Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Hành trình về phương đông

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Ngọc Thúy
Ngày gửi: 14h:24' 15-11-2023
Dung lượng: 734.2 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG
ĐÔNG
Dr. Blair T. Spalding
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động

Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.

Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com


Mục lục


Chương I

Chương II

Chương III

Chương IV

Chương V

Chương VI

Chương VII

Chương VIII

Chương IX

Chương X



Dr. Blair T. Spalding
HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG
Dịch giả : Nguyên Phong
Chương I
Lời mở đầu
Trong cuộc sống vội vã, quay cuồng hiện tại, nhiều người đã mất đi niềm
tin. Họ quan niệm rằng sống để thụ hưởng, thoả mãn các nhu cầu vật chất vì
chết là hết. Không có Thượng đế hay một quyền năng siêu phàm gì hết. Các
đây không lâu, một tờ báo lớn tại Hoa kỳ đã tuyên bố, “Thượng đế đã chết!”
Tác giả bài báo công khai thách đố mọi người đưa ra bằng chứng rằng
Thượng đế còn sống. Dĩ nhiên, bài báo đó tạo nên một cuộc bàn cãi rất sôi
nổi. Một nhà thiên văn học tại trung tâm nghiên cứu Palomar cũng cho biết,
“Tôi đã dùng kính viễn vọng tối tân nhất, có thể quan sát các tinh tú xa trái
đất hàng triệu năm ánh sáng mà nào có thấy thiên đường hay thượng đế cư
ngụ nơi nào?” Sự ngông cuồng của khoa học thực nghiệm càng ngày càng đi
đến chỗ quá trớn, thách đố tất cả mọi sự. Tuy nhiên, trong lúc khoa học đang
tự hào có thể chứng minh, giải thích tất cả mọi sự, thì một sự kiện xảy ra :
Một phái đoàn ngoại giao do Tiểu vương Ranjit Singh cầm đầu sang thăm
viếng nước Anh. Trong buổi viếng thăm đại học Oxford, vua Ranjit đã sai
một đạo sĩ biểu diễn. Vị đạo sĩ này đã làm đảo lộn quan niệm khoa học lúc
bấy giờ. Không những ông ta có thể uống tất cả mọi chất hoá học, kể cả
những chất cường toan cực mạnh mà không hề hấn gì, ông ta còn nhịn thở
hàng giờ đồng hồ dưới đáy một hồ nước. Sau khi để một phái đoàn y sĩ do
bác sĩ Sir Claude Wade khám nghiệm, ông ta còn chui vào một quan tài để bị
chôn sống trong suốt 48 ngày. Khi được đào lên, ông ta vẫn sống như
thường. Đạo sĩ còn biểu diễn nhiều việc lạ lùng, dưới sự kiểm chứng nghiêm
khắc của các khoa học gia. Điều này gây sôi nổi dư luận lúc đó. Hội Khoa
Học Hoàng Gia đã phải triệu tập một uỷ ban để điều tra những hiện tượng
này. Một phái đoàn gồm nhiều khoa học gia tên tuổi được chỉ thị sang Ấn độ
quan sát, sưu tầm, tường trình và giải thích những sự kiện huyền bí. Phái
đoàn khoa học đã đặt ra những tiêu chuẩn rõ rệt để giúp họ quan sát với một
tinh thần khoa học tuyệt đối. Không chấp nhận bất cứ một điều gì nếu không

