Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Một số biện pháp cải thiện và nâng cao chất lượng học tập phân môn Luyện từ và câu Tiếng Việt lớp 4 Bộ sách Kết nối

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đinh Thị Quế (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:13' 20-02-2024
Dung lượng: 7.7 MB
Số lượt tải: 574
Số lượt thích: 0 người
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO …
TRƯỜNG THCS ….

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

“MỘT SỐ BIỆN PHÁP CẢI THIỆN VÀ NÂNG CAO CHẤT

LƯỢNG HỌC TẬP PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU TIẾNG
VIỆT LỚP 4”
(Bộ sách KẾT NỐI TRI THỨC)

Tác giả:
Trình độ chuyên môn:
Chức vụ:
Đơn vị công tác:

Năm học 2022-2023

MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU..................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài...................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu.............................................................................2
3. Phạm vi nghiên cứu...............................................................................2
4. Đối tượng nghiên cứu............................................................................2
B. NỘI DUNG...............................................................................................2
1. Cơ sở lý luận..........................................................................................2
2. Cơ sở thực tiễn.......................................................................................3
3. Giải pháp thực hiện................................................................................4
Biện pháp 1: Giáo viên hướng dẫn học sinh nắm rõ kiến thức về từ,
câu, kỹ năng sử dụng từ và câu.....................................................................4
Biện pháp 2: Vận dụng hiệu quả đồ dùng dạy học trực quan để nâng
cao hiệu quả tiết học Luyện từ và câu...........................................................7

A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở bậc Tiểu học, môn Tiếng Việt có một vị trí đặc biệt quan trọng. Nó là
nền tảng vững chắc cho học sinh học tập tốt tất cả các môn học khác. Một trong
những mục tiêu của môn Tiếng Việt trong chương trình đổi mới giáo dục 2018
là hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe,
nói,đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa
tuổi. Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư
duy cho học sinh. Trong môn Tiếng Việt, phân môn Luyện từ và câu có vị trí
quan trọng trong chương trình Tiểu học. Trước hết, phân môn Luyện từ và câu
cung cấp vốn từ và làm giàu vốn từ cho học sinh đặc biệt là hệ thống từ ngữ
cung cấp cho học sinh gắn với chủ điểm ở từng lớp nhằm tăng cường sự hiểu
biết của học sinh về nhiều lĩnh vực của cuộc sống.
Khái niệm ngữ pháp thường mang tính trừu tượng và khái quát cao. Việc
tiếp nhận các khái niệm ngữ pháp đối với học sinh tiểu học hết sức khó khăn vì
nó đòi hỏi một trình độ tư duy nhất định. Để giảm độ khó cho học sinh trong
việc lĩnh hội các khái niệm ngữ pháp, bên cạnh việc cung cấp ý nghĩa của ngữ
pháp, hệ thống kiến thức trong bộ sách mới Kết nối tri thức với cuộc sống cũng
được trình bày tường minh, nhiều hình ảnh và bài tập minh họa sống động hơn.
Trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy: Giáo viên đã dành rất nhiều thời
gian cho nội dung dạy học này song chất lượng vẫn chưa đạt được như mong
muốn. Một trong những nguyên nhân đó là do hiệu quả dạy học về phân môn
luyện từ và câu chưa cao. Vì vậy, tôi chọn nghiên cứu mảng đề tài này với hi
vọng giúp các em học sinh nắm chắc hơn, ít bị lúng túng hơn khi gặp các dạng
bài tập có liên quan đến luyện từ và câu tiếng Việt lớp 4. Khi đã nắm vững khái
niệm, hiểu rõ bản chất của các dạng bài tập luyện từ và câu cũng như một số
mẹo để nhận dạng kiến thức, các em dễ dàng vận dụng dùng từ đặt câu và làm
bài tập làm văn sinh động hơn từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học của
môn Tiếng Việt. Từ những lí do trên tôi đã chọn đề tài :"Một số biện pháp cải
thiện và nâng cao chất lượng học tập phân môn Luyện từ và câu Tiếng Việt
1

