Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

SKKN Đổi mới hoạt động khởi động nhằm tăng hứng thú học tập môn Khoa học Tự nhiên 6

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Trọng Kỳ Anh
Ngày gửi: 14h:44' 12-03-2026
Dung lượng: 13.9 MB
Số lượt tải: 23
Số lượt thích: 0 người
BÁO CÁO
BIỆN PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÔNG TÁC GIẢNG DẠY BỘ MÔN
Tên biện pháp: “Đổi mới hoạt động khởi động
nhằm tăng hứng thú học tập môn Khoa học
Tự nhiên 6 (chủ đề Năng lượng và Sự biến
đổi – Trái Đất và Bầu trời)”

T

Tên biện pháp: “Đổi mới hoạt động khởi động nhằm tăng hứng thú học tập
môn Khoa học Tự nhiên 6 (chủ đề Năng lượng và Sự biến đổi – Trái Đất và
Bầu trời)”.
I. LÍ DO CHỌN BIỆN PHÁP
Theo báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI:“Đổi mới chương
trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng
hiện đại; nâng cao chất lượng toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng,
giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo,
kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội”. Văn
Kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII tiếp tục khẳng định “giáo dục là quốc
sách hàng đầu, phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang
bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi
đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn. Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn
với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội”.
Một trong những sự đổi mới giáo dục là đổi mới về phương pháp dạy học theo
hướng hoạt động hóa người học, trong quá trình tổ chức hoạt động lĩnh hội tri
thức thì lấy học sinh làm trung tâm. Theo hướng này giáo viên đóng vai trò tổ
chức và điều khiển học sinh chiếm lĩnh tri thức, tự lực hoạt động tìm tòi để
dành kiến thức mới. Trong sự đổi mới này không phải chúng ta loại bỏ phương
pháp truyền thống mà cần tìm ra những yếu tố tích cực, sáng tạo trong từng
phương pháp. Để thừa kế và phát huy phương pháp đó cần sử dụng một cách
linh hoạt các phương pháp dạy học phù hợp như thuyết trình, đàm thoại, hoạt
động nhóm, nêu vấn đề, nghiên cứu kết hợp tiến hành thí nghiệm…
Chương trình giáo dục phổ thông mới được cho là kế thừa các nguyên lý giáo
dục nền tảng của chương trình giáo dục hiện hành bao gồm "học đi đôi với
hành", "lý luận gắn liền với thực tiễn", "giáo dục ở nhà trường kết hợp với giáo
dục ở gia đình và xã hội". Khi nói đến môn Khoa học tự nhiên hầu hết các em
học sinh với suy nghĩ rằng đó là môn học khó, đòi hỏi nhiều tư duy nên học sinh
thường dễ lơ là và bỏ qua môn học này. Nhiều giáo viên còn chưa chú trọng đến
việc tiếp thu, vận dụng kiến thức của học sinh cũng như chưa chỉ ra cho người
học con đường tích cực, chủ động để tiếp nhận kiến thức, có những tiết dạy
giống như những giờ diễn thuyết và không ít học sinh còn tỏ ra thờ ơ với việc
học tập bộ môn này.