có sự giải thích rõ ràng, hợp lý. Để soạn thảo bản tường trình, mỗi khoa học
gia trong phái đoàn phải tự mình ghi nhận những điều mắt thấy, tai nghe vào
sổ tay cá nhân. Sau đó, tất cả cùng nhau so sánh chi tiết và kiểm chứng cẩn
thận. Chỉ khi nào tất cả đều đồng ý thì điều đó mới được ghi nhận vào biên
bản chính. Điều này đặt ra để bảo đảm cho sự chính xác, không thành kiến
đến mức tối đa. Tất cả những điều gì xảy ra mà không có sự giải thích khoa
học, hợp lý đều bị loại bỏ.
Khi ra đi, họ không mấy tin tưởng nhưng khi trở về, họ đều đổi khác. Giáo
sư Spalding đã cho biết, “Phương Đông có những chân lý quan trọng đáng
để cho người Tây phương nghiên cứu, học hỏi. Đã đến lúc người Tây
phương phải quay về Đông phương để trở về với quê hương tinh thần.” Điều
đáng tiếc là sự trở về của phái đoàn đã gặp nhiều chống đối mãnh liệt từ một
dư luận quần chúng đầy thành kiến hẹp hòi. Các khoa học gia bị bắt buộc
phải từ chức, không được tuyên bố thêm về những điều chứng kiến. Sau đó ít
lâu, trưởng phái đoàn, giáo sư Spalding đã cho xuất bản bộ sách, “Life and
teachings of Masters of the East” và nó đã gây ra một dư luận hết sức sôi
nổi. Người ta vội tìm đến những người trong phái đoàn, thì được biết họ đã
rời bỏ Âu châu để sống đời tu sĩ trong dãy tuyết sơn. Tuy thế, ảnh hưởng
cuốn sách này đã tạo hứng khởi cho nhiều người khác trở qua Ấn độ để kiểm
chứng những điều ghi nhận của phái đoàn. Thiên ký sự của Sir Walter Blake
đăng trên tờ London Scientific cũng như loạt điều tra của ký giả Paul Bruton,
Max Muller đã vén lên tấm màn huyền bí của Đông phương và xác nhận giá
trị cuộc nghiên cứu này.
Ấn độ là xứ có rất nhiều tôn giáo. Tôn giáo gắn liền với đời sống và trở nên
một động lực rất mạnh làm chủ mọi sinh hoạt người dân xứ này. Người Ấn
thường tự hào rằng văn hoá của họ là một thứ văn minh tôn giáo và dân xứ
này được thừa hưởng một kho tàng minh triết thiêng liêng không đâu có. Vì
thế Hội Khoa Học Hoàng Gia đã bảo trợ cho phái đoàn đến Ấn độ để nghiên

cứu những hiện tượng huyền bí này.
Tuy nhiên, sau hai năm du hành khắp Ấn độ từ Bombay đến Calcutta, thăm
viếng hàng trăm đền đài, tiếp xúc với hàng ngàn giáo sĩ, đạo sĩ nổi tiếng ,
phái đoàn vẫn không thoả mãn hay học hỏi điều gì mới lạ. Phần lớn các giáo
sĩ chỉ lập đi lập lại những điều đã ghi chép trong kinh điển, thêm thắt vào đó
những mê tín dị đoan, thần thánh hoá huyền thoại để đề cao văn hoá xứ họ.
Đa số tu sĩ đều khoe khoang các địa vị, chức tước họ đã đạt. Vì không có
một tiêu chuẩn nào để xác định các đạo quả, ai cũng xưng là hiền triết
(Rishi), sư tổ (Guru), hay đại đức (Swami), thậm chí có người xưng là thánh
nhân giáng thế (Bhagwan). Ấn độ giáo (Hinduism) không có một chương
trình đào tạo tu sĩ như Thiên chúa giáo, bất cứ ai cũng có thể vỗ ngực xưng
danh, ai cũng là tu sĩ được nếu y cạo đầu, mặc áo tu hành, xưng danh tước,
địa vị để lôi cuốn tín đồ. Ấn giáo không phải một tôn giáo thuần nhất, mà có
hàng ngàn tông phái khác nhau, mỗi tông phái lại chia làm nhiều hệ phái độc
lập chứ không hề có một tổ chức hàng dọc như các tôn giáo Âu châu. Các
giáo sĩ mạnh ai nấy giải thích kinh điển theo sự hiểu biết của họ. Phần lớn cố
tình giảng dạy những điều có lợi cho họ nhất, ngoài ra họ còn tụ họp để
phong chức tước lẫn nhau hay chống đối một nhóm khác. Sự tranh luận tôn
giáo là điều xảy ra rất thường, nhóm nào cũng tự nhận họ mới là chính
thống, mới là đúng với giáo lý của thượng đế. Do đó, cuộc nghiên cứu tôn
giáo của phái đoàn không mang lại một kết quả mong ước, nhiều lúc mọi
người thấy lạc lõng, rồi rắm không biết đâu là đúng, là sai. Hội Khoa Học
Hoàng Gia chỉ thị việc nghiên cứu phải đặt căn bản trên nền tảng khoa học,
hợp lý nhưng lấy tiêu chuẩn này áp dụng sẽ gặp nhiều trở ngại vì văn hoá Ấn
độ và Âu châu khác hẳn nhau. Người dân xứ này chấp nhận các tông phái
như một điều hiển nhiên, không ai chất vấn khả năng các giáo sĩ hay suy xét
xem lời tuyên bố của họ có hợp lý hay không ? Họ sùng tín một cách nhiệt
thành, một cách vô cùng chịu đựng.

