, những khu du
lịch sinh thái, những vườn quốc gia.., không chỉ thế nó còn góp phần xây dựng
kinh tế, bảo vệ sức khỏe con người. Còn đối với chủ đề Sinh vật và môi trường nói
riêng nó cũng có vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu về môi trường sống của
sinh vật, hệ sinh thái, tìm hiều về tác động của con người tới môi trường và các
biện pháp bảo vệ môi trường,... Không chỉ thế nó còn có vai trò quan trọng trong
sự nghiệp giáo dục nói chung và ở cấp THCS nói riêng.
Việc đổi mới phương pháp dạy học được xem là một yêu cầu cấp thiết trong
quá trình nâng cao chất lượng giảng dạy. Và việc đổi mới phương pháp dạy học
trong nhà trường hiện nay rất cần thiết nhưng đôi lúc còn mang tính hình thức, thử
nghiệm chưa đem lại hiệu quả như mong muốn. Đôi khi trong quá trình giảng dạy,
giáo viên còn dạy học theo kiểu truyền thụ kiến thức một chiều. Giáo viên giảng
giải, học sinh lắng nghe, ghi nhớ và biết nhắc lại những điều mà giáo viên truyền
đạt. Giáo viên chủ động cung cấp tri thức cho học sinh, áp đặt những kinh nghiệm,
hiểu biết, cách cảm, cách nghĩ của mình tới học sinh. Giáo viên còn chưa chú trọng
đến việc tiếp thu, vận dụng kiến thức của học sinh cũng như chỉ ra cho người học
con đường tích cực, chủ động để tiếp nhận kiến thức. Do đó có những tiết dạy
giống như những giờ diễn thuyết. Vì thế mà một số giờ học chưa thu hút được sự
chú ý của học sinh. Dẫn đến việc một phần không nhỏ học sinh tỏ ra thờ ơ trong
học tập.
Bên cạnh đó, do sự thiếu thốn về trang thiết bị dạy học như đồ dùng trực
quan, dụng cụ nghe, nhìn, tài liệu tham khảo… cho giáo viên cũng như học sinh
khiến cho việc áp dụng phương pháp dạy học mới gặp nhiều khó khăn dẫn tới việc
dạy – học chay. Học sinh lại có thói quen thụ động, quen nghe, quen chép, ghi nhớ
và tái hiện một cách máy móc, rập khuôn những gì mà giáo viên đã giảng. Đa phần
học sinh chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá bài học. Điều này đã thủ
tiêu óc sáng tạo, suy nghĩ của người học, biến học sinh thành những người quen
suy nghĩ và diễn đạt bằng những ý vay mượn, bằng những lời có sẵn của người
khác. Lẽ ra học sinh là chủ của tri thức lại trở thành lệ thuộc sách vở. Học sinh
chưa hào hứng và chưa quen bộc lộ những suy nghĩ, tình cảm của cả nhân trước
tập thể cho nên khi phải nói và viết, học sinh gặp rất nhiều khó khăn.
Trước yêu cầu của các môn học nói chung và môn Khoa học tự nhiên phân
môn Sinh học nói riêng, tôi thấy cần đổi mới ngay hình thức dạy học nhằm phát
huy tính tích cực chủ động của học sinh, giúp các em yêu thích và học tốt, giúp cho
các em được tự mình khám phá kiến thức cũng như hình thành cho học sinh kỹ
năng và phong cách hoạt động để nắm tri thức một cách chủ động, sáng tạo và tôi
đã mạnh dạn áp dụng sáng kiến “Thiết kế và sử dụng các mô hình học tập giúp
học sinh học tốt chủ đề Sinh vật và môi trường môn Khoa học tự nhiên lớp 8”.
3. Thời gian áp dụng sáng kiến và đối tượng áp dụng
- Thời gian thực hiện: Năm học 2023-2024
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu tập trung thực hiện tại trường
THCS ..........................................................., khối 8, môn Khoa học tự nhiên.
- Đối tượng nghiên cứu: quá trình dạy và học phân môn Sinh học môn Khoa
học tự nhiên lớp 8 chủ đề Sinh vật và môi trường có sử dụng mô hình học tập của
giáo viên và học sinh các lớp 8A1 và 8A2.
