Sáng Kiến Kinh Nghiệm KHTN Hoá 6

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Trọng Kỳ Anh
Ngày gửi: 22h:29' 10-03-2026
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 20
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Trọng Kỳ Anh
Ngày gửi: 22h:29' 10-03-2026
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 20
Số lượt thích:
0 người
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ................
TRƯỜNG THCS .....................
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI: ĐỘT PHÁ TƯ DUY BẰNG KHỞI ĐỘNG SÁNG TẠO
NHẰM GIẢM ÁP LỰC HỌC TẬP CHO HỌC SINH LỚP 6
BƯỚC ĐẦU TIẾP CẬN KHOA HỌC TỰ NHIÊN THÔNG QUA
HÓA HỌC
Người thực hiện:
Môn tham gia:
Khoa học tự nhiên
Chức vụ:
...
Năm học 2025 – 2026
MỤC LỤC
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ....................................................................................................4
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ....................................................................................................4
1. Lý do chọn đề tài..................................................................................................4
1. Lý do chọn đề tài..................................................................................................4
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của sáng kiến.........................................................................4
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của sáng kiến.........................................................................4
3. Đối tượng và phạm vi sáng kiến............................................................................5
3. Đối tượng và phạm vi sáng kiến............................................................................5
4. Phương pháp thực hiện sáng kiến.........................................................................5
4. Phương pháp thực hiện sáng kiến.........................................................................5
PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.......................................................................................6
PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.......................................................................................6
I. Cơ sở lý luận.........................................................................................................6
I. Cơ sở lý luận.........................................................................................................6
II. Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động khởi động............................................13
II. Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động khởi động............................................13
III. Giải pháp cho hoạt động khởi động sáng tạo trong dạy học môn KHTN (phân môn
Hóa học)................................................................................................................15
III. Giải pháp cho hoạt động khởi động sáng tạo trong dạy học môn KHTN (phân môn
Hóa học)................................................................................................................15
1. Khởi động bằng trò chơi..................................................................................15
1. Khởi động bằng trò chơi..................................................................................15
2. Khởi động bằng tình huống thực tiễn...............................................................17
2. Khởi động bằng tình huống thực tiễn...............................................................17
3. Khởi động bằng kể chuyện – tình huống sáng tạo.............................................20
3. Khởi động bằng kể chuyện – tình huống sáng tạo.............................................20
..........................................................................................................................22
..........................................................................................................................22
PHẦN CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM
1. Tên báo cáo sáng kiến kinh nghiệm: “Đột phá tư duy bằng khởi động sáng
tạo nhằm giảm áp lực học tập cho học sinh lớp 6 bước đầu tiếp cận Khoa
học tự nhiên thông qua Hóa học”.
2. Tác giả:
– Họ và tên:
Nam/nữ:
– Trình độ chuyên môn:
– Chức vụ, đơn vị công tác:
– Email:
SĐT:
3. Ý kiến đánh giá của Hội đồng
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
TỪ VIẾT TẮT
Ý NGHĨA
1
KHTN
Khoa học tự nhiên
2
THCS
Trung học cơ sở
3
CTGDPT 2018
Chương trình Giáo dục phổ thông 2018
4
GV
Giáo viên
5
HS
Học sinh
3
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Thực hiện định hướng đổi mới giáo dục theo Chương trình Giáo dục phổ
thông 2018 (CTGDPT 2018), việc tổ chức dạy học theo hướng phát triển phẩm
chất và năng lực HS đòi hỏi GV không ngừng đổi mới phương pháp, hình thức
tổ chức dạy học. Đối với HS lớp 6 – giai đoạn chuyển tiếp từ bậc tiểu học lên
trung học cơ sở – sự thay đổi về môi trường học tập, cách tiếp cận kiến thức và
phương pháp học tập đã tạo ra không ít áp lực tâm lý cho các em.
Môn KHTN lớp 6 là môn học tích hợp, trong đó phân môn Hóa học được
giới thiệu lần đầu tiên một cách có hệ thống. Các kiến thức Hóa học ban đầu
mang tính trừu tượng, nhiều khái niệm mới, dễ gây tâm lý e ngại, sợ học cho HS
nếu không được tiếp cận một cách phù hợp. Thực tế giảng dạy cho thấy, nếu
không tạo được tâm thế tích cực ngay từ đầu tiết học, HS thường học tập thụ
động, thiếu hứng thú, ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp thu kiến thức.
Hoạt động khởi động là bước đầu tiên trong tiến trình dạy học, có vai trò
quan trọng trong việc tạo tâm thế học tập, khơi gợi hứng thú và kích thích tư duy
của HS. Tuy nhiên, trong thực tế, hoạt động này đôi khi chưa được đầu tư đúng
mức, còn mang tính hình thức, chưa phát huy hiệu quả trong việc giảm áp lực
học tập cho HS. Xuất phát từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu và vận dụng các hoạt
động khởi động sáng tạo trong dạy học Hóa học lớp 6 là cần thiết và có ý nghĩa
thực tiễn cao.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của sáng kiến
Mục tiêu của sáng kiến là giúp giảm áp lực tâm lý, tạo hứng thú học tập
cho HS lớp 6 khi bắt đầu tiếp cận phân môn Hóa học nói riêng và môn KHTN
nói chung, xây dựng môi trường học tập sinh động và thúc đẩy sự tham gia tích
cực của HS, đồng thời nâng cao hiệu quả dạy học môn KHTN thông qua việc
đổi mới hoạt động khởi động.
Nhiệm vụ của sáng kiến gồm:
– Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động khởi động trong dạy học theo
định hướng phát triển năng lực.
– Khảo sát thực trạng tâm lý và thái độ học tập của HS lớp 6 đối với nội
dung phân môn Hóa học.
– Thiết kế và tổ chức các hoạt động khởi động sáng tạo, phù hợp với nội
dung Hóa học lớp 6.
4
– Đánh giá hiệu quả của sáng kiến thông qua quan sát, khảo sát và kết quả
học tập của HS.
3. Đối tượng và phạm vi sáng kiến
– Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 6 trong quá trình học tập môn
KHTN (phân môn Hóa học).
– Phạm vi áp dụng: Các tiết dạy Hóa học thuộc chương trình KHTN lớp
6 tại trường trung học cơ sở nơi tác giả công tác.
4. Phương pháp thực hiện sáng kiến
– Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu, văn bản chỉ
đạo, chương trình, sách giáo khoa liên quan đến công tác dạy – học KHTN và
Hóa học lớp 6.
– Phương pháp điều tra, khảo sát: Khảo sát thái độ, mức độ hứng thú và
sự tham gia học tập của HS trước và sau khi áp dụng sáng kiến.
– Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát hành vi, thái độ, mức độ tham
gia của HS trong các giờ học.
– Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học có áp dụng các
hoạt động khởi động sáng tạo và so sánh kết quả với trước khi áp dụng.
– Phương pháp thống kê, so sánh: Tổng hợp, phân tích số liệu để đánh giá
hiệu quả của sáng kiến.