Thông thường, mỗi bài học được thiết kế thành các hoạt động nối tiếp nhau, đó
là: Hoạt động khởi động; Hoạt động hình thành kiến thức; Hoạt động luyện tập;
Hoạt động vận dụng/tìm tòi, mở rộng. Trước yêu cầu đổi mới phương pháp giáo
dục hiện nay, tất yếu giáo viên cần coi trọng hoạt động khởi động sao cho tạo
được ấn tượng đầu tiên tốt đẹp nhất giúp học sinh chủ động, tự tin khám phá
kiến thức. Một hoạt động khởi động hiệu quả sẽ có tác dụng tích cực trong việc
kích thích trí tò mò, khơi dậy hứng thú của học sinh, tạo tâm thế và định hướng
nội dung học tập cho các em. Từ đó các em yêu thích môn học hơn, đồng thời
chất lượng bộ môn được nâng cao hơn. Hoạt động khởi động là hoạt động đầu
tiên của bài học, có vai trò quan trọng trong việc thu hút sự chú ý, kích thích
hứng thú học tập của học sinh, tạo tiền đề cho việc hình thành kiến thức mới.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy hoạt động khởi động trong dạy học môn Khoa học
tự nhiên hiện nay còn nhiều hạn chế, chủ yếu tập trung vào các hình thức như:
đặt câu hỏi gợi mở, câu hỏi vấn đáp, cho học sinh quan sát thí nghiệm, hình ảnh,
phát hiện kiến thức mới qua vấn đề có liên quan. Những hình thức này tuy đã
phát huy được một số tác dụng nhất định, nhưng chưa thực sự đáp ứng được yêu
cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
Với những lí do trên nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy học, giúp học
sinh có hứng thú khi học và lựa chọn các phân môn của môn học Khoa học tự
nhiên là môn định hướng nghề nghiệp trong tương lai tôi đã nghiên cứu và thực
hiện đề tài Đổi mới hoạt động khởi động nhằm tăng hứng thú học tập môn
Khoa học Tự nhiên 6 (chủ đề Năng lượng và Sự biến đổi – Trái Đất và Bầu
trời)”. Hy vọng đề tài sẽ góp một phần nhỏ là nguồn tài liệu có ích giúp các thầy
cô và các bạn đọc tham khảo và vận dụng vào quá trình dạy học môn Khoa học
tự nhiên ở các trường trung học cơ sở.
II. MỤC ĐÍCH CỦA BIỆN PHÁP
Một hoạt động khởi động hiệu quả sẽ có tác dụng tích cực trong việc kích thích
trí tò mò, khơi dậy hứng thú của học sinh trong học tập, tạo tâm thế và định
hướng nội dung học tập cho các em. Từ đó các em yêu thích môn học hơn, đồng
thời chất lượng bộ môn được nâng cao hơn.
Việc tổ chức hoạt động khởi động cho học sinh trong học dạy môn Khoa học tự
nhiên lớp 6 nhằm xây dựng một số biện pháp tổ chức hoạt động khởi động tạo
hứng thú cho học sinh trong dạy môn Khoa học tự nhiên lớp 6 từ đó nâng cao
chất lượng dạy học bộ môn, cung cấp cho giáo viên nguồn tài liệu giảng dạy đa
dạng, hiệu quả.