Thất vọng về cuộc du khảo không mang lại kết quả như ý muốn, giáo sư
Spalding một mình lang thang đi dạo trong thành Benares. Giữa rừng người
hỗn tạp ồn ào, một thuật sĩ cởi trần đang phùng má thổi kèn gọi rắn. Một con
rắn hổ to lớn nằm trong sọt ngửng cổ lên cao, phun phì phì. Tiếng kèn lên
bỗng xuống trầm, con rắn cũng lắc lư, nghiêng ngã. Đám đông xúm lại xì
xầm coi bộ khâm phục lắm. Nếu họ hiểu con rắn đã bị bẻ răng, nuôi bằng bả
á phiện và được luyện tập cẩn thận… Khắp xứ ấn, các trò bịp bợm này diễn
ra không biết bao nhiêu lần trong ngày, nó sẽ kết thúc khi một vài tên “cò
mồi” đứng trong đám đông vỗ tay, ném tiền vào rổ, và khuyến khích dân
chúng ném theo… Đang mãi mê suy nghĩ, Spalding bỗng thấy một người Ấn
to lớn, phong độ khác thường chăm chú nhìn ông mỉm cười. Người Ấn lễ
phép cúi đầu chào bằng một thứ tiếng Anh hết sức đúng giọng, ông cũng đáp
lễ lại. Câu chuyện dần dần trở nên thân mật, Spalding bèn lên tiếng hỏi
người bạn mới quen nghĩ sao về những trò bịp bợm này. Người Ấn trả lời :
- Các vị minh sư đâu có cư ngụ trong đền thờ lộng lẫy, họ đâu in danh thiếp
với các chức tước, địa vị to lớn, trọng vọng. Họ đâu cần phải quảng cáo các
quyền năng, đạo quả hoặc in tên trong điện thoại niên giám. Một vị minh sư
không nhất thiết phải có đông đệ tử, muốn tìm gặp họ phải biết phân biệt.
Các đạo sĩ mà ông đã gặp, sở dĩ nổi tiếng có đông giáo đồ vì họ biết thu tập
đệ tử qua các hình thức quảng cáo, biết hứa hẹn những điều giáo đồ muốn
nghe, họ chả dạy điều gì ngoài một số “từ chương” trong kinh sách. Điều
này một người thông minh có thể tự đọc sách, nghiên cứu lấy. Phải chăng
ông thất vọng vì các đạo sĩ ông đã gặp chưa từng có các kinh nghiệm tâm
linh?”
Giáo sư Spalding ngạc nhiên :
- Tại sao ông biết rõ như thế?

Người Ấn mỉm cười :
- Các ông đã bàn cãi với nhau rằng cuối tháng này, nếu không thu thập thêm
điều gì mới lạ, phái đoàn sẽ trở về Âu châu và kết luận rằng Á châu chả có
điều gì đáng học hỏi. Giai thoại về các bậc hiền triết, thánh nhân chỉ là
những huyền thoại để tô điểm cho vẻ huyền bí Á châu.
Giaó sư Spalding mất bình tĩnh :
- Nhưng tại sao ông lại biết những điều này? Chúng tôi vừa bàn định với
nhau như thế, ngay trong phái đoàn còn có nhiều người chưa rõ kia mà ?
Người Ấn nở một nụ cười bí mật và thong thả nhấn mạnh :
- Ông bạn thân mến, tư tưởng có một sức mạnh thần giao vượt khỏi thời gian
và không gian. Thái độ của ông bạn là lý do mà hôm nay tôi đến đây để
chuyển giao một thông điệp ngắn ngủi, chắc hẳn ông bạn rất thuộc thánh
kinh, “Hãy gõ cửa, rồi cửa sẽ mở. Hãy tìm rồi sẽ gặp”. Đó là thông điệp của
một vị chân sư nhờ tôi chuyển giao.”
Sự kiện người Ấn đứng giữa chợ Benares nhắc đến một câu trong Kinh
thánh làm giáo sư Spalding ngây ngất như say vừa tỉnh. Toàn thân ông như
rung động bởi một luồng điện cao thế.
Ông lắp bắp:
- Nhưng làm sao chúng tôi biết các ngài ở đâu mà tìm ? Chúng tôi đã bỏ ra
suốt hai năm trời đi gần hết các đô thi, làng mạc xứ Ấn…
Người Ấn nghiêm nghị trả lời :