5
PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lý luận
1. Đặc điểm tâm lý học sinh lớp 6 trong học tập môn Khoa học tự
nhiên
HS lớp 6 đang ở giai đoạn chuyển tiếp từ bậc Tiểu học lên bậc THCS, có
nhiều thay đổi về tâm lý, nhận thức và phương pháp học tập. Các em còn mang
tính hiếu động, tò mò, thích khám phá nhưng khả năng tập trung chưa cao, đặc
biệt dễ bị áp lực khi tiếp cận các nội dung học tập mới mang tính trừu tượng.
Môn KHTN (phân môn Hóa học) ở lớp 6 là môn học lần đầu tiên HS được tiếp
cận một cách hệ thống, với nhiều khái niệm mới như chất, nguyên tử, phân tử,
sự biến đổi của chất. Nếu việc tổ chức dạy học chưa phù hợp, HS dễ nảy sinh
tâm lý sợ học, học thụ động và thiếu hứng thú.
Do đó, việc tạo tâm thế học tập tích cực ngay từ đầu tiết học thông qua
các hoạt động khởi động phù hợp với đặc điểm tâm lý HS lớp 6 có ý nghĩa quan
trọng, góp phần giúp HS giảm áp lực, tự tin và sẵn sàng tham gia vào các hoạt
động học tập tiếp theo.
2. Vai trò của hoạt động khởi động trong dạy học theo định hướng
phát triển năng lực
Theo định hướng dạy học phát triển phẩm chất và năng lực HS, hoạt động
khởi động là một khâu quan trọng trong tiến trình tổ chức dạy học. Hoạt động
này có vai trò kích hoạt kiến thức nền, khơi gợi hứng thú, tạo động cơ học tập và
định hướng nội dung bài học. Một hoạt động khởi động hiệu quả không chỉ giúp
HS “vào bài” một cách nhẹ nhàng mà còn tạo cầu nối giữa trải nghiệm thực tiễn
của HS với kiến thức khoa học cần hình thành.
Trong dạy học KHTN, đặc biệt là phân môn Hóa học, hoạt động khởi
động càng có ý nghĩa quan trọng vì giúp HS tiếp cận kiến thức trừu tượng thông
qua các hiện tượng quen thuộc trong đời sống. Khi HS được tham gia quan sát,
dự đoán, thảo luận ngay từ đầu tiết học, các em sẽ chủ động hơn trong quá trình
khám phá kiến thức mới, từ đó nâng cao hiệu quả học tập.
3. Hoạt động khởi động sáng tạo trong Chương trình GDPT 2018
CTGDPT 2018 nhấn mạnh việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, coi HS là trung tâm của quá
trình dạy học. Trong đó, hoạt động khởi động được xác định là một trong những
6
hoạt động học tập quan trọng, góp phần hình thành và phát triển năng lực khoa
học tự nhiên cho HS.
Việc tổ chức các hoạt động khởi động sáng tạo như đặt tình huống gắn
với đời sống, dự đoán hiện tượng, trò chơi học tập, sử dụng hình ảnh – video
trực quan, kể chuyện khoa học… phù hợp với tinh thần của CTGDPT 2018.
Những hình thức này không chỉ tạo hứng thú cho HS mà còn giúp các em rèn
luyện năng lực quan sát, tư duy, giao tiếp và hợp tác trong học tập.
4. Ý nghĩa của hoạt động khởi động đối với phân môn Hóa học lớp 6
Hóa học là môn học có nhiều nội dung mang tính trừu tượng, khó hình
dung đối với HS lớp 6 nếu chỉ tiếp cận bằng lý thuyết. Hoạt động khởi động đầu
tiết đóng vai trò quan trọng trong việc giúp HS làm quen, tiếp cận và hiểu bản
chất của các hiện tượng hóa học thông qua những trải nghiệm ban đầu.
Thông qua các hoạt động khởi động sáng tạo, HS được quan sát hiện
tượng, nêu suy đoán, chia sẻ hiểu biết cá nhân, từ đó hình thành nhu cầu tìm
hiểu kiến thức mới. Điều này giúp giảm cảm giác khô khan của môn học, tăng
khả năng ghi nhớ và vận dụng kiến thức, đồng thời góp phần nâng cao chất
lượng dạy học Hóa học ở lớp 6 theo định hướng phát triển năng lực HS.
5. Cơ sở thực tiễn của sáng kiến
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới giáo dục theo CTGDPT 2018 và thực tiễn
giảng dạy môn KHTN (phân môn Hóa học) ở lớp 6 tại nhà trường, việc nghiên
cứu và triển khai các hoạt động khởi động sáng tạo là cần thiết và phù hợp. Thực
tiễn cho thấy, khi GV chú trọng tổ chức khởi động đầu tiết học một cách linh
hoạt, sáng tạo, HS tham gia học tập tích cực hơn, hứng thú hơn và chất lượng
giờ học được nâng cao rõ rệt. Đây chính là cơ sở thực tiễn quan trọng để triển
khai và phát triển sáng kiến kinh nghiệm này.
6. Thực trạng trước khi áp dụng sáng kiến
6.1. Thực trạng học sinh
HS lớp 6 là đối tượng lần đầu tiên tiếp cận môn KHTN ở bậc THCS,
trong đó phân môn Hóa học chứa nhiều khái niệm mới, trừu tượng như chất,
nguyên tử, phân tử, sự biến đổi của chất. Qua thực tế giảng dạy cho thấy, nhiều
HS còn bỡ ngỡ, lúng túng khi tiếp cận nội dung bài học, đặc biệt là ở những tiết
học đầu tiên của phân môn Hóa học.
7
Bên cạnh đó, khả năng liên hệ kiến thức với các hiện tượng thực tế của
HS còn hạn chế. Khi GV vào bài trực tiếp bằng lý thuyết, HS dễ mất tập trung,
chưa hình thành được nhu cầu tìm hiểu kiến thức mới ngay từ đầu tiết học.
6.2. Thực trạng giáo viên
Về phía GV, trong quá trình tổ chức dạy học môn KHTN, việc chú trọng
đến hoạt động khởi động đầu tiết học chưa thực sự đồng đều. Một số GV vẫn có
thói quen vào bài trực tiếp bằng việc kiểm tra bài cũ hoặc giới thiệu bài học theo
cách truyền thống, chưa dành nhiều thời gian cho việc thiết kế hoạt động khởi
động mang tính sáng tạo.
Nguyên nhân chủ yếu là do áp lực thời gian, khối lượng kiến thức trong
một tiết học tương đối nhiều, khiến GV e ngại việc tổ chức khởi động sẽ làm
ảnh hưởng đến tiến trình bài dạy. Ngoài ra, việc thiếu tài liệu tham khảo, thiếu
mô hình hoặc ví dụ cụ thể về tổ chức hoạt động khởi động cho phân môn Hóa
học lớp 6 cũng là một khó khăn đối với GV trong quá trình triển khai.