III. NỘI DUNG CỦA BIỆN PHÁP
1. Điều kiện thực hiện biện pháp
1.1. Trang bị kiến thức, tập huấn kĩ năng hợp tác nhóm
 Giáo viên cần được bồi dưỡng, tự bồi dưỡng về dạy học định hướng phát
triển phẩm chất, năng lực, dạy học STEM và phương pháp tổ chức hoạt
động nhóm (phân vai, điều hành, ghi chép, báo cáo…).
 Học sinh được hướng dẫn trước một số kĩ năng cơ bản để làm việc nhóm
hiệu quả: lắng nghe, tôn trọng ý kiến khác biệt, thống nhất phương án,
phân công nhiệm vụ, quản lí thời gian, ghi chép kết quả và thuyết trình
sản phẩm.
 Ngay từ đầu năm học, giáo viên thống nhất với học sinh về “quy ước làm
việc nhóm” (quy định điểm thưởng – phạt, cách đánh giá cá nhân trong
nhóm, quy tắc phát biểu…) và duy trì nhất quán qua nhiều bài học để hình
thành thói quen.
 Tổ/nhóm chuyên môn sinh hoạt, trao đổi kinh nghiệm về dạy học STEM,
cùng góp ý giáo án, rút kinh nghiệm sau mỗi tiết dạy có tổ chức hoạt động
nhóm, từ đó hoàn thiện dần quy trình tổ chức cho phù hợp với đối tượng
học sinh của trường.
1.2. Lựa chọn nội dung, lên kế hoạch dạy học gắn kết với thực tiễn
 Nội dung chủ đề STEM “Tách chất ra khỏi hỗn hợp” (hoặc các chủ đề
tương tự) được lựa chọn trên cơ sở bám sát chương trình GDPT 2018 môn
Khoa học tự nhiên 6 và kế hoạch giáo dục của nhà trường, bảo đảm không
làm “vỡ” tiến độ chương trình.
 Giáo viên nghiên cứu kĩ SGK, SGV, tài liệu tham khảo, xác định rõ chuẩn
kiến thức – kĩ năng cần đạt; trên cơ sở đó thiết kế nhiệm vụ học tập gắn
với tình huống thực tiễn ở địa phương (chất lượng nguồn nước, xử lí nước
sinh hoạt, phân loại rác, sử dụng vật liệu tái chế…).
 Nhà trường bố trí thời lượng hợp lí trong kế hoạch dạy học (tiết chính
khóa, tiết thao giảng/chuyên đề, tiết tích hợp…) để giáo viên có đủ thời
gian cho các pha hoạt động STEM: nêu vấn đề – đề xuất giải pháp – thiết
kế, chế tạo – thử nghiệm, đánh giá, hoàn thiện.
 Giáo viên xây dựng kế hoạch chủ đề chi tiết (mục tiêu, tiến trình hoạt
động, nguồn lực, tiêu chí đánh giá sản phẩm, kế hoạch kiểm tra – đánh
giá) và trao đổi trước với tổ/nhóm chuyên môn, Ban giám hiệu để được
góp ý, hỗ trợ kịp thời.
1.3. Chuẩn bị điều kiện cơ sở vật chất
 Phòng học đảm bảo đủ ánh sáng, thông thoáng, có khả năng sắp xếp lại
bàn ghế linh hoạt theo nhóm; ưu tiên sử dụng phòng học bộ môn Khoa
học tự nhiên nếu có (có chậu rửa, ổ cắm điện, tủ dụng cụ…).
 Nhà trường trang bị hoặc cho phép giáo viên sử dụng các thiết bị dạy học
cơ bản: máy chiếu/TV, máy tính/laptop, loa, bảng phụ, giấy A0/A1, bút
dạ, phiếu học tập, bảng tiêu chí đánh giá sản phẩm STEM.

Giáo viên chủ động chuẩn bị dụng cụ, vật liệu cho thí nghiệm và chế tạo
sản phẩm: cốc, phễu, giấy lọc, than hoạt tính, sỏi, cát, chai nhựa, dây, kéo,
băng dính…; tận dụng tối đa vật liệu rẻ tiền, dễ kiếm, ưu tiên đồ tái chế để
phù hợp điều kiện của học sinh và định hướng giáo dục bảo vệ môi
trường.
 Với những vật liệu, thiết bị khó chuẩn bị số lượng lớn, giáo viên có
phương án tổ chức linh hoạt (thí nghiệm mẫu, luân phiên các trạm hoạt
động, sử dụng video minh họa…) để vẫn đảm bảo học sinh được quan sát,
trải nghiệm và rút ra kết luận.
1.4. Hướng dẫn sử dụng phần mềm hỗ trợ
 Giáo viên nắm vững một số phần mềm, ứng dụng cơ bản phục vụ dạy học
STEM và hoạt động nhóm như: trình chiếu (PowerPoint/Canva), trò chơi
tương tác và kiểm tra nhanh (Kahoot, Quizizz, Azota…), công cụ làm
việc chung (Google Docs, Google Sheets, Google Slides), nền tảng giao
bài và thu sản phẩm online của nhà trường.
 Học sinh được hướng dẫn từng bước, từ những thao tác đơn giản: đăng
nhập tài khoản, truy cập lớp học/nhóm, xem tài liệu, trả lời câu hỏi, nộp
sản phẩm, cho đến việc sử dụng các công cụ chèn hình ảnh, vẽ sơ đồ, lập
bảng, chèn video… để thiết kế báo cáo nhóm.
 Trước khi triển khai chủ đề, giáo viên nên dành một vài tiết/hoạt động
ngắn (tích hợp trong giờ học hoặc giờ sinh hoạt) để HS “làm quen” với
phần mềm thông qua những nhiệm vụ đơn giản, vui nhộn (trò chơi ôn tập,
phiếu khảo sát online, bảng ý tưởng nhóm…).
 Nhà trường hỗ trợ hạ tầng kết nối Internet ổn định, khuyến khích giáo
viên – học sinh sử dụng phần mềm hợp pháp, miễn phí hoặc đã được cấp
bản quyền; đồng thời có quy định cụ thể về an toàn, bảo mật thông tin, sử
dụng thiết bị số đúng mục đích trong giờ học.
Bạn có thể chỉnh sửa thêm một số chi tiết cho khớp với bối cảnh trường, tên chủ
đề cụ thể (“Tách chất ra khỏi hỗn hợp”, “Đo thời gian”, “Đồng hồ nước”…)
nhưng khung nội dung trên đã đủ cho mục “Điều kiện thực hiện biện pháp”
trong SKKN.