+ Lớp thực nghiệm: 8A1 và 8A2.
+ Lớp đối chứng: 8A3 và 8A4.
4. Mục đích nghiên cứu
- Thiết kế và chế tạo được một số mô hình học tập phục vụ việc học tập môn
Khoa học tự nhiên lớp 8 phân môn Sinh học, chủ đề Sinh vật và môi trường.
Những học liệu tự làm này vừa có giá cả hợp lí, có thể dùng lại nhiều năm và có
thể áp dụng sang cho các khối lớp khác.
- Tạo được nguồn học liệu sáng tạo, có hiệu quả cho giáo viên trong dạy
học, nâng cao chất lượng buổi dạy. Tiết kiệm thời gian, công sức để chuẩn bị cho
các tiết học có nội dung tương tự những năm học sau đó mà vẫn đảm bảo chất
lượng dạy học đồng thời khiến học sinh yêu thích môn học, có ấn tượng tốt với
cách dạy của giáo viên.
- Giúp học sinh được học tập với phương pháp học tập và học liệu mới, hiệu
quả, giúp các em dễ tiếp thu bài học, dễ tưởng tượng ra những mô tả trong nội
dung bài học. Tăng cường hứng thú học tập của học sinh, làm cho các em yêu
thích môn học, không cảm thấy môn học nhàm chán, không thấy năng nề khi học,
nâng cao động lực và hiệu quả học tập.
PHẦN II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN
1. Thực trạng
1.1. Thuận lợi và khó khăn
a. Thuận lợi
+ Được sự quan tâm của Ban giám hiệu, của các ban ngành đoàn thể trong
và ngoài nhà trường đã tạo điều kiện cho học sinh được học 2 buổi/ngày nên các
em được tham gia học tập, rèn luyện nhiều ở trường.
+ Trường học trang bị đầy đủ bàn ghế và bảng đen, có thiết bị đồ dùng dạy
học. Giáo viên nhiệt tình, có ý thức trách nhiệm với học sinh.
+ Phụ huynh học sinh đa phần đã có sự quan tâm chăm lo hơn về việc học
hành của con em mình, mua sắm tương đối đầy đủ vở và đồ dùng học tập, tạo điều
kiện thuận lợi cho các em tới trường, thường xuyên giữ được mối liên hệ với giáo
viên chủ nhiệm lớp và nhà trường.
b. Khó khăn
+ Một số giáo viên còn hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ cũng như kinh
nghiệm công tác.
+ Chương trình giáo dục phổ thông mới còn rất mới mẻ, đặc biệt chương
trình mới môn KHTN 8 chỉ vừa áp dụng vào giảng dạy năm 2023 - 2024, nên học
sinh và cả giáo viên chưa quen, khó tiếp cận.
1.2. Khảo sát thực trạng
Để tìm hiểu khách quan hơn về quá trình dạy và học với mô hình của giáo
viên và học sinh trong môn Khoa học tự nhiên lớp 8, tôi đã tiến hành phỏng vấn và
dùng phiếu điều tra (Phụ lục). Kết quả thu được như sau:
- Đối với giáo viên:
Câu 1: Sự cần thiết của sử dụng mô
hình trong dạy môn Khoa học tự
nhiên lớp 8.
Câu 2: Mức độ sử dụng mô hình
Cần thiết
Số lượng
Không cần thiết
%
Số lượng
%
5
100
0
0
Chưa
Hiếm
Thỉnh
Thường
trong dạy học môn Khoa học tự nhiên
lớp 8
bao giờ
khi
thoảng
xuyên
Số lượng
1
1
3
0
Phần trăm (%)
20,0
20,0
60,0
0,0
Câu 3: Khó khăn của GV khi tổ chức dạy học sử dụng mô hình
Mất thời gian, tốn
công sức chuẩn bị
Khó đảm bảo tiến
độ thực hiện
chương trình
chung
Giáo viên chưa
Năng lực của học
thành thạo về cách sinh không đáp
tổ chức
ứng được
Số lượng
%
Số lượng
%
Số lượng
%
Số lượng
%
5
100
1
20
1
20
3
60
Câu hỏi
Số học sinh
khảo sát
Có
Không
(chiếm %)
(chiếm %)
Câu 1: Em có yêu thích và
hứng thú với việc học phân
môn Sinh học không
196
117
79
(59,7%)
(40,3%)
Câu 2: Em có hứng thú với
việc học với mô hình không?