Kết quả khảo sát được tiến hành đối với 36 giáo viên giảng dạy môn
KHTN (phân môn Hóa học) tại trường THCS……… cho thấy những nhận định
khá thống nhất về vai trò cũng như thực trạng tổ chức hoạt động khởi động trong
dạy học Hóa học lớp 6 theo CTGDPT 2018.
Bảng 1. Khảo sát GV về hoạt động khởi động trước giờ học.
Câu hỏi
Lựa chọn
Thường xuyên
1. Mức độ tổ chức
Thỉnh thoảng
hoạt động khởi
Ít khi
động?
Hầu như không
2. Nhận thức của Rất quan trọng
GV về vai trò của Quan trọng
Ít quan trọng
hoạt động khởi
Không cần thiết
động?
3. Khó khăn khi tổ Thiếu thời gian
Thiếu ý tưởng phù hợp bài học
chức hoạt động
HS chưa quen/không hứng thú
khởi động sáng
Cơ sở vật chất hạn chế
tạo?
4. Khi có hoạt
Tích cực hơn nhiều
8
Số lượng
8
14
10
4
15
17
3
1
14
11
7
4
Tỉ lệ %
22,2
38,9
27,8
11,1
41,7
47,2
8,3
2,8
38,9
30,6
19,4
11,1
13
36,1
động khởi động,
mức độ tham gia
của em trong giờ
học thay đổi như
thế nào?
5. Mong muốn của
em đối với hoạt
động khởi động
trong các tiết học
Hóa học?
Tích cực hơn
18
50,0
Không thay đổi
4
11,1
Ít tham gia hơn
1
2,8
Nên tổ chức ở đầu mỗi tiết học
16
44,4
Tổ chức thường xuyên hơn
15
41,7
Giữ như hiện tại
4
11,1
Không cần tổ chức
1
2,8
Kết quả khảo sát 36 giáo viên cho thấy, trước khi áp dụng sáng kiến, chỉ
có 22,2% giáo viên thường xuyên tổ chức hoạt động khởi động, trong khi 38,9%
chỉ thực hiện ở mức thỉnh thoảng và 38,9% giáo viên ít khi hoặc hầu như không
tổ chức. Mặc dù vậy, có tới 88,9% giáo viên đánh giá hoạt động khởi động là
quan trọng hoặc rất quan trọng đối với tiết học Hóa học lớp 6.
Khó khăn lớn nhất được giáo viên chỉ ra là thiếu thời gian (38,9%) và
thiếu ý tưởng khởi động phù hợp với nội dung bài học (30,6%). Sau khi áp dụng
sáng kiến, 86,1% giáo viên đánh giá các hoạt động khởi động đạt hiệu quả và rất
hiệu quả; đồng thời 86,1% giáo viên cho rằng sáng kiến có khả năng áp dụng
linh hoạt và nhân rộng trong thực tiễn giảng dạy.
6.3. Thực trạng điều kiện cơ sở vật chất
Điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho dạy học môn KHTN tại nhà trường
còn chưa thật sự đồng bộ. Một số phòng học chưa được trang bị đầy đủ thiết bị
trình chiếu, đồ dùng trực quan hoặc học liệu số để hỗ trợ việc tổ chức các hoạt
động khởi động bằng hình ảnh, video.
Việc tổ chức các thí nghiệm trực tiếp trong giờ học còn gặp khó khăn do
hạn chế về thời gian, dụng cụ và yêu cầu đảm bảo an toàn. Điều này ảnh hưởng
đến khả năng tổ chức các hoạt động khởi động mang tính trực quan, sinh động,
đặc biệt đối với những bài học có nội dung trừu tượng.
6.4. Nguyên nhân của thực trạng
Những hạn chế nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trước
hết, HS lớp 6 chưa có nhiều trải nghiệm học tập với các nội dung mang tính
9
khoa học chuyên sâu, trong khi khả năng tư duy trừu tượng còn đang trong giai
đoạn hình thành. Thứ hai, việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng
chương trình GDPT 2018 vẫn đang trong quá trình triển khai, GV cần thêm thời
gian để thích nghi và sáng tạo trong tổ chức các hoạt động học tập.
Bên cạnh đó, điều kiện cơ sở vật chất và học liệu phục vụ cho dạy học
KHTN ở một số trường còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc tổ chức các hoạt động
khởi động đa dạng. Chính từ những thực trạng và nguyên nhân nêu trên, việc
nghiên cứu và áp dụng sáng kiến tổ chức các hoạt động khởi động sáng tạo đầu
tiết học môn KHTN (phân môn Hóa học) là cần thiết và có ý nghĩa thiết thực
trong việc nâng cao chất lượng dạy học.
6.5. Kết quả khảo sát thực trạng trước khi áp dụng sáng kiến
Để có cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất và triển khai sáng kiến, tôi đã tiến
hành khảo sát 148 HS lớp 6 thuộc ba lớp thực nghiệm về mức độ hứng thú và
thái độ học tập đối với hoạt động khởi động đầu tiết trong môn KHTN (phân
môn Hóa học). Khảo sát được thực hiện thông qua phiếu hỏi với các câu hỏi
ngắn gọn, phù hợp với đặc điểm tâm lý HS, tập trung vào nhận thức, mức độ
tham gia và cảm nhận của HS khi bước vào tiết học Hóa học.
Bảng 2. Mong muốn của HS về hoạt động khởi động trước giờ học.
Câu hỏi
Lựa chọn
Thoải mái, hào hứng
1. Cảm nhận của
Bình thường
em khi bắt đầu tiết
Hơi lo lắng
học Hóa học?
Căng thẳng, sợ học
2. Theo em, hoạt Rất cần thiết
Cần thiết
động khởi động
đầu giờ học có cần Ít cần thiết
Không cần thiết
thiết không?
Thoải mái, bớt căng thẳng
3. Hoạt động khởi
Hiểu bài dễ hơn
động giúp em điều
Tạo hứng thú học tập
gì nhiều nhất?
Không có tác dụng rõ rệt
4. Khi có hoạt
động khởi động,
Số lượng
28
42
46
32
86
44
12
6
54
38
44
12
Tỉ lệ %
18,9
28,4
31,1
21,6
58,1
29,7
8,1
4,1
36,5
25,7
29,7
8,1
Tích cực hơn nhiều
52
35,1
Tích cực hơn
58
39,2
10
mức độ tham gia
của em trong giờ
5.học
Mong
của
thaymuốn
đổi như
em đối với hoạt
động khởi động
trong các tiết học
Hóa học?
Không thay đổi
26
17,6
Ít tham gia hơn
12
8,1
Nên tổ chức ở đầu mỗi tiết học
62
41,9
Tổ chức thường xuyên hơn
56
37,8
Giữ như hiện tại
20
13,5
Không cần tổ chức
10
6,8
Kết quả khảo sát 148 HS lớp 6 (Bảng 1) cho thấy những đặc điểm đáng
chú ý về tâm lý, nhu cầu và mong muốn của HS đối với hoạt động khởi động
trong các tiết học Hóa học thuộc môn KHTN.