- Hãy đến Rishikesh, một thị trấn bao phủ bởi dẫy Hy Mã Lạp Sơn, các ông
sẽ gặp những đạo sĩ hoàn toàn khác hẳn những người đã gặp. Những đạo sĩ
này chỉ sống trong các túp lều sơ sài, hoặc ngồi thiền trong các động đá. Họ
ăn rất ít và chỉ cầu nguyện. Tôn giáo đối với họ cần thiết như hơi thở. Đó
mới là những người dành trọn cuộc đời cho sự đi tìm chân lý. Một số người
đã thắng đoạt thiên nhiên và chinh phục được các sức mạnh vô hình ẩn tàng
trong trời đất… Nếu các ông muốn nghiên cứu về các quyền năng, phép tắc
thần thông thì các ông sẽ không thất vọng.
Người Ấn im lặng một lúc và nhìn thẳng vào mặt giáo sư Spalding :
- Nhưng nếu các ông muốn đi xa hơn nữa, để tìm gặp các đấng chấn sư
(Rishi) thì các ông còn mất nhiều thời gian nữa…
Giaó sư Spalding thắc mắc :
- Ông vừa dùng danh từ Chân sư, vậy chứ Chân sư (Rishi) và đạo sĩ (Yogi)
khác nhau thế nào?
- Nếu ông tin ở thuyết tiến hoá của Darwin, thì tôi xin tóm tắt : “sự tiến hoá
của linh hồn đi song đôi với thể xác. Chân sư là một người đã tiến rất xa trên
mức thang tiến hoá; trong khi đạo sĩ chỉ mới bắt đầu…”
- Như thế thì các vị chân sư có thể làm các phép lạ được chứ ?
Người Ấn mỉm cười khẽ lắc đầu :
- Chắc chắn như thế, nhưng phép thuật thần thông đâu phải mục đích tối hậu
của con đường đạo. Nó chỉ là kết quả tự nhiên do sự tập trung tư tưởng và ý

chí. Đối với các bậc chân sư, sử dụng phép thuật là điều ít khi nào các ngài
phải làm. Mục đích của con đường đạo là Gỉai Thoát, là trở nên toàn thiện
như những đấng cao cả mà đức Jesus là một .
Giáo sư Spalding cãi :
- Nhưng chúa Jesus đã từng làm các phép lạ .
Người Ấn bật cười trả lời :
- Ông bạn thân mến, bạn nghĩ rằng chúa Jesus làm vậy vào mục đích khoe
khoang hay sao ? Không bao giờ, đó chỉ là những phương tiện để cảm hoá
những người dân hiền lành, chất phác và đem lại cho họ một đức tin mà thôi.
Một lần nữa, người Ấn lạ lùng này lại nói về một đấng giáo chủ mà hầu như
mọi người Tây phương đều biết đến. Giáo sư Spalding suy nghĩ và hỏi :
- Thế tại sao các đấng Chân sư không xuất hiện dạy dỗ quần chúng ?
Người Ấn nghiêm nghị :
- Ông nghĩ rằng các ngài sẽ tuyên bố cho người đời biết mình là ai chăng ?
Nếu đức Phật hay đấng “Christ” hiện ra tuyên bố các giáo điều, liệu ông có
chịu tin không ? Có lẽ các ngài phải biểu diễn các phép thần thông như đi
trên mặt nước hay biến ra hàng ngàn ổ bánh mì cho dân chúng thì các ông
mới tin sao ? Điều này chắc rồi cũng sẽ có một số đạo sĩ Hắc đạo biễu diễn
để lôi cuốn tín đồ nhưng các đấng cao cả đâu có làm thế phải không ông bạn
?