196
175
21
(89,3%)
(10,71%)
- Đối với học sinh:
Câu 3: Thầy cô có thường xuyên sử dụng
mô hình trong dạy học không?
Chưa Hiếm
bao giờ khi
Số lượng
8
17
Phần trăm
4,1%
8,7%
Thỉnh
thoảng
Thường
xuyên
145
26
73,9%
13,3%
2.3. Đánh giá thực trạng
Qua phỏng vấn và khảo sát, tôi nhận thấy việc sử dụng mô hình trong dạy và
học mang lại một số thành công sau:
- Tạo được không khí vui tươi, sinh động cho giờ dạy.
- Có thể phát triển năng lực toàn diện cho học sinh từ tâm lí, tính cách cho
đến kỹ năng và hành vi giao tiếp…
- Học sinh làm việc tập thể nên có thể bổ sung cho nhau những thiếu sót.
- Qua quan sát hoạt động của các em với mô hình, giáo viên có thể đánh giá
chính xác năng lực của từng học sinh từ đó kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy học
cho phù hợp, đồng thời cũng kịp thời chấn chỉnh thái độ học tập không tốt của học
sinh.
Tuy nhiên đi kèm với đó là những hạn chế
- Giáo viên thường bị động về thời gian.
- Không phải mô hình nào cũng đem lại hiệu quả như mong muốn.
Với lứa tuổi của các em học sinh khối THCS rất hiếu động, sự tập trung cho
học tập chú ý chưa cao. Tư duy của các em còn nặng về trực quan cụ thể, tư duy
trừu tượng chưa phát triển. Học theo các phương pháp học tập mới, học sinh được
học tập tích cực, chủ động, hứng thú do có cơ hội chia sẻ những trải nghiệm cá
nhân, có cơ hội thực hành và vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào đời sống
hằng ngày. Học sinh có nhiều cơ hội để độc lập suy nghĩ khi làm việc cá nhân và
có nhiều cơ hội để phát huy năng lực hợp tác khi học theo nhóm. Học sinh chủ yếu
làm việc theo nhóm nhỏ và sau mỗi nội dung học tập, các em được tranh luận,
được đánh giá lẫn nhau. Việc tự học của học sinh được thực hiện trong bối cảnh có
hướng dẫn của giáo viên. Các em được giáo viên giao nhiệm vụ, được giáo viên
trực tiếp hỗ trợ khi cần. Các em cũng được nghe ý kiến của giáo viên như là những
quyết định của trọng tài trong các cuộc thảo luận, trao đổi ý kiến.
Bên cạnh những thuận lợi đã nêu trên, học theo các phương pháp mới học
sinh cần có nhiều thay đổi về cách học. Học sinh cần học một cách chủ động, tự
đọc sách, tự thực hiện các hoạt động theo chỉ dẫn của sách. Khi có khó khăn, các
em cần tự tìm kiếm sự hỗ trợ từ bạn trong cùng cặp, cùng nhóm, tìm kiếm sự hỗ
trợ của giáo viên. Phương pháp học tập với mô hình chú trọng vào phát triển tuy
duy trừu tượng. Học sinh được rèn kĩ năng hợp tác với bạn cùng cặp, nhóm, cùng
lớp. Học sinh không chỉ học theo cách làm nêu trong sách mà còn được khuyến
khích phát biểu các ý kiến cá nhân, đề xuất cách thực hiện nhiệm vụ học tập cùng
bạn. Tuy nhiên, những thay đổi về cách học đối với học sinh không phải là thách
thức lớn đối với học sinh vì đây là khối lớp 8, việc học tập chưa tích cực không
hoàn toàn là thói quen không tốt của các em. Nó không phải là rào cản lớn lắm
trong thực hiện học tập tích cực của các em.