Trước hết, về tâm lý của HS khi bắt đầu tiết học Hóa học, chỉ có 18,9%
HS cảm thấy thoải mái, hào hứng; trong khi đó, có tới 52,7% HS cho biết các
em cảm thấy hơi lo lắng hoặc căng thẳng, sợ học khi bước vào giờ học. Số liệu
này phản ánh thực tế rằng Hóa học là phân môn còn mới mẻ, mang tính trừu
tượng đối với HS lớp 6, dễ tạo áp lực tâm lý nếu GV chưa có biện pháp dẫn dắt
phù hợp ngay từ đầu tiết học.
Về nhận thức của HS đối với vai trò của hoạt động khởi động, kết quả
khảo sát cho thấy 87,8% HS đánh giá hoạt động khởi động là cần thiết hoặc rất
cần thiết. Điều này khẳng định hoạt động khởi động không chỉ là yêu cầu về mặt
phương pháp theo CTGDPT 2018 mà còn xuất phát từ chính nhu cầu học tập
thực tiễn của HS.
11
Rất cần thiết
Cần thiết
Ít cần thiết
Không cần thiết
Biểu đồ 1. Kết quả khảo sát HS về vai trò của hoạt động khởi động
Khi phân tích tác dụng của hoạt động khởi động, đa số HS cho rằng khởi
động giúp các em thoải mái, bớt căng thẳng (36,5%) và tạo hứng thú học tập
(29,7%). Bên cạnh đó, 25,7% HS nhận thấy khởi động giúp các em hiểu bài dễ
hơn. Như vậy, hoạt động khởi động không chỉ có ý nghĩa về mặt cảm xúc mà
còn góp phần hỗ trợ nhận thức, tạo tiền đề thuận lợi cho việc tiếp thu kiến thức
mới trong giờ học Hóa học.
Đối với mức độ tham gia học tập, có 74,3% HS cho biết các em tích cực
hơn hoặc tích cực hơn nhiều khi trong tiết học có tổ chức hoạt động khởi động.
Điều này cho thấy hoạt động khởi động có tác động rõ rệt đến sự chủ động, tích
cực của HS – một trong những yêu cầu cốt lõi của dạy học phát triển năng lực
theo CTGDPT 2018.
12
Tích cực hơn nhiều
Tích cực hơn
Không thay đổi
Ít tham gia hơn
Biểu đồ 2. Kết quả khảo sát HS về mức độ tham gia học tập khi có hoạt
động khởi động
Cuối cùng, về mong muốn của HS, có tới 79,7% HS đề xuất nên tổ chức
hoạt động khởi động ở đầu mỗi tiết học hoặc tổ chức thường xuyên hơn. Chỉ
một tỉ lệ nhỏ HS (6,8%) cho rằng không cần tổ chức hoạt động khởi động. Kết
quả này cho thấy việc duy trì và đổi mới các hình thức khởi động đầu tiết là phù
hợp với tâm lý, nhu cầu và mong muốn của đa số HS lớp 6.
Từ kết quả khảo sát trên, có thể khẳng định rằng việc thiết kế và tổ chức
các hoạt động khởi động sáng tạo trong dạy học môn KHTN (phân môn Hóa
học) là cần thiết, có cơ sở thực tiễn rõ ràng, góp phần giảm áp lực học tập, tạo
hứng thú và nâng cao hiệu quả tiếp thu kiến thức của HS. Đây chính là căn cứ
quan trọng để đề xuất và triển khai các giải pháp trong sáng kiến kinh nghiệm
này.
II. Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động khởi động
Giải pháp: Thiết kế các hoạt động khởi động sáng tạo trong dạy học
môn Khoa học tự nhiên (phân môn Hóa học)
Trong quá trình dạy học môn KHTN ở lớp 6, hoạt động khởi động giữ vai
trò quan trọng trong việc tạo tâm thế học tập tích cực cho HS trước khi bước vào
nội dung bài học mới. Để nâng cao chất lượng hoạt động khởi động, GV cần chủ
động thiết kế các hình thức khởi động sáng tạo, phù hợp với đặc điểm tâm lý
HS, điều kiện dạy học và yêu cầu của CTGDPT 2018. Việc tổ chức hoạt động
khởi động không mang tính hình thức mà phải thực sự phát huy được vai trò
13
khơi gợi hứng thú, kích hoạt tư duy và tạo cầu nối tự nhiên giữa kiến thức cũ và
kiến thức mới.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn giảng dạy, các hoạt động khởi
động trong sáng kiến này được thiết kế dựa trên những nguyên tắc sau:
3.1. Nguyên tắc đảm bảo thời lượng ngắn gọn, phù hợp với tiết học
Hoạt động khởi động được thiết kế với thời lượng ngắn, từ 3 đến 5 phút,
nhằm đảm bảo không làm ảnh hưởng đến tiến trình chung của tiết học. Thời
lượng này vừa đủ để thu hút sự chú ý của HS, tạo không khí học tập tích cực
nhưng không gây kéo dài hoặc làm gián đoạn các hoạt động hình thành kiến
thức mới.
Việc kiểm soát tốt thời gian giúp GV chủ động trong việc tổ chức dạy
học, đồng thời tạo thói quen cho HS tập trung ngay từ đầu tiết. Hoạt động khởi
động ngắn gọn, rõ ràng còn giúp HS dễ dàng tiếp nhận nhiệm vụ, tránh tâm lý
mệt mỏi hoặc phân tán chú ý.
3.2. Nguyên tắc gắn với đời sống và trải nghiệm của học sinh THCS
Một trong những yêu cầu quan trọng khi thiết kế hoạt động khởi động là
phải gắn liền với các hiện tượng, tình huống quen thuộc trong đời sống hằng
ngày của HS THCS. Các nội dung như nấu ăn, đốt nến, sắt bị gỉ, nước bay hơi,
sự cháy… đều là những trải nghiệm gần gũi, giúp HS nhận ra Hóa học không xa
lạ mà hiện diện xung quanh các em.
Thông qua việc liên hệ với đời sống, HS dễ dàng tham gia vào hoạt động
khởi động bằng vốn hiểu biết và trải nghiệm cá nhân, từ đó hình thành hứng thú
và nhu cầu tìm hiểu kiến thức khoa học. Nguyên tắc này góp phần làm giảm
cảm giác trừu tượng của môn Hóa học, đặc biệt đối với HS lớp 6 khi mới làm
quen với phân môn này.
3.3. Nguyên tắc khơi gợi tư duy và hứng thú học tập, không tạo áp lực
cho học sinh
Hoạt động khởi động được thiết kế theo hướng mở, không đặt nặng yêu
cầu trả lời đúng – sai, không gắn với việc chấm điểm hay đánh giá kết quả học
tập. GV chú trọng tạo môi trường học tập thân thiện, khuyến khích HS mạnh
dạn nêu ý kiến, suy nghĩ và dự
TRƯỜNG THCS .....................