- Nhưng….nhưng các ngài sống ẩn dật như thế có lợi gì cho thế gian đâu ?
Người Ấn mỉm cười :
- Vì không biết rõ các ngài nên thế gian không thể xét đoán các ngài một
cách đứng đắn. Ai bảo rằng các ngài không giúp ích gì cho nhân loại ? Nếu
tôi quả quyết rằng đấng “Christ” vẫn thường xuất hiện và vẫn giúp đỡ nhân
loại không ngừng thì ông có tin không ? Có lẽ ông sẽ đòi hỏi một bằng
chứng, một hình ảnh hoặc một cái gì có thể chứng minh được. Bạn thân mến,
những tư tưởng sâu xa của các đấng cao cả không dễ gì chúng ta hiểu thấu.
Có lẽ câu trả lời giản dị nhất là các ngài phụng sự thế gian một cách âm
thầm, lặng lẽ bằng cách phóng ra các tư tưởng yêu thương, bác ái, tốt lành
mà sức mạnh có thể vượt thời gian và không gian. Tuy mắt ta không trông
thấy nhưng hiệu lực của nó vô cùng mạnh mẽ. Khi xưa, nhân loại còn ấu trĩ
nên các ngài đã xuất hiện để đặt một nền móng, căn bản, hướng dẫn loài
người. Đến nay, nhân loại đã ít nhiều trưởng thành và phải tự lập, sử dụng
khả năng của mình, chịu trách nhiệm về những việc họ làm.
Giáo sư Spalding suy nghĩ và hỏi :
- Lúc nãy bạn nói rằng có một vị chân sư nhờ bạn chuyển giao một thông
điệp cho chúng tôi. Bạn có thể cho tôi biết địa chỉ của ngài được không ?
- Bạn thân mến, tất cả đều do Nhân Duyên, đến khi nào đủ duyên bạn sẽ gặp
các ngài.
Nói xong, người Ấn độ cúi đầu chào và biến mất trong đám người đông đúc,
ồn ào giữa ngôi chợ thành phố Benares.

Chương II
Người đạo sĩ thành Benares
Thành phố Benares là một nơi có nhiều di tích lịch sử và có rất nhiều tu
sĩ. Bất cứ một người Âu Mỹ nào đến đây cũng ngạc nhiên về thành phố dân
cư đông đúc, nhà cửa san sát và khắp nơi nhan nhản những đền thờ, lăng tẩm
đồ sộ. Có những ngôi đền trông thì thật cổ kính, trang nghiêm nhưng khi
bước vào trong bạn sẽ thấy gì ? Một số tín đồ hành lễ ngây ngô vừa cầu
nguyện, vừa rung một cái chuông nhỏ để lời cầu xin của họ thấu đến tai các
vị thần. Một số khá đông đạo sĩ ngồi trong các tư thế du già (yoga) cực kỳ lạ
lùng, khó tập luyện để tín đồ đến bỏ tiền vào trong bát nhỏ bầy trước mặt họ.
Chúng tôi có cảm tưởng như họ làm xiếc biễu diễn kiếm ăn hơn là thực hành
một pháp môn tu hành chân chánh.
Trong khi mọi người trong phái đoàn đang quay phim những đạo sĩ ngồi trên
bàn đinh, các đền thờ to lớn, thì giáo sư Spalding thong thả đi dạo ngoài bờ
sông. Ông nhìn thấy một đạo sĩ vóc người lực lưỡng đang đi gần đó. Như có
một mãnh lực vô hình nào đó thúc đẩy, Spalding muốn vượt lên để nhìn cho
rõ, ông bèn rẽ qua một lùm cây rậm rạp, để bắt cho kịp vị đạo sĩ nọ. Vừa đi
được vài bước, ông đã giựt mình vì gặp một con rắn hổ mang to lớn chận lối.
Rắn hổ là một loại rắn cực độc, hàng năm có hàng ngàn người bị rắn cắn
chết, vì ở xứ Ấn giống rắn này có nhiều vô kể, xuất hiện khắp nơi. Tiến thoái
lưỡng nan, chưa biết phải làm gì thì con rắn đã trườn tới ngẩng cao cổ phun
phì phì. Bất ngờ, vị đạo sĩ ở đâu đi đến, ông chẳng nói gì chỉ bước thẳng vào
giữa con rắn và giáo sư Spalding. Vị đạo sĩ dơ tay vuốt nhẹ, con rắn từ từ bò
vào trong bụi rậm, mất hút trước sự ngạc nhiên của giáo sư Spalding. Vị đạo
sĩ mỉm cười thong thả tuyên bố :
- Cái phàm ngã hữu hình, hữu hoại không thể làm việc này mà đó là cái
Chân Ngã thâm diệu, cái mà ta gọi là thượng đế ngự trong tôi và muôn loài
đã khiến con rắn bỏ đi, khi hoàn toàn gạt bỏ cái phàm ngã bên ngoài để cho
cái Chân Ngã tự biểu lộ, và hành động thì không chuyện gì có thể xảy ra