lớp 4 (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống)".
2. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này mục đích nghiên cứu chính là tìm phương pháp cải thiện và
nâng chất lượng học tập phân môn Luyện từ và câu. Từ đó vận dụng linh hoạt
vào hướng dẫn rèn kỹ năng làm các dạng bài tập Luyện từ và câu cho học sinh
một cách hiệu quả nhất.
3. Phạm vi nghiên cứu
Học sinh lớp 4 trường Tiểu học…
4. Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài xoay quanh việc nghiên cứu giảng dạy và học tập với việc tìm tòi
và áp dụng thực nghiệm đưa ra một số biện pháp nâng cao chất lượng học phân
môn Luyện từ và câu giúp học sinh đạt kết quả cao trong học tập.
B. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
Phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4 giúp cho học sinh: Mở rộng, hệ thống
hóa vốn từ và trang bị cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về từ và câu; Rèn
cho học sinh các kỹ năng dùng từ đặt câu và sử dụng dấu câu. Từ đó giúp học
sinh có thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu và ý thức sử dụng tiếng
Việt trong giao tiếp phù hợp với các chuẩn mực văn hóa.
Việc dạy luyện từ và câu nhằm mở rộng, hệ thống hóa làm phong phú vốn
từ của học sinh, củng cố cho học sinh những hiểu biết sơ giản về từ và câu, rèn
cho học sinh kỹ năng dùng từ đặt câu. Phân môn Luyện từ và câu có vai trò
hướng dẫn học sinh trong việc phát triển học sinh bốn kỹ năng nghe, nói, đọc,
viết, phát triển ngôn ngữ và trí tuệ của các em.
Môn Tiếng Việt lớp 4 theo bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống gồm các
phân môn: Đọc, Luyện từ và câu, Viết, Nói và nghe, Đọc mở rộng. Theo quan
điểm tích hợp, các phân môn được tập hợp lại xung quanh trục chủ điểm và các
bài đọc. Nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng gắn bó chặt chẽ với
nhau.
2

2. Cơ sở thực tiễn
Qua hai năm học được nhà trường phân công chủ nhiệm và giảng dạy ở
khối lớp 4, tôi nhận thấy: Nội dung dạy học phân môn Luyện từ và câu trong
sách Tiếng Việt lớp 4 thường được đánh giá là rất khô khan và trừu tượng; học
sinh rất “ngại” khi học phần này. Nhiều học sinh gặp không ít những khó khăn
và lúng túng khi xác định và vận dụng làm các bài tập về luyện từ và câu. Học
sinh chưa nắm vững khái niệm về tính từ nên chưa làm chủ được mạch kiến thức
về luyện từ và câu; từ đó, việc xác định các biện pháp nghệ thuật cho sẵn hoặc
trong một đoạn văn, khổ thơ hầu như các em chỉ tìm được một số biện pháp tu
từ để nhận biết, còn một số còn lại dễ nhầm lẫn với nhau;
Mặt khác, qua trao đổi với đồng nghiệp, tôi nhận thấy: Học sinh khi thực
hành về các bài tập về luyện từ và câu thường ít hào hứng, không khí lớp học
trầm lắng. Qua quá trình dạy học và trao đổi với đồng nghiệp, tìm hiểu qua học
sinh, tôi đã tìm ra một số nguyên nhân mà giáo viên và học sinh còn hạn chế khi
dạy học phần kiến thức về luyện từ và câu là:
* Về phía giáo viên:
Nhiều giáo viên khi dạy đến phần này nên thường tổ chức bài dạy một cách
đơn điệu, phương pháp áp đặt.
Mặt khác, khi dạy đến nội dung này, giáo viên ít sử dụng đồ dùng trực quan
và các hình thức tổ chức dạy học phát huy tính tích cực của học sinh để tạo ra
các tiết học sinh động không gây nhàm chán cho học sinh.
Khi dạy phần bài tập, một số giáo viên cho các em xác định yêu cầu đề sau
đó cho học sinh làm mẫu và các em làm tương tự các trường hợp còn lại, sau khi
hoàn thành bài tập ít chú trọng nhấn mạnh để học sinh đạt được mục tiêu về kiến
thức và kĩ năng. Khâu kiểm tra, đánh giá là một việc làm quan trọng mà người
giáo viên thường bỏ qua hoặc không chú ý đúng mức.
*Đối với học sinh:
3