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI: ĐỘT PHÁ TƯ DUY BẰNG KHỞI ĐỘNG SÁNG TẠO
NHẰM GIẢM ÁP LỰC HỌC TẬP CHO HỌC SINH LỚP 6
BƯỚC ĐẦU TIẾP CẬN KHOA HỌC TỰ NHIÊN THÔNG QUA
HÓA HỌC
Người thực hiện:
Môn tham gia:
Khoa học tự nhiên
Chức vụ:
...
Năm học 2025 – 2026
MỤC LỤC
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ....................................................................................................4
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ....................................................................................................4
1. Lý do chọn đề tài..................................................................................................4
1. Lý do chọn đề tài..................................................................................................4
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của sáng kiến.........................................................................4
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của sáng kiến.........................................................................4
3. Đối tượng và phạm vi sáng kiến............................................................................5
3. Đối tượng và phạm vi sáng kiến............................................................................5
4. Phương pháp thực hiện sáng kiến.........................................................................5
4. Phương pháp thực hiện sáng kiến.........................................................................5
PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.......................................................................................6
PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.......................................................................................6
I. Cơ sở lý luận.........................................................................................................6
I. Cơ sở lý luận.........................................................................................................6
II. Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động khởi động............................................13
II. Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động khởi động............................................13
III. Giải pháp cho hoạt động khởi động sáng tạo trong dạy học môn KHTN (phân môn
Hóa học)................................................................................................................15
III. Giải pháp cho hoạt động khởi động sáng tạo trong dạy học môn KHTN (phân môn
Hóa học)................................................................................................................15
1. Khởi động bằng trò chơi..................................................................................15
1. Khởi động bằng trò chơi..................................................................................15
2. Khởi động bằng tình huống thực tiễn...............................................................17
2. Khởi động bằng tình huống thực tiễn...............................................................17
3. Khởi động bằng kể chuyện – tình huống sáng tạo.............................................20
3. Khởi động bằng kể chuyện – tình huống sáng tạo.............................................20
..........................................................................................................................22
..........................................................................................................................22
PHẦN CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM
1. Tên báo cáo sáng kiến kinh nghiệm: “Đột phá tư duy bằng khởi động sáng
tạo nhằm giảm áp lực học tập cho học sinh lớp 6 bước đầu tiếp cận Khoa
học tự nhiên thông qua Hóa học”.
2. Tác giả:
– Họ và tên:
Nam/nữ:
– Trình độ chuyên môn:
– Chức vụ, đơn vị công tác:
– Email:
SĐT:
3. Ý kiến đánh giá của Hội đồng
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
TỪ VIẾT TẮT
Ý NGHĨA
1
KHTN
Khoa học tự nhiên
2
THCS
Trung học cơ sở
3
CTGDPT 2018
Chương trình Giáo dục phổ thông 2018
4
GV
Giáo viên
5
HS
Học sinh
3
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Thực hiện định hướng đổi mới giáo dục theo Chương trình Giáo dục phổ
thông 2018 (CTGDPT 2018), việc tổ chức dạy học theo hướng phát triển phẩm
chất và năng lực HS đòi hỏi GV không ngừng đổi mới phương pháp, hình thức
tổ chức dạy học. Đối với HS lớp 6 – giai đoạn chuyển tiếp từ bậc tiểu học lên
trung học cơ sở – sự thay đổi về môi trường học tập, cách tiếp cận kiến thức và
phương pháp học tập đã tạo ra không ít áp lực tâm lý cho các em.
Môn KHTN lớp 6 là môn học tích hợp, trong đó phân môn Hóa học được
giới thiệu lần đầu tiên một cách có hệ thống. Các kiến thức Hóa học ban đầu
mang tính trừu tượng, nhiều khái niệm mới, dễ gây tâm lý e ngại, sợ học cho HS
nếu không được tiếp cận một cách phù hợp. Thực tế giảng dạy cho thấy, nếu
không tạo được tâm thế tích cực ngay từ đầu tiết học, HS thường học tập thụ
động, thiếu hứng thú, ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp thu kiến thức.
Hoạt động khởi động là bước đầu tiên trong tiến trình dạy học, có vai trò
quan trọng trong việc tạo tâm thế học tập, khơi gợi hứng thú và kích thích tư duy
của HS. Tuy nhiên, trong thực tế, hoạt động này đôi khi chưa được đầu tư đúng
mức, còn mang tính hình thức, chưa phát huy hiệu quả trong việc giảm áp lực
học tập cho HS. Xuất phát từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu và vận dụng các hoạt
động khởi động sáng tạo trong dạy học Hóa học lớp 6 là cần thiết và có ý nghĩa
thực tiễn cao.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của sáng kiến
Mục tiêu của sáng kiến là giúp giảm áp lực tâm lý, tạo hứng thú học tập
cho HS lớp 6 khi bắt đầu tiếp cận phân môn Hóa học nói riêng và môn KHTN
nói chung, xây dựng môi trường học tập sinh động và thúc đẩy sự tham gia tích
cực của HS, đồng thời nâng cao hiệu quả dạy học môn KHTN thông qua việc
đổi mới hoạt động khởi động.
Nhiệm vụ của sáng kiến gồm:
– Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động khởi động trong dạy học theo
định hướng phát triển năng lực.
– Khảo sát thực trạng tâm lý và thái độ học tập của HS lớp 6 đối với nội
dung phân môn Hóa học.
– Thiết kế và tổ chức các hoạt động khởi động sáng tạo, phù hợp với nội
dung Hóa học lớp 6.
4
– Đánh giá hiệu quả của sáng kiến thông qua quan sát, khảo sát và kết quả
học tập của HS.
3. Đối tượng và phạm vi sáng kiến
– Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 6 trong quá trình học tập môn
KHTN (phân môn Hóa học).
– Phạm vi áp dụng: Các tiết dạy Hóa học thuộc chương trình KHTN lớp
6 tại trường trung học cơ sở nơi tác giả công tác.
4. Phương pháp thực hiện sáng kiến
– Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu, văn bản chỉ
đạo, chương trình, sách giáo khoa liên quan đến công tác dạy – học KHTN và
Hóa học lớp 6.
– Phương pháp điều tra, khảo sát: Khảo sát thái độ, mức độ hứng thú và
sự tham gia học tập của HS trước và sau khi áp dụng sáng kiến.
– Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát hành vi, thái độ, mức độ tham
gia của HS trong các giờ học.
– Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học có áp dụng các
hoạt động khởi động sáng tạo và so sánh kết quả với trước khi áp dụng.
– Phương pháp thống kê, so sánh: Tổng hợp, phân tích số liệu để đánh giá
hiệu quả của sáng kiến.