Vì thế, muốn hoạt động dạy học với mô hình thành công, giáo viên phải nắm
vững phương pháp, biết cách tổ chức, biết kết hợp nhiều phương tiện, kỹ thuật hỗ
trợ. Song yếu tố quyết định vẫn là ở học sinh. Ngoài việc phải năng động, tích cực,
các em cần được hướng dẫn cụ thể trước khi tiến hành khám phá mô hình.
2. Đề xuất một số giải pháp thực hiện
2.1. Quy trình chung về thiết kế và sử dụng mô hình
Bước 1: Lựa chọn đề tài
- Việc lựa chọn đề tài rất quan trọng. Đề tài quá khó hoặc quá dễ đối với học
sinh đều ảnh hưởng đến hoạt động học tập của học sinh. Lựa chọn vấn đề phải phù
hợp, có tính chất kích thích tính tích cực chủ động làm việc của học sinh. Đề tài
phải là vấn đề chính của bài học, vấn đề có thể có nhiều hướng khai thác khác
nhau, nhiều cấp độ nhận thức khác nhau. Thường là loại cấp độ phát hiện và suy
luận thì sẽ phù hợp với học tập qua mô hình.
Bước 2: Nghiên cứu kiến thức
- Sau khi lựa chọn được đề tài phù hợp để làm mô hình, giáo viên cần tham
khảo thêm các kiến thức liên quan từ các tài liệu tham khảo, các kênh thông tin uy
tín, đáng tin cậy. Việc làm này sẽ hình thành nên nhiều ý tưởng hay, sáng tạo khi
thực hiện mô hình học tập.
- Ngoài ra giáo viên còn có thể tham khảo các mô hình có sẵn trên internet,
các mô hình đã được áp dụng trước đó và cho kết quả tốt sẽ được học hỏi, những
mô hình không đem lại hiệu quả như mong muốn sẽ là một bài học kinh nghiệm
phù hợp cho các bước tiếp theo.
Bước 3: Làm mô hình
- Khi đã có đầy đủ các thông tin, giáo viên tiến hành làm mô hình theo
những hiểu biết, tưởng tượng và sáng tạo của bản thân. Giáo viên nên tự làm một
bản vẽ chi tiết, một quy trình làm mô hình cụ thể để làm theo cũng như làm thông
tin lưu lại về sau.
- Mô hình nên làm từ những vật dụng có sẵn để tiết kiệm chi phí, tuy nhiên
vẫn phải đảm bảo minh họa đầy đủ và chính xác thông tin, kiến thức cần truyền đạt
cho học sinh. Ngoài ra mô hình cũng cần đáp ứng tiêu chuẩn về độ bền để có thể
được sử dụng trong các năm học tiếp theo mà không cần làm lại mô hình khác.
Bước 4: Kiểm tra tính hợp lý của mô hình
- Sau khi có mô hình hoàn chỉnh, giáo viên cần kiểm tra lại mô hình dựa
theo những gì cần truyền đạt, nên có bảng đánh giá chi tiết để có cái nhìn tổng
quát. Mô hình làm ra cần đáp ứng được các yêu cầu của bước 3. Ở giai đoạn này,
giáo viên có thể thử dùng mô hình để truyền đạt kiến thức xem có hợp lý chưa
trước khi đưa vào áp dụng trong dạy học thực tế.
Bước 5: Áp dụng vào thực tiễn dạy và học
- Sau khi kiểm tra, mô hình có thể được đưa vào dạy học thử nghiệm trên
lớp. Giáo viên cần theo dõi để đánh giá hiệu quả của việc áp dụng biện pháp so với
các lớp đối chứng (không áp dụng biện pháp).
- Trong quá trình áp dụng thực tế, giáo viên cần thay đổi, tích hợp mô hình
trong các hoạt động dạy học tích cực khác nhau để không gây nhàm chán và phát
huy được hết giá trị của mô hình.