nữa. Bằng cách phát triển toàn vẹn tình thương và bác ái của thượng đế cho
nó xuyên qua mình và ban rải cho muôn loài ta sẽ cảm hoá được các thú dữ.
Khi ông vừa gặp con rắn, một tư tưởng sợ hãi phát ra, và tôi đã nhận được tư
tưởng này; ngoài ra hình như ông có ý muốn gặp tôi ?
Giáo sư Spalding ấp úng :
- Chúng tôi đang suy tầm các hiện tượng huyền bí Á châu – thú thật là tôi
đang cảm thấy hoang mang và thất vọng về những điều nhìn thấy ngoài chợ
nhưng khi vừa nhìn thấy ông, tôi linh cảm có một sự gì khác thường - - Hình
như có một mãnh lực vô hình nào xui khiến.
Đạo sĩ chăm chú nhìn giáo sư rồi ra dấu cho ông này ngồi xuống bên gốc cây
cổ thụ gần đó. Đạo sĩ lên tiếng :
- Sáng nay trong cơn thiền định, tôi nhận được một thông điệp về các ông,
do đó tôi mới rời am thất đi dạo bên ngoài. Phải chăng các ông muốn tìm
hiểu về phép tu Du Già (Yoga)? Đáng lý không bao giờ tôi tiết lộ điều này ,
nhưng tôi đã nhận thông điệp phải giúp đỡ các ông vậy thì ông cứ hỏi, tôi sẽ
cố gắng trả lời tuỳ theo sự hiểu của mình.
- Xin ông cho chúng tôi được biết về khoa Du Già (Yoga).
Đạo sĩ yên lặng trong chốc lát và lên tiếng :
- Không ai biết rõ pháp môn Du Già (Yoga) bắt đầu từ lúc nào trong lịch sử.
Kinh sách Ấn độ giáo (Hinduism) nói rằng thần Shiva truyền dạy môn này
cho hiền triết Gheranda. Nhà hiền triết dạy lại cho các đệ tử của ông nhưng
chỉ có Marteyanda là lãnh hội được các tinh tuý và phổ biến trong giới trí
thức thời đó.

Du Già (Yoga) là một khoa học bao gồm nhiều thứ từ : thiên văn, địa lý, triết
học, toán học, v..v.. Pháp môn tôi được truyền dạy gọi là Hatha Yoga, chỉ là
một phần nhỏ của toàn bộ Yoga. Theo lời sư phụ tôi thì trong thời cực thịnh,
Yoga phát triển khắp nơi và lôi cuốn giới hiền triết, trí thức rất đông. Theo
thời gian, thời hoàng kim đã qua, nhân loại đã sa vào hố thẳm của sa đoạ vật
chất, bị lôi cuốn vào các cám dỗ xác thịt. Để chống lại sự phá sản tâm linh
này, các hiền triết đã hội thảo để tìm một giải pháp. Sau cùng họ đi đến kết
luận là cho phép truyền dạy một phần của môn Yoga cho quần chúng, nhằm
đem lại một giải pháp cho giai đoạn lúc đó. Phần được truyền dạy này trích ở
chương Yuj (cái ách) gồm các phương pháp trói buộc tinh thần lẫn thể xác
trong một kỷ luật khắc khe để đạt mục đích tập trung Tâm và Thân làm một
với bản thể trời đất. Từ đó phần này được truyền bá khắp nơi và tồn tại đến
ngày nay. Vì trích ở chương Yuj, nên nó được gọi là Yoga. Nên nhớ đây chỉ
là một phần rất nhỏ của môn Yoga nguyên thuỷ, vậy mà phần nhỏ này cũng
chỉ rất ít người hiểu rõ một cách đứng đắn. Đa số đã hiểu sai nên mới có các
lối tập luyện kỳ dị, các lối tu khổ hạnh điên rồ, các tư thế lố bịch. Như các
ông thấy, có các đạo sĩ nằm bàn đinh, dơ cánh tay lên trời cho đến khi nó
khô liệt. Sự luyện tập như thế không có ích gì mà cũng chả mang lại một kết
quả gì. Đó là những kẻ làm hoen ố danh dự một môn khoa học như Yoga.
Đối với đa số, Yoga đã bị hạ thấp xuống thành một môn thể dục để thân thể
khoẻ mạnh cường tráng.
Tuy thế, nếu luyện thế đúng cách nó vẫn mang lại nhiều kết quả tốt cho thể
xác. Nhưng các đạo sĩ (Yogi) lại khác, họ biết rằng luyện tập môn này sẽ
giúp họ khám phá các năng lực tiềm tàng, mầu nhiệm, giúp họ đạt các phép
thần thông biến hoá.
Để luyện ý chí, họ tập trung năng lực vào các việc như hành xác, bắt nó chịu
các thử thách cực độ như phơi nắng, dầm sương, ngồi trên than hồng, đứng