5
PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lý luận
1. Đặc điểm tâm lý học sinh lớp 6 trong học tập môn Khoa học tự
nhiên
HS lớp 6 đang ở giai đoạn chuyển tiếp từ bậc Tiểu học lên bậc THCS, có
nhiều thay đổi về tâm lý, nhận thức và phương pháp học tập. Các em còn mang
tính hiếu động, tò mò, thích khám phá nhưng khả năng tập trung chưa cao, đặc
biệt dễ bị áp lực khi tiếp cận các nội dung học tập mới mang tính trừu tượng.
Môn KHTN (phân môn Hóa học) ở lớp 6 là môn học lần đầu tiên HS được tiếp
cận một cách hệ thống, với nhiều khái niệm mới như chất, nguyên tử, phân tử,
sự biến đổi của chất. Nếu việc tổ chức dạy học chưa phù hợp, HS dễ nảy sinh
tâm lý sợ học, học thụ động và thiếu hứng thú.
Do đó, việc tạo tâm thế học tập tích cực ngay từ đầu tiết học thông qua
các hoạt động khởi động phù hợp với đặc điểm tâm lý HS lớp 6 có ý nghĩa quan
trọng, góp phần giúp HS giảm áp lực, tự tin và sẵn sàng tham gia vào các hoạt
động học tập tiếp theo.
2. Vai trò của hoạt động khởi động trong dạy học theo định hướng
phát triển năng lực
Theo định hướng dạy học phát triển phẩm chất và năng lực HS, hoạt động
khởi động là một khâu quan trọng trong tiến trình tổ chức dạy học. Hoạt động
này có vai trò kích hoạt kiến thức nền, khơi gợi hứng thú, tạo động cơ học tập và
định hướng nội dung bài học. Một hoạt động khởi động hiệu quả không chỉ giúp
HS “vào bài” một cách nhẹ nhàng mà còn tạo cầu nối giữa trải nghiệm thực tiễn
của HS với kiến thức khoa học cần hình thành.
Trong dạy học KHTN, đặc biệt là phân môn Hóa học, hoạt động khởi
động càng có ý nghĩa quan trọng vì giúp HS tiếp cận kiến thức trừu tượng thông
qua các hiện tượng quen thuộc trong đời sống. Khi HS được tham gia quan sát,
dự đoán, thảo luận ngay từ đầu tiết học, các em sẽ chủ động hơn trong quá trình
khám phá kiến thức mới, từ đó nâng cao hiệu quả học tập.
3. Hoạt động khởi động sáng tạo trong Chương trình GDPT 2018
CTGDPT 2018 nhấn mạnh việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, coi HS là trung tâm của quá
trình dạy học. Trong đó, hoạt động khởi động được xác định là một trong những
6
hoạt động học tập quan trọng, góp phần hình thành và phát triển năng lực khoa
học tự nhiên cho HS.
Việc tổ chức các hoạt động khởi động sáng tạo như đặt tình huống gắn
với đời sống, dự đoán hiện tượng, trò chơi học tập, sử dụng hình ảnh – video
trực quan, kể chuyện khoa học… phù hợp với tinh thần của CTGDPT 2018.
Những hình thức này không chỉ tạo hứng thú cho HS mà còn giúp các em rèn
luyện năng lực quan sát, tư duy, giao tiếp và hợp tác trong học tập.
4. Ý nghĩa của hoạt động khởi động đối với phân môn Hóa học lớp 6
Hóa học là môn học có nhiều nội dung mang tính trừu tượng, khó hình
dung đối với HS lớp 6 nếu chỉ tiếp cận bằng lý thuyết. Hoạt động khởi động đầu
tiết đóng vai trò quan trọng trong việc giúp HS làm quen, tiếp cận và hiểu bản
chất của các hiện tượng hóa học thông qua những trải nghiệm ban đầu.
Thông qua các hoạt động khởi động sáng tạo, HS được quan sát hiện
tượng, nêu suy đoán, chia sẻ hiểu biết cá nhân, từ đó hình thành nhu cầu tìm
hiểu kiến thức mới. Điều này giúp giảm cảm giác khô khan của môn học, tăng
khả năng ghi nhớ và vận dụng kiến thức, đồng thời góp phần nâng cao chất
lượng dạy học Hóa học ở lớp 6 theo định hướng phát triển năng lực HS.
5. Cơ sở thực tiễn của sáng kiến
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới giáo dục theo CTGDPT 2018 và thực tiễn
giảng dạy môn KHTN (phân môn Hóa học) ở lớp 6 tại nhà trường, việc nghiên
cứu và triển khai các hoạt động khởi động sáng tạo là cần thiết và phù hợp. Thực
tiễn cho thấy, khi GV chú trọng tổ chức khởi động đầu tiết học một cách linh
hoạt, sáng tạo, HS tham gia học tập tích cực hơn, hứng thú hơn và chất lượng
giờ học được nâng cao rõ rệt. Đây chính là cơ sở thực tiễn quan trọng để triển
khai và phát triển sáng kiến kinh nghiệm này.
6. Thực trạng trước khi áp dụng sáng kiến
6.1. Thực trạng học sinh
HS lớp 6 là đối tượng lần đầu tiên tiếp cận môn KHTN ở bậc THCS,
trong đó phân môn Hóa học chứa nhiều khái niệm mới, trừu tượng như chất,
nguyên tử, phân tử, sự biến đổi của chất. Qua thực tế giảng dạy cho thấy, nhiều
HS còn bỡ ngỡ, lúng túng khi tiếp cận nội dung bài học, đặc biệt là ở những tiết
học đầu tiên của phân môn Hóa học.
7
Bên cạnh đó, khả năng liên hệ kiến thức với các hiện tượng thực tế của
HS còn hạn chế. Khi GV vào bài trực tiếp bằng lý thuyết, HS dễ mất tập trung,
chưa hình thành được nhu cầu tìm hiểu kiến thức mới ngay từ đầu tiết học.
6.2. Thực trạng giáo viên
Về phía GV, trong quá trình tổ chức dạy học môn KHTN, việc chú trọng
đến hoạt động khởi động đầu tiết học chưa thực sự đồng đều. Một số GV vẫn có
thói quen vào bài trực tiếp bằng việc kiểm tra bài cũ hoặc giới thiệu bài học theo
cách truyền thống, chưa dành nhiều thời gian cho việc thiết kế hoạt động khởi
động mang tính sáng tạo.
Nguyên nhân chủ yếu là do áp lực thời gian, khối lượng kiến thức trong
một tiết học tương đối nhiều, khiến GV e ngại việc tổ chức khởi động sẽ làm
ảnh hưởng đến tiến trình bài dạy. Ngoài ra, việc thiếu tài liệu tham khảo, thiếu
mô hình hoặc ví dụ cụ thể về tổ chức hoạt động khởi động cho phân môn Hóa
học lớp 6 cũng là một khó khăn đối với GV trong quá trình triển khai.