Bước 6: Tổng kết đánh giá
- Tổng kết đánh giá là khâu cuối cùng của hoạt động. Vấn đề cốt lõi của
khâu này là phải tìm ra được vấn đề - có thể xem như chân lý mà biện pháp đã đạt
được hoặc chưa đạt được. Ngoài ra cũng cần đánh giá khả làm việc của hóc sinh:
Các nhóm làm việc có khoa học hay không? Những ai tích cực, những ai lười
biếng, hay làm chuyện riêng, cần rút kinh nghiệm gì?… Giáo viên nên có cái nhìn
tổng quát thì mới đánh giá toàn diên và chính xác nhất.
2.2. Một số ví dụ minh họa cụ thể
Bài 41. Môi trường và các nhân tố sinh thái
- Đơn vị kiến thức áp dụng: Mục I. Môi trường sống, bài 41. Môi trường và các
nhân tố sinh thái.
- Mục đích: Cho học sinh nắm khái niệm môi trường sống của sinh vật, tưởng
tượng ra được một môi trường sống thực tế bao gồm các yếu tố nào.
- Chuẩn bị: Giấy bìa, màu nước, kéo, keo dán.
- Tiến hành:
+ Bước 1: Cắt 3 tấm giấy bìa hình chữ nhật bằng nhau. Tô màu xanh cho
chúng để làm phông nền và khung cho mô hình.
+ Bước 2: Ghép 3 tấm bìa lại lại khung bằng keo dán.
+ Bước 3: Cắt tạo hình các loài động vật trong nước như cá, ốc, sao biển,…
+ Bước 4: Tô màu tạo hình và dán lên khung để tạo mô hình hoàn chỉnh.
+ Bước 5: Hoàn chỉnh mô hình bằng cách chỉnh sửa, thêm các chi tiết.
- Áp dụng trong thực tế dạy học: Sử dụng phối hợp kỹ thuật khăn trải bàn, cho HS
quan sát mô hình, thảo luận và trả lời câu hỏi.
- Kết quả áp dụng: Học sinh hiểu bài, nắm kiến thức bài tốt, các em phản hồi tích
cực sau khi học xong bài.
- Hình ảnh mô hình:
Hình 1. Mô hình môi trường sống dưới nước
Bài 44. Hệ sinh thái
Mục I. Hệ sinh thái
- Đơn vị kiến thức áp dụng: Mục I. Hệ sinh thái, bài 44. Hệ sinh thái.
- Mục đích: Cho học sinh nắm khái niệm hệ sinh thái, nhận biết một hệ sinh thái
hoàn chỉnh, nêu được các thành phần chủ yếu của một hệ sinh thái.
- Chuẩn bị: Giấy bìa, màu nước, kéo, keo dán.
- Tiến hành:
+ Bước 1: Cắt 3 tấm giấy bìa hình chữ nhật bằng nhau. Tô màu xanh cho
chúng để làm phông nền và khung cho mô hình.
+ Bước 2: Ghép 3 tấm bìa lại lại khung bằng keo dán.
+ Bước 3: Cắt tạo hình các loài động vật trong nước như cá, ốc, rong biển,
đá, san hô, cua,…
+ Bước 4: Tô màu tạo hình và dán lên khung để tạo mô hình hoàn chỉnh, các
sinh vật có thể bơi lơ lững dùng xiên gỗ để đính vào tạo hiệu ứng không gian.
+ Bước 5: Hoàn chỉnh mô hình bằng cách chỉnh sửa, thêm các chi tiết.
- Áp dụng trong thực tế dạy học: Sử dụng phối hợp kỹ thuật dạy học theo nhóm,
dùng trò chơi tiếp sức. Đầu tiên GV cho HS xem mô hình, giảng về khái niệm hệ
sinh thái và giới thiệu mô hình là một hệ sinh thái dưới biển. Sau đó chia lớp thành
6 nhóm, cho các nhóm tiếp sức để ghi ra các thành phần của hệ sinh thái.
- Kết quả áp dụng: Học sinh hiểu bài, nắm kiến thức bài tốt, các em phản hồi tích
cực sau khi học xong bài.