bằng tay, tréo chân lên cổ, nhịn đói, nhịn khát, lấy gươm xiên vào da thịt,
v..v…
Để chứng minh quyền năng ý chí, họ đem trò này ra biễu diễn cho quần
chúng để tìm cách vừa kiếm tiền, vừa hưởng sự kính trọng của đám dân
chúng khờ khạo.
Mục đích của Yoga đâu phải làm trò lạ mắt cho người đời kính phục.
Giaó sư Spalding ngắt lời :
- Nhưng ta có nên trách họ không ? Nếu các đạo sĩ chân tu dấu kín các phép
tu chân truyền thì sự hiểu lầm làm sao tránh khỏi.
Đạo sĩ mỉm cười thong thả giải thích :
- Một ông vua có khi nào phơi bày ngọc ngà, châu báu cho mọi người coi
chơi. Ông ta cất dấu cẩn thận có phải thế chăng? Pháp môn Yoga còn gì quý
bằng nên người tu chân chính không khi nào đem rao bán ngoài chợ. Kẻ nào
thành tâm muốn học hỏi phải ra công tìm kiếm và đó là phương pháp duy
nhất. Một danh sư không cần quảng cáo rầm rộ vì không cần các đệ tử xúm
vào xưng tụng. Trái lại, ông tuyển chọn đệ tử gắt gao và chỉ truyền dạy các
giáo lý bí truyền khi người đệ tử tỏ ra xứng đáng. Khoa Yoga bí mật vì cách
luyện tập rất nguy hiểm đối với người non kém, chưa đủ khả năng. Khai mở
các bí huyệt đâu phải trò chơi tầm thường .
Có rất nhiều môn Yoga khác nhau, nhưng tôi tu luyện theo môn Hatha Yoga,
nhắm việc chủ trị xác thân trước khi chủ trị tinh thần. Lúc đầu ta phải luyện
tập bắp thịt và bộ máy hô hấp cho thật thuần thục, sau đó mới đi vào thần
kinh, não tuỷ. Nếu tập đúng cách, sức khoẻ sẽ tăng cường, sống lâu và có ý

chí mạnh mẽ. Đó chỉ là giai đoạn nhập môn, nó đòi hỏi ít nhất từ một đến
bốn năm mới đáng kể. Thân thể có cường tráng, tinh thần có dũng mãnh mới
có thể tiếp tục bước vào giai đoạn kế tiếp.
Giáo sư Spalding gật gù :
- Như thế môn này khác phương pháp thể dục của người Âu Mỹ thế nào ?
Chúng tôi cũng có các cách khiến thân thể khoẻ mạnh.
Đạo sĩ bật cười lớn :
- Người Âu Mỹ biết cách làm thân thể nẩy nở trên bộ da, bắp thịt, làm sao so
với lối luyện tập của người Á châu, vốn chú trọng từ bên trong ra đến bên
ngoài. Trước hết có bốn cách thức căn bản : Nghỉ ngơi làm xoa dịu thần
kinh, cân não. Tĩnh toạ để tập trung ý chí. Điều tức để tẩy uế thân thể, khu
trục các chất cặn bã, và Khí công để kiểm soát hơi thở. Hãy lấy một thí dụ
giản dị như việc nghỉ ngơi, hãy quan sát con mèo khi nó nằm yên hay rình
bên lỗ chuột. Con mèo biết cách dưỡng sức, bảo tồn sinh lực không hao phí
chút nào. Mọi cử động tư thế là cả một sự suy nghĩ, kiểm soát để thoải mái
tối đa. Người Âu các ông tưởng mình biết nghỉ ngơi, nhưng thật ra các ông
không biết gì cả. Các ông ngồi trên ghế một lúc rồi quay bên này, ngả bên
nọ. Khi thì tréo chân, lúc lại dang tay, coi thì thoải mái nhưng trí óc các ông
hoạt động liên miên từ việc này đến việc nọ. Như thế chỉ là hoạt động ầm
thầm chứ đâu phải nghỉ ngơi. Loài vật biết cách dưõong sức bởi vì chúng có
bản năng dìu dắt mà bản năng là tiếng nói tự nhiên. Loài người được hướng
dẫn bằng lý trí, nhưng thay vì làm chủ lý trí, họ đã không kiểm soát được bộ
óc của họ, nên hậu quả là cả hệ thống thần kinh thể xác thể đều bị ảnh
hưởng. Sự nghỉ ngơi hoàn toàn gần như không có.
Giáo sư Spalding thở dài thú nhận :