Kết quả khảo sát được tiến hành đối với 36 giáo viên giảng dạy môn
KHTN (phân môn Hóa học) tại trường THCS……… cho thấy những nhận định
khá thống nhất về vai trò cũng như thực trạng tổ chức hoạt động khởi động trong
dạy học Hóa học lớp 6 theo CTGDPT 2018.
Bảng 1. Khảo sát GV về hoạt động khởi động trước giờ học.
Câu hỏi
Lựa chọn
Thường xuyên
1. Mức độ tổ chức
Thỉnh thoảng
hoạt động khởi
Ít khi
động?
Hầu như không
2. Nhận thức của Rất quan trọng
GV về vai trò của Quan trọng
Ít quan trọng
hoạt động khởi
Không cần thiết
động?
3. Khó khăn khi tổ Thiếu thời gian
Thiếu ý tưởng phù hợp bài học
chức hoạt động
HS chưa quen/không hứng thú
khởi động sáng
Cơ sở vật chất hạn chế
tạo?
4. Khi có hoạt
Tích cực hơn nhiều
8
Số lượng
8
14
10
4
15
17
3
1
14
11
7
4
Tỉ lệ %
22,2
38,9
27,8
11,1
41,7
47,2
8,3
2,8
38,9
30,6
19,4
11,1
13
36,1
động khởi động,
mức độ tham gia
của em trong giờ
học thay đổi như
thế nào?
5. Mong muốn của
em đối với hoạt
động khởi động
trong các tiết học
Hóa học?
Tích cực hơn
18
50,0
Không thay đổi
4
11,1
Ít tham gia hơn
1
2,8
Nên tổ chức ở đầu mỗi tiết học
16
44,4
Tổ chức thường xuyên hơn
15
41,7
Giữ như hiện tại
4
11,1
Không cần tổ chức
1
2,8
Kết quả khảo sát 36 giáo viên cho thấy, trước khi áp dụng sáng kiến, chỉ
có 22,2% giáo viên thường xuyên tổ chức hoạt động khởi động, trong khi 38,9%
chỉ thực hiện ở mức thỉnh thoảng và 38,9% giáo viên ít khi hoặc hầu như không
tổ chức. Mặc dù vậy, có tới 88,9% giáo viên đánh giá hoạt động khởi động là
quan trọng hoặc rất quan trọng đối với tiết học Hóa học lớp 6.
Khó khăn lớn nhất được giáo viên chỉ ra là thiếu thời gian (38,9%) và
thiếu ý tưởng khởi động phù hợp với nội dung bài học (30,6%). Sau khi áp dụng
sáng kiến, 86,1% giáo viên đánh giá các hoạt động khởi động đạt hiệu quả và rất
hiệu quả; đồng thời 86,1% giáo viên cho rằng sáng kiến có khả năng áp dụng
linh hoạt và nhân rộng trong thực tiễn giảng dạy.
6.3. Thực trạng điều kiện cơ sở vật chất
Điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho dạy học môn KHTN tại nhà trường
còn chưa thật sự đồng bộ. Một số phòng học chưa được trang bị đầy đủ thiết bị
trình chiếu, đồ dùng trực quan hoặc học liệu số để hỗ trợ việc tổ chức các hoạt
động khởi động bằng hình ảnh, video.
Việc tổ chức các thí nghiệm trực tiếp trong giờ học còn gặp khó khăn do
hạn chế về thời gian, dụng cụ và yêu cầu đảm bảo an toàn. Điều này ảnh hưởng
đến khả năng tổ chức các hoạt động khởi động mang tính trực quan, sinh động,
đặc biệt đối với những bài học có nội dung trừu tượng.
6.4. Nguyên nhân của thực trạng
Những hạn chế nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trước
hết, HS lớp 6 chưa có nhiều trải nghiệm học tập với các nội dung mang tính
9
khoa học chuyên sâu, trong khi khả năng tư duy trừu tượng còn đang trong giai
đoạn hình thành. Thứ hai, việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng
chương trình GDPT 2018 vẫn đang trong quá trình triển khai, GV cần thêm thời
gian để thích nghi và sáng tạo trong tổ chức các hoạt động học tập.
Bên cạnh đó, điều kiện cơ sở vật chất và học liệu phục vụ cho dạy học
KHTN ở một số trường còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc tổ chức các hoạt động
khởi động đa dạng. Chính từ những thực trạng và nguyên nhân nêu trên, việc
nghiên cứu và áp dụng sáng kiến tổ chức các hoạt động khởi động sáng tạo đầu
tiết học môn KHTN (phân môn Hóa học) là cần thiết và có ý nghĩa thiết thực
trong việc nâng cao chất lượng dạy học.
6.5. Kết quả khảo sát thực trạng trước khi áp dụng sáng kiến
Để có cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất và triển khai sáng kiến, tôi đã tiến
hành khảo sát 148 HS lớp 6 thuộc ba lớp thực nghiệm về mức độ hứng thú và
thái độ học tập đối với hoạt động khởi động đầu tiết trong môn KHTN (phân
môn Hóa học). Khảo sát được thực hiện thông qua phiếu hỏi với các câu hỏi
ngắn gọn, phù hợp với đặc điểm tâm lý HS, tập trung vào nhận thức, mức độ
tham gia và cảm nhận của HS khi bước vào tiết học Hóa học.
Bảng 2. Mong muốn của HS về hoạt động khởi động trước giờ học.
Câu hỏi
Lựa chọn
Thoải mái, hào hứng
1. Cảm nhận của
Bình thường
em khi bắt đầu tiết
Hơi lo lắng
học Hóa học?
Căng thẳng, sợ học
2. Theo em, hoạt Rất cần thiết
Cần thiết
động khởi động
đầu giờ học có cần Ít cần thiết
Không cần thiết
thiết không?
Thoải mái, bớt căng thẳng
3. Hoạt động khởi
Hiểu bài dễ hơn
động giúp em điều
Tạo hứng thú học tập
gì nhiều nhất?
Không có tác dụng rõ rệt
4. Khi có hoạt
động khởi động,
Số lượng
28
42
46
32
86
44
12
6
54
38
44
12
Tỉ lệ %
18,9
28,4
31,1
21,6
58,1
29,7
8,1
4,1
36,5
25,7
29,7
8,1
Tích cực hơn nhiều
52
35,1
Tích cực hơn
58
39,2
10
mức độ tham gia
của em trong giờ
5.học
Mong
của
thaymuốn
đổi như
em đối với hoạt
động khởi động
trong các tiết học
Hóa học?
Không thay đổi
26
17,6
Ít tham gia hơn
12
8,1
Nên tổ chức ở đầu mỗi tiết học
62
41,9
Tổ chức thường xuyên hơn
56
37,8
Giữ như hiện tại
20
13,5
Không cần tổ chức
10
6,8
Kết quả khảo sát 148 HS lớp 6 (Bảng 1) cho thấy những đặc điểm đáng
chú ý về tâm lý, nhu cầu và mong muốn của HS đối với hoạt động khởi động
trong các tiết học Hóa học thuộc môn KHTN.