2. Nội dung và các giải pháp thực hiện
a) Giải pháp 1: Tăng cường các hoạt động thực hành, qua đó rèn luyện kỹ
năng thực hành toán học gần gũi với thực tiễn
Giải pháp 1. Hoạt động khởi động bằng trò chơi, hoạt động vui chơi
Trò chơi luôn là hoạt động thu hút sự tham gia nhiệt tình từ học sinh,
không chỉ vì mang lại niềm vui mà còn vì nó khơi dậy niềm đam mê học hỏi.
Trò chơi không chỉ tạo ra sự hứng khởi, mà còn là một phương tiện hiệu quả để
ôn tập kiến thức đã học, củng cố nội dung mới, và giúp học sinh tiếp cận bài học
một cách tự nhiên hơn. Ngoài ra, trò chơi còn mang lại cơ hội để các em phát
triển các kỹ năng làm việc nhóm, giao tiếp, hợp tác và tăng cường khả năng tư
duy sáng tạo, linh hoạt trong giải quyết vấn đề.

Phương pháp giảng dạy kết hợp trò chơi yêu cầu giáo viên thiết kế các
hoạt động phù hợp với nội dung bài học, từ đó khuyến khích học sinh tham gia
một cách tích cực ngay từ những phút đầu tiên của tiết học. Thông qua việc
tham gia vào các trò chơi, học sinh dễ dàng tiếp thu kiến thức mà không cảm
thấy áp lực, đồng thời rèn luyện tính tự giác và tinh thần kỷ luật trong học tập.
Có rất nhiều trò chơi có thể được sử dụng để khởi động tiết học, chẳng
hạn như các trò: Bingo, Tìm đường về nhà, Mảnh ghép bí ẩn, Ghép hình, Ô chữ,
Qua ống nhòm, Phần quà may mắn, Nhanh như chớp, Cờ cá ngựa, Ai về đích
nhanh nhất, Ai nhanh hơn...
Sử dụng hỗ trợ của các phần mềm như quizzi, kahoot, online-stopwatch
để tạo cho trò chơi thêm phần sinh động và thú vị hơn, biến các trò chơi quen
thuộc trở nên thú vị và sáng tạo hơn. Đặc biệt với online-stopwatch với đa dạng
hình thức gọi tên , giáo viên hỗ trợ HS cảm thấy hào hứng hơn, thú vị hơn ở
phần khởi động, chỉ một thay đổi nhỏ nhưng tạo ra không khí tuyệt vời trong
lớp, giúp học sinh thoát khỏi sự nhàm chán qua nhiều tiết học, tạo nền tảng cho
một tiết học hiệu quả.