Một số học sinh rất “sợ” khi học nội dung này nhất là những học sinh có
năng lực trung bình và yếu.
Các em thường tiếp thu bài học một cách thụ động, máy móc dẫn đến vốn
từ của các em rất nghèo nàn, việc dùng từ khi viết văn chưa hay ảnh hưởng
chung đến chất lượng môn Tiếng Việt.
Một số học sinh chưa nhớ chính xác khái niệm về dạng bài tập luyện từ và
câu. Việc phân định ranh giới các từ chưa đúng cũng là một yếu tố dẫn đến kết
quả chưa đạt yêu cầu.
Trường hợp những tính từ khi xác định phải dựa vào văn cảnh nhưng học
sinh thường xác định từ một cách độc lập chưa đưa vào văn cảnh để xác định.
Bên cạnh đó, các em chưa thực sự hứng thú khi học các bài tập này.
3. Giải pháp thực hiện
Biện pháp 1: Giáo viên hướng dẫn học sinh nắm rõ kiến thức về từ,
câu, kỹ năng sử dụng từ và câu
Kiến thức tiếng Việt là cả một kho tàng phong phú. Ngay từ khi mới bập bẹ
biết nói, các em đã biết dùng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp. Thế nhưng đến lớp 4 các
em mới bước đầu được làm quen với phân tích cấu tạo của từ, câu, từ loại, cách
sử dụng dấu câu.
Giáo viên cần giúp học sinh khai thác tối đa ngữ liệu được cung cấp. Khi
dạy các kiến thức về từ, học sinh thường gặp khó khăn trong việc nhận diện,
phân biệt từ phức, từ ghép tổng hợp, từ ghép phân loại, từ láy. Theo chương
trình luyện từ và câu trong sách Kết nối tri thức với cuộc sống, học sinh chỉ biết
đơn giản về cấu tạo của ba từ loại: từ đơn, từ ghép, từ láy. Việc phân tích từ
ghép có nghĩa tổng hợp, có nghĩa phân loại, từ ghép và từ láy, học sinh phải căn
cứ trên nghĩa của từ. Vì vậy, để giúp học sinh nhận ra hệ thống từ, nhận xét về
mặt cấu tạo giáo viên cần giúp học sinh thao tác ghép các từ với từng phần trong
bài học.
* Ví dụ: Khi dạy bài Danh từ (trang 9, tiếng Việt 4, tập 1, bộ sách Kết nối
4

tri thức với cuộc sống)

Trong kiến thức về từ loại, phần danh từ học sinh rất khó khăn trong việc
nhận diện danh từ chỉ khái niệm, danh từ chỉ đơn vị. Vì vậy, khi dạy phần này
giáo viên cần đưa ba dấu hiệu để giúp học sinh nhận diện danh từ chỉ khái niệm
là :
- Những từ chỉ sự vật có thể cảm nhận bằng trí óc như: đạo đức, kinh
nghiệm,... Những từ được chuyển hoá từ động từ hoặc tính từ khi ghép với các
từ " sự ", " cuộc", " lòng ", ... như: lòng kiên nhẫn, sự hi sinh, ...
- Thường là từ gốc Hán như : Truyền thống, Tổ quốc, ...
- Đối với việc giúp học sinh phân tích và nhận diện danh từ chỉ đơn vị với
các tiểu loại danh từ khác, cần chỉ cho học sinh thấy rằng các từ chỉ đơn vị như:
cái, con, tấm, dãy, cơn, ... có thể kết hợp với các từ chỉ số lượng là: một, hai,
các, vài, lũy, ... trong khi đó không phải từ chỉ sự vật nào cũng có thể kết hợp
được với từ chỉ số lượng.
- Các danh từ chỉ sự vật nếu không thể biểu thị một sự vật đơn thể như: bàn,
ghế, áo, người, ... mà biểu thị các sự vật tồn tại thành tổng thể như: nước, mưa,
quần áo, ... thì không thể kết hợp với từ chỉ số lượng. Giáo viên có thể cung cấp
cho học sinh một số danh từ chỉ loại thường gặp như:
Danh từ chỉ loại đi với vật thể: cái, con, cây, quả, người, ... ( người thợ, cây
bàng, con khỉ, ...) ông, bà, ... ( ông bác sĩ, bà kĩ sư, ...)
5

Danh từ chỉ loại đi với danh từ chất thể ( vải, nước, nhôm, đồng ) : cục,
thanh, tấm, giọt, hạt, ... ( Ví dụ như: tấm vải, giọt nước, ...) Danh từ chỉ loại đi
với danh từ chỉ hiện tượng: cơn, làn, trận, ... (cơn mưa, trận bão, ...)
Ví dụ: Khi dạy kiến thức sơ giản về câu (trang 9, tiếng Việt 4, tập 2, bộ
sách Kết nối tri thức với cuộc sống)