Trước hết, về tâm lý của HS khi bắt đầu tiết học Hóa học, chỉ có 18,9%
HS cảm thấy thoải mái, hào hứng; trong khi đó, có tới 52,7% HS cho biết các
em cảm thấy hơi lo lắng hoặc căng thẳng, sợ học khi bước vào giờ học. Số liệu
này phản ánh thực tế rằng Hóa học là phân môn còn mới mẻ, mang tính trừu
tượng đối với HS lớp 6, dễ tạo áp lực tâm lý nếu GV chưa có biện pháp dẫn dắt
phù hợp ngay từ đầu tiết học.
Về nhận thức của HS đối với vai trò của hoạt động khởi động, kết quả
khảo sát cho thấy 87,8% HS đánh giá hoạt động khởi động là cần thiết hoặc rất
cần thiết. Điều này khẳng định hoạt động khởi động không chỉ là yêu cầu về mặt
phương pháp theo CTGDPT 2018 mà còn xuất phát từ chính nhu cầu học tập
thực tiễn của HS.
11
Rất cần thiết
Cần thiết
Ít cần thiết
Không cần thiết
Biểu đồ 1. Kết quả khảo sát HS về vai trò của hoạt động khởi động
Khi phân tích tác dụng của hoạt động khởi động, đa số HS cho rằng khởi
động giúp các em thoải mái, bớt căng thẳng (36,5%) và tạo hứng thú học tập
(29,7%). Bên cạnh đó, 25,7% HS nhận thấy khởi động giúp các em hiểu bài dễ
hơn. Như vậy, hoạt động khởi động không chỉ có ý nghĩa về mặt cảm xúc mà
còn góp phần hỗ trợ nhận thức, tạo tiền đề thuận lợi cho việc tiếp thu kiến thức
mới trong giờ học Hóa học.
Đối với mức độ tham gia học tập, có 74,3% HS cho biết các em tích cực
hơn hoặc tích cực hơn nhiều khi trong tiết học có tổ chức hoạt động khởi động.
Điều này cho thấy hoạt động khởi động có tác động rõ rệt đến sự chủ động, tích
cực của HS – một trong những yêu cầu cốt lõi của dạy học phát triển năng lực
theo CTGDPT 2018.
12
Tích cực hơn nhiều
Tích cực hơn
Không thay đổi
Ít tham gia hơn
Biểu đồ 2. Kết quả khảo sát HS về mức độ tham gia học tập khi có hoạt
động khởi động
Cuối cùng, về mong muốn của HS, có tới 79,7% HS đề xuất nên tổ chức
hoạt động khởi động ở đầu mỗi tiết học hoặc tổ chức thường xuyên hơn. Chỉ
một tỉ lệ nhỏ HS (6,8%) cho rằng không cần tổ chức hoạt động khởi động. Kết
quả này cho thấy việc duy trì và đổi mới các hình thức khởi động đầu tiết là phù
hợp với tâm lý, nhu cầu và mong muốn của đa số HS lớp 6.
Từ kết quả khảo sát trên, có thể khẳng định rằng việc thiết kế và tổ chức
các hoạt động khởi động sáng tạo trong dạy học môn KHTN (phân môn Hóa
học) là cần thiết, có cơ sở thực tiễn rõ ràng, góp phần giảm áp lực học tập, tạo
hứng thú và nâng cao hiệu quả tiếp thu kiến thức của HS. Đây chính là căn cứ
quan trọng để đề xuất và triển khai các giải pháp trong sáng kiến kinh nghiệm
này.
II. Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động khởi động
Giải pháp: Thiết kế các hoạt động khởi động sáng tạo trong dạy học
môn Khoa học tự nhiên (phân môn Hóa học)
Trong quá trình dạy học môn KHTN ở lớp 6, hoạt động khởi động giữ vai
trò quan trọng trong việc tạo tâm thế học tập tích cực cho HS trước khi bước vào
nội dung bài học mới. Để nâng cao chất lượng hoạt động khởi động, GV cần chủ
động thiết kế các hình thức khởi động sáng tạo, phù hợp với đặc điểm tâm lý
HS, điều kiện dạy học và yêu cầu của CTGDPT 2018. Việc tổ chức hoạt động
khởi động không mang tính hình thức mà phải thực sự phát huy được vai trò
13
khơi gợi hứng thú, kích hoạt tư duy và tạo cầu nối tự nhiên giữa kiến thức cũ và
kiến thức mới.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn giảng dạy, các hoạt động khởi
động trong sáng kiến này được thiết kế dựa trên những nguyên tắc sau:
3.1. Nguyên tắc đảm bảo thời lượng ngắn gọn, phù hợp với tiết học
Hoạt động khởi động được thiết kế với thời lượng ngắn, từ 3 đến 5 phút,
nhằm đảm bảo không làm ảnh hưởng đến tiến trình chung của tiết học. Thời
lượng này vừa đủ để thu hút sự chú ý của HS, tạo không khí học tập tích cực
nhưng không gây kéo dài hoặc làm gián đoạn các hoạt động hình thành kiến
thức mới.
Việc kiểm soát tốt thời gian giúp GV chủ động trong việc tổ chức dạy
học, đồng thời tạo thói quen cho HS tập trung ngay từ đầu tiết. Hoạt động khởi
động ngắn gọn, rõ ràng còn giúp HS dễ dàng tiếp nhận nhiệm vụ, tránh tâm lý
mệt mỏi hoặc phân tán chú ý.
3.2. Nguyên tắc gắn với đời sống và trải nghiệm của học sinh THCS
Một trong những yêu cầu quan trọng khi thiết kế hoạt động khởi động là
phải gắn liền với các hiện tượng, tình huống quen thuộc trong đời sống hằng
ngày của HS THCS. Các nội dung như nấu ăn, đốt nến, sắt bị gỉ, nước bay hơi,
sự cháy… đều là những trải nghiệm gần gũi, giúp HS nhận ra Hóa học không xa
lạ mà hiện diện xung quanh các em.
Thông qua việc liên hệ với đời sống, HS dễ dàng tham gia vào hoạt động
khởi động bằng vốn hiểu biết và trải nghiệm cá nhân, từ đó hình thành hứng thú
và nhu cầu tìm hiểu kiến thức khoa học. Nguyên tắc này góp phần làm giảm
cảm giác trừu tượng của môn Hóa học, đặc biệt đối với HS lớp 6 khi mới làm
quen với phân môn này.
3.3. Nguyên tắc khơi gợi tư duy và hứng thú học tập, không tạo áp lực
cho học sinh
Hoạt động khởi động được thiết kế theo hướng mở, không đặt nặng yêu
cầu trả lời đúng – sai, không gắn với việc chấm điểm hay đánh giá kết quả học
tập. GV chú trọng tạo môi trường học tập thân thiện, khuyến khích HS mạnh
dạn nêu ý kiến, suy nghĩ và dự
 








Các ý kiến mới nhất