Những trò chơi này không chỉ làm cho tiết học trở nên sôi nổi và hấp dẫn
hơn mà còn giúp học sinh rèn luyện sự tự tin, phản xạ nhanh nhạy, phát huy tính
sáng tạo. Đồng thời, chúng cũng góp phần nâng cao tinh thần đoàn kết, tăng
cường sự tương tác giữa học sinh với nhau và giữa học sinh với giáo viên.
Phương pháp học tập thông qua trò chơi không chỉ mang đến sự hứng thú
cho học sinh mà còn giúp các em phát triển nhiều kỹ năng quan trọng như tự
giác, giao tiếp và hợp tác. Từ đó, chất lượng học tập của các em được nâng cao
một cách toàn diện, tạo nền tảng vững chắc cho quá trình học tập lâu dài.
Hoạt Động Khởi Động Tiết 2 Bài 6 Đo thời gian - Kết hợp Stopwatch
và trò Chơi "Bức Tranh Bí Ẩn" thay vì bức tranh bí ẩn quen thuộc thường
thấy và khá quen thuộc với cả học sinh và giáo viên, chúng ta sử dụg
Cách thực hiện:
Bước 1: Giới thiệu trò chơi.
- Chọn các mảnh ghép bất kì
- Hoàn thành câu hỏi ở mảnh ghép
- Trả lời đúng – lật mảnh ghép
- Trình bày bức tranh bí ẩn

Bước 3: Thực hiện trò chơi.
- GV sử dụng phần mềm online-stopwatch để gọi tên GV trả lời câu hỏi,
có nhiều hình thứu, có thể gọi theo tê, theo số, ở đây tôi thực hiện theo gọi tên
học sinh, bằng cách tải danh sách lớp lên phần mềm.

Có nhiều hình thức lựa chọn, ở bài này tôi chọn Magic Hat

HS được gọi tên chọn mảnh ghép và trả lời câu hỏi, trả lời sai sẽ
gọi HS khác.
Trò chơi Bức Tranh Bí Ẩn
Câu 1: Đơn vị đo thời gian trong hệ thống đo lường chính thức ở
nước ta là:
A. Tuần

B. Ngày
C. Giây
D. Giờ
Câu 2: Để do thời gian của vận động viên chạy 100 m, loại đồng hồ
thích hợp nhất là
A. đồng hồ để bàn
B. đồng hồ bấm giây
C. đồng hồ treo tường
D. đồng hồ cát
Câu 3. An đi từ nhà đến bến xe mất 20 phút, sau đó xe buýt đến Đầm
sen mất 55 phút. Hỏi An đi từ nhà đến Đầm Sen mất bao nhiêu giờ?
A. 75 phút
B. 1 giờ 20 phút
C. 1 giờ 15 phút
D. 1 giờ 75 phút
Câu 4. Em hãy cho biết 3 giờ bằng bao nhiêu giây?
A. 1080 giây
B. 1800 giây
C. 180 giây
D. 10800 giây
Câu 5. Trước khi đo thời gian của một hoạt động, ta thường ước
lượng khoảng thời gian của hoạt động đó để?
A. Đặt mắt đúng cách.
B. Hiệu chỉnh đồng hồ đúng cách.
C. Lựa chọn đồng hồ phù hợp.
D. Đọc kết quả chính xác.
Câu 6. Khi đo thời gian chạy 200 m của bạn An trong giờ thể dục, em
sẽ đo khoảng thời gian
A. từ lúc bạn An lấy đà chạy tới lúc về đích.
B. bạn An chạy 100 m rồi nhân đôi.
C. bạn An chạy 50 m rồi nhân ba.
D. từ lúc có lệnh xuất phát tới lúc về đích.
- Từ bức tranh ẩn, dẫn vào bài mới: Chúng ta cùng nhau tạo đồng hồ cát
trong hôm nay.