Học sinh dễ nhầm lẫn vị ngữ trong câu kể ai thế nào ? là động từ chứ không
phải là tính từ. Các em thường có xu hướng xác định mọi câu kể có động từ
thuộc câu kể Ai làm gì? Các em quen với động từ là từ chỉ hành động bởi khái
niệm " trạng thái", " tình thái" chưa được hình thành hoặc hình thành chưa rõ
ràng. Vì vậy, khi dạy học, giáo viên kết hợp miêu tả bằng động tác hoặc hình vẽ
với những ví dụ để học sinh hình dung sự khác nhau giữa hành động và trạng
thái.
- Hành động thể hiện trực tiếp những đặc điểm vận động của chủ thể (Ví dụ
: chạy, nhảy, viết, đi, ...) Trạng thái thể hiện mối liên hệ giữa vận động của sự
vật, hiện tượng trong một hoàn cảnh hoặc không gian, thời gian. ( Ví dụ: Mặt
trời toả nắng. Bé Hoa ngủ. Hoa nở rộ trong vườn. ...)
- Giáo viên nên giới thiệu thêm một số động từ chỉ trạng thái thường dùng
thể hiện ý nghĩa về sự cần thiết như: cần, nên, phải, ... Từ chỉ khả năng như: có
6

thể, không thể, ... Từ thể hiện ý chí, ý định: toan, định, dám, ... Từ thể hiện sự
mong muốn: mong ước, ước mơ, ... Từ thể hiện ý nghĩ hay nhận xét: nghĩ,
tưởng, xem, cho, ... ( Ví dụ: Tôi cho rằng hoa hồng đẹp nhất).
- Việc nhận diện trạng ngữ (trang 49, tiếng Việt 4, tập 2, bộ sách Kết nối
tri thức với cuộc sống) cũng là một vấn đề khó đối với các em.

Về vai trò ngữ pháp, trạng ngữ là thành phần phụ không bắt buộc phải có
mặt trong câu, nhưng thêm phần trạng ngữ cho câu là để phản ánh đầy đủ tình
cảm, nhận thức chủ quan của người nói. Về cấu tạo trạng ngữ là một cụm từ có
hoặc không có quan hệ từ đứng trước. Trạng ngữ có thể đứng ở đầu câu, giữa
câu hoặc cuối câu. Trạng ngữ ở đầu câu dễ gặp nhất, học sinh dễ nhận thấy còn
trạng ngữ ở giữa câu và cuối câu học sinh khó nhận diện. Sách giáo khoa Tiếng
Việt 4 chỉ nêu trường hợp trạng ngữ đứng ở đầu câu nhưng nếu học sinh đặt
những câu có trạng ngữ ở vị trí khác, giáo viên vẫn chấp nhận và chỉ cho học
sinh thấy vị trí linh hoạt của trạng ngữ.
Biện pháp 2: Vận dụng hiệu quả đồ dùng dạy học trực quan để nâng
cao hiệu quả tiết học Luyện từ và câu
Khi dạy các kiến thức về phân môn Luyện từ và câu, tôi thường sử dụng
các đồ dùng trực quan, vật thật hoặc đưa các từ vào trong một văn cảnh cụ thể
7

để học sinh dễ dàng xác định.
Con đường nhận thức của học sinh Tiểu học từ trực quan sinh động đến tư
duy trừu tượng, để giúp học sinh khỏi nhàm chán và giờ học thêm sinh động, tôi
thường sử dụng đồ dùng trực quan hoặc các vật thật để giúp học sinh tiếp nhận
tri thức một cách dễ dàng.
Ví dụ: Khi dạy đến bài “Câu” (trang 9, tiếng Việt 4, tập 1, bộ sách Kết
nối tri thức với cuộc sống)

Tôi yêu cầu học sinh đặt 3 câu kể Ai thế nào?, mỗi câu tả một cây hoa mà
em yêu thích, tôi cảm thấy học sinh có phần uể oải do vậy, tôi yêu cầu các em
không phải làm bài tập này vào vở mà cô cùng các em sẽ tới tham quan vườn
hoa của lớp mình; lớp học sôi động hẳn lên, một số học sinh reo lên “A! thích
quá! Thích quá!”
Tôi cùng các em học sinh đến với vườn hoa nhỏ của lớp mình.

8

Người viết

Đỗ Văn Hiếu
Liên hệ Zalo: 0985598499

9
 
Gửi ý kiến