- Hình ảnh mô hình:
Hình 2. Mô hình hệ sinh thái dưới biển
Mục IV. Thực hành điều tra thành phần quần xã sinh vật trong hệ sinh thái
- Đơn vị kiến thức áp dụng: Mục IV. Thực hành điều tra thành phần quần xã sinh
vật trong hệ sinh thái, bài 50. Hệ sinh thái.
- Mục đích: Cho học sinh thực hành điều tra các thành phần của hệ sinh thái.
- Chuẩn bị: Giấy bìa, màu nước, kéo, keo dán.
- Tiến hành:
+ Bước 1: Cắt thùng giấy tạo khung cho mô hình. Dùng một tấm bìa vẽ cảnh
rừng núi để làm phông nền và khung cho mô hình.
+ Bước 2: Ghép phông nên và khung lại bằng keo dán.
+ Bước 3: Cắt tạo hình các loài động vật và thực vật phù hợp.
+ Bước 4: Tô màu tạo hình và dán lên khung để tạo mô hình hoàn chỉnh.
+ Bước 5: Hoàn chỉnh mô hình bằng cách chỉnh sửa, thêm các chi tiết.
- Áp dụng trong thực tế dạy học: Sử dụng phối hợp kỹ thuật dạy học theo nhóm.
Đầu tiên GV cho HS xem mô hình, yêu cầu các nhóm thảo luận theo nhóm và hoàn
thành yêu cầu điều tra các thành phần của hệ sinh thái theo mẫu cho sẵn.
- Kết quả áp dụng: Học sinh làm việc hăng hái, kết quả cho ra chính xác hơn khi so
sánh với các năm học trước học sinh chỉ được quan sát tranh ảnh.
- Hình ảnh mô hình:
Hình 3. Mô hình hệ sinh thái rừng nhiệt đới
PHẦN III. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ÁP DỤNG VÀ PHẠM VI ẢNH HƯỞNG
CỦA SÁNG KIẾN
1. Hiệu quả của sáng kiến
* Một số hiệu quả nổi bật về mặt xã hội:
- Nâng cao chất lượng dạy học: Việc sử dụng mô hình giúp học sinh dễ dàng
hình dung và ghi nhớ các khái niệm trừu tượng, phức tạp trong môn Sinh học, từ
đó nâng cao chất lượng tiếp thu kiến thức và kỹ nãng.
- Phát triển tư duy sáng tạo: Mô hình khuyến khích học sinh suy nghĩ độc
lập, sáng tạo, tự xây dựng mô hình của riêng mình để giải thích các hiện tượng,
vấn đề sinh học. Qua đó, học sinh rèn luyện được kỹ nãng tư duy phản biện, giải
quyết vấn đề và phát triển khả năng sáng tạo.
- Gắn lý thuyết với thực tiễn: Mô hình giúp học sinh liên hệ kiến thức đã học
với thực tế, từ đó hiểu rõ hơn về ứng dụng của kiến thức trong đời sống. Ví dụ, mô
hình hoạt động của hệ tiêu hóa giúp học sinh hiểu rõ hơn về quá trình tiêu hóa thức
ăn trong cơ thể người.
- Rèn luyện kỹ nãng học tập: Mô hình thường được sử dụng trong các hoạt
động học tập nhóm, khuyến khích học sinh thảo luận, chia sẻ ý tưởng và phối hợp
cùng nhau để hoàn thành mô hình. Qua đó, học sinh rèn luyện được kỹ năng làm
việc nhóm, giao tiếp hiệu quả và hợp tác với người khác.
- Kích thích hứng thú học tập: Việc sử dụng mô hình giúp biến việc học
Sinh học trở nên sinh động, hấp dẫn hơn, từ đó kích thích hứng thú học tập của học
sinh. Học sinh sẽ cảm thấy thích thú và hào hứng khi được tham gia vào các hoạt
động học tập sử dụng mô hình.
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Việc áp dụng sáng kiến sử dụng mô
hình trong dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Sinh học, từ đó
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai.
- Phát triển giáo dục: Việc sử dụng mô hình là một giải pháp đổi mới trong
dạy học, góp phần phát triển giáo dục và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường
quốc tế.
-
 









Các ý kiến mới nhất