Bước 4: Tổng kết và tuyên dương.
Sau khi hết các câu hỏi, giáo viên tổng kết, tuyên dương và trao quà cho
các bạn trả lời đúng.
Hoạt Động Khởi Động Bài 38 Lực tiếp xúc lực không tiếp xúc - Trò
Chơi "Phần quà may mắn"
Cách thực hiện:
Bước 1: Giới thiệu trò chơi.
- Khi nhạc bắt đầu, chuyền phần quà bí ẩn lần lượt qua các HS
- Khi nhạc tắt, phần quà trên tay của HS àno thì HS đó trả lời câu hỏi
- Trả lời đúng sẽ được nhận quà.
- Trả lời sai nhường cơ hội cho bạn khác

Bước 3: Thực hiện trò chơi.
- 1 HS bất kỳ nhận hộp quà từ tay GV
- GV mở nhạc, HS truyền hộp quà lần lượt cho nhau
- GV cho nhạc dừng bất ngờ và chiếu câu hỏi.
- HS trả lời đúng để nhận quà tương ứng với câu hỏi hoặc nhừng cơ hội
cho bạn khác nêu trả lời sai

Bước 4: Tổng kết và tuyên dương.
Sau khi hết các câu hỏi, giáo viên tổng kết, tuyên dương và trao quà cho
các bạn trả lời đúng.
Hoạt Động Khởi Động Bài 40 Quần xã sinh vật – Sử dụng Quizizz
Cách thực hiện:
Bước 1: Tạo trò chơi
- Xây dựng bộ câu hỏi và chọn cách thực hiện phù hợp

Bước 3: Thực hiện trò chơi.
- GV hướng dẫn HS tham gia
- Gửi link hoặc mã QR:

Bước 4: Tổng kết và tuyên dương.
Sau khi hết các câu hỏi, giáo viên tổng kết, tuyên dương và trao quà cho
các bạn trả lời đúng.
b) Giải pháp 2. Hoạt động khởi động bằng tình huống thực tiễn
- Sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học giúp học sinh nắm
vững kiến thức, hình thành và phát triển các kĩ năng trong học tập khoa học.
- Giáo viên cũng cần sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học mà ở đó
học sinh được đặt vào tình huống thực tiễn.
- Học sinh thông qua các tình huống được tự mình trải nghiệm, lĩnh hội
kiến thức và giải quyết vấn đề thực tiễn thông qua kiến thức đã học, qua đó vừa
chiếm lĩnh được kiến thức khoa học, vừa có thể giải thích được các vấn đề thực
tiễn địa phương liên quan hoặc đánh giá các vấn đề thực tiễn, đề xuất các biện
pháp khả thi để giải quyết vấn đề.

Ưu điểm của các phương pháp khởi động này là trong giờ học giáo viên
đã tạo được hứng thú cho người học, kích thích sự ham muốn được khám phá
kiến thức cho người học, giáo viên chủ động trong việc tổ chức dạy học và
không mất nhiều thời gian.
Hạn chế của biện pháp dạy học này là người học cần phải có khả năng
liên tưởng, quan sát, tư duy trừu tượng và khái quát hóa tốt; một số vấn đề thực
tiễn tích hợp nhiều kiến thức liên quan nên mất nhiều thời gian để giải thích,
chứng minh.
Nguyên tắc xây dựng tình huống thực tiễn:
- Phải đảm bảo tính chính xác, tính khoa học, tính hiện đại:
+ Trong một tình huống thực tiễn, bên cạnh nội dung kiến thức KHTN,
còn có những dữ liệu thực tiễn. Những dữ liệu đó cần phải được đưa vào một
cách chính xác, không tuỳ tiện thay đổi nhằm mục đích dễ tính toán.
+ Đối với một số bài tập về công nghệ, sản xuất, nên đưa vào các dây
chuyền công nghệ đang được sử dụng ở Việt Nam hoặc trên thế giới, không nên
đưa các công nghệ đã quá cũ và lạc hậu hiện không dùng hoặc ít dùng.
- Phải gần gũi với kiến thức của học sinh: Những vấn đề thực tiễn có liên
quan đến KHTN thì rất nhiều và rộng. Nếu bài tập thực tiễn có nội dung về
những vấn đề gần gũi với kinh nghiệm đời sống và môi trường xung quanh học
sinh thì sẽ tạo cho học sinh động cơ và hứng thú mạnh mẽ khi tiếp nhận và giải
quyết vấn đề.
- Phải sát với nội dung học tập: Các bài tập thực tiễn cần có nội dung sát
với chương trình giáo dục. Nếu bài tập thực tiễn có nội dung hoàn toàn mới về
kiến thức KHTN thì sẽ không tạo được động lực cho học sinh để giải bài tập đó.
Quy trình các bước xây dựng tình huống thực tiễn:
+ Bước 1: Xác định mục tiêu bài học.
+ Bước 2: Lựa chọn nội dung lồng ghép từ nội dung kiến thức, mục tiêu
bài học đã xác định ở bước 1.
+ Bước 3: Liên hệ với các hiện tượng, sự kiến thực tiễn có liên quan xung
quanh đời sống hoặc qua các kênh thông tin, internet,…
+ Bước 4: Hình thành tình huống có vấn đề và hướng giải quyết, điều
chỉnh cho phù hợp kiến thức và năng lực của học sinh.
+ Bước 5: Lựa chọn hoạt động để lồng ghép phù hợp và đưa vào giảng
dạy.
Tiến trình khởi động với tình huống thực tiễn:
+ Bước 1: Đặt vấn đề. Giáo viên hoặc học sinh phát hiện vấn đề, nhận
dạng vấn đề, nêu vấn đề cần giải quyết.
+ Bước 2: Tạo tình huống có vấn đề. Tình huống có vấn đề thường xuất
hiện khi: nảy sinh mâu thuẫn giữa điều học sinh đã biết và điều đang gặp phải,

gặp tình huống bế tắc trước nội dung mới hay gặp tình huống, xuất phát từ nhu
cầu nhận thức tại sao.
+ Bước 3: Giải quyết vấn đề. Giáo viên hoặc học sinh đề xuất cách giải
quyết vấn đề khác nhau (nêu giả thuyết khác nhau), thực hiện cách giải quyết đã
đề ra (kiến thức giả thuyết).
+ Bước 4: Kết luận vấn đề. Phân tích để chọn cách giải quyết đúng (lựa
chọn giả thuyết đúng và loại bỏ giả thuyết sai). Nêu kiến thức hoặc kĩ năng, thái
độ thu nhận được từ giải quyết vấn đề trên.
Ví dụ minh họa:
Hoạt động khởi động bài 32. Nhiên liệu và năng lượng tái tạo
a. Mục tiêu
- Tạo hứng thú và kích thích sự tò mò của học sinh vào chủ đề học tập.
- Huy động các kiến thức đã được học của học sinh và tạo nhu cầu tiếp tục
tìm hiểu kiến thức mới. Học sinh tiếp nhận kiến thức chủ động, tích cực, hiệu
quả.
b. Nội dung
- Giáo viên thông báo về hình thức tính điểm thi đua cho các nhóm học tập:
+ Nhóm hoạt động nhanh và chính xác nội dung (tính 1 điểm cộng).
+ Nhóm được trình bày lưu loát, hợp lý (tính 1 điểm cộng).
+ Nhóm sửa lỗi sai cho nhóm bạn (tính 1 điểm cộng).
→ Cuối buổi học giáo viên sẽ tổng dấu phát biểu và quy về thang điểm theo thứ
tự: 4đ, 3đ, 2đ, 1đ cho 4 nhóm học tập.
- Giáo viên đưa ra vấn đề khởi động, học sinh quan sát video, suy nghĩ và trả lời
các câu hỏi.
- Giáo viên chiếu video (https://www.youtube.com/watch?v=Yc0kBuR0J6o),
yêu cầu học sinh xem và trả lời các câu hỏi: “Vấn đề thời sự trong phóng sự là
gì? Theo em, vì sao thầy/cô lại cho các em xem video này trước khi bắt đầu bài
học?”.
- Giáo viên ghi nhận câu trả lời của học sinh, dẫn dắt học sinh vào bài học:
“Năng lượng gió là nguồn năng lượng vô hạn, quá trình sử dụng năng lượng từ
gió không gây ảnh hưởng đến môi trường nên hiện nay đang được tập trung phát
triển. Ngoài ra còn có các nguồn năng lượng khác như mặt trời, thủy triều, dòng
nước,... chúng được gọi chung là năng lượng tái tạo. Để tìm hiểu thêm về những
nguồn năng lượng này, chúng ta cùng học bài 32. Nhiên liệu và năng lượng tái
tạo”
c. Sản phẩm
Vấn đề thời sự được nói đến trong video là tạo ra nguồn điện từ gió.
Thầy/cô cho các em xem video này trước khi bắt đầu bài học vì gió là một trong
những nguồn năng lượng tái tạo.

d. Tổ chức thực hiện
Hoạt động của GV
Hoạt động của HS
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập
- Học sinh tiếp nhận nhiệm vụ.
- Giáo viên yêu cầu học sinh hoạt động nhóm,
đại diện nhóm trả lời câu hỏi khởi động.
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
- Theo dõi các học sinh thực hiện nhiệm vụ, - Học sinh hoàn thành câu trả lời.
hỗ trợ nếu học sinh gặp khó khăn bằng các
gợi ý phù hợp.
Bước 3: Báo cáo kết quả và thảo luận
- Học sinh báo cáo và nhận xét
- Giáo viên mời bất kì học sinh trong nhóm chéo cho nhóm bạn.
báo cáo kết quả.
Bước 4: Kết luận và nhận định
- Học sinh tiếp nhận và ghi bài
- Giáo viên nhận xét và dẫn dắt vào bài mới.
c) Biện pháp 3: Khởi động bằng tình huống có vấn đề
Phần khởi động bài học có thể được thiết kế qua các câu hỏi tình huống
giúp học sinh phát huy khả năng phát hiện và huy động kiến thức sẵn có để giải
quyết vấn đề. Các câu hỏi này không chỉ phát triển tư duy mà còn tạo hứng thú
cho học sinh khi khám phá bài học mới. Việc chuyển từ khởi động đơn giản
sang tổ chức hoạt động cho học sinh tham gia trực tiếp vào giải quyết vấn đề là
một cách tiếp cận hiệu quả. Giáo viên cần xác định rõ mục tiêu, phương pháp tổ
chức, phương tiện hỗ trợ và nhiệm vụ cần giao cho học sinh, đồng thời kết nối
kiến thức cũ với bài học mới.
Khởi động bằng tình huống thực tế giúp học sinh nhận thấy Khoa học Tự
nhiên gắn liền với cuộc sống, tạo động lực học tập. Câu hỏi và bài tập tình
huống cần rõ ràng, sát thực với nội dung bài học và trình độ học sinh, đồng thời
tạo hứng thú cho các em. Các tình huống có thể được tạo ra qua thí nghiệm,
video, hình ảnh hoặc các tình huống thực tiễn. Điều này không chỉ giúp học sinh
tiếp cận kiến thức mới mà còn rèn luyện kỹ năng sống qua các tình huống thực
tế.
Một số tình huống trong KHTN 6
Bài 6: Đo thời gian
Lớp bạn đang tham gia một cuộc thi chạy 1 phút để xem ai chạy nhanh
nhất. Tuy nhiên, lớp không có đồng hồ bấm giây và đồng hồ trên điện thoại lại
không thể đo chính xác thời gian. Bạn có ý tưởng nào để tính thời gian mà
không cần đồng hồ không? Bạn có thể sử dụng những cách đo nào có sẵn để xác
định thời gian của cuộc thi?
Bài 37: Lực hấp dẫn và trọng lượng

Khi bạn và các bạn t
 
Gửi ý kiến