- Đó là điều chúng tôi không bao giờ nghĩ đến, nhưng liệu ông có thể nói rõ
hơn về khái niệm sơ đẳng môn Hatha Yoga không ?
- Tôi chỉ có thể nói một vài tư thế giúp con người tăng cường sức khoẻ thôi.
Có hai mươi tư thế (Asana), mà ai cũng có thể tập luyện để tăng cường sinh
lực. Các tư thế này có ảnh hưởng đến một số bí huyệt khiến nó tác động lên
các cơ quan suy yếu, giúp nó hoạt động trở lại mạnh mẽ hơn. Khoa học Tây
phương đã chứng minh rằng ngoài các mạch máu chính, thân thể con người
còn có hàng triệu các vi ti mạch chạy khắp nơi để đưa dưỡng khí nuôi cơ thể.
Nếu một cơ quan hay bắp thịt ít hoạt động hay suy yếu, thì số lượng các vi ti
mạch (capillaries) cũng giảm bớt đi. Tập thể thao hay bơi lội có thể làm các
mạch máu nhỏ này gia tăng hoạt động, khiến cơ quan phục hồi. Cũng như
thế, tập các tư thế Yoga sẽ làm luồng hoả hầu (Prana) lưu chuyển, kích động
các cơ quan từ trong khiến nó hoạt động nhưng tập Yoga làm nó hoạt động
đúng với hiệu năng sẵn có. Do đó, nó mang lại nhiều hiệu quả thần diệu hơn.
Con người không có lo gì bệnh tật nữa, nếu có bệnh cũng sẽ khỏi hoàn toàn.
Giáo sư Spalding lắc đầu :
- Tôi không tin người Âu Mỹ sẽ chấp nhận việc tập Yoga chữa được hết
bệnh tật.
Đạo sĩ mỉm cười :
- Một thân thể khoẻ mạnh, cường tráng làm sao có thể bị bệnh được ? Bệnh
tật là do sự mất quân bình trong cơ thể. Người Âu Mỹ các ông chỉ biết hoạt
động chứ đâu biết nghỉ ngơi, thế đã là lý do gây nên các bệnh thần kinh rồi.
- Thôi được, xin ông nói thêm về cách tập luyện ra sao ?

Đạo sĩ thong thả giải thích :
- Việc đầu tiên là phải ngồi cho thoải mái, ngồi trên ghế, nhất là các ghế
bành êm ái rất có hại cho xương sống, con đường vận hà chính của luồng
hoả hầu (Prana), và là nguyên nhân gây nên các chứng đau lưng, bại xuội,
phong thấp. Phép ngồi thật ra rất dễ, chỉ cần ngồi xếp bằng dưới đất, không
dựa vào đâu, không nghiêng ngả bên nào, giữ cở thể thật thăng bằng, xương
sống phải thật thẳng và thở nhẹ, đều đặn. Ai cũng có thể thở nhẹ trong vài
phút nhưng sau đó sẽ lại thở loạn xạ ngay. Đó là vì bộ óc quen hoạt động,
quen náo nhiệt. Hãy giữ cho lòng yên tĩnh, vắng lặng không bận rộn vào mọi
chuyện vớ vẩn. Lúc đầu chưa quen chủ trị tư tưởng thì hãy nghĩ đến một cái
gì đẹp đẽ, mỹ lệ như bông hoa, giòng suối. Đó là bước đầu cho việc nghĩ
ngơi.
Giáo sư Spalding buột miệng :
- Như thế đâu có gì khó khăn lắm.
Đạo sĩ bật cười :
- Nghỉ ngơi cần gì phải khó khăn, phiền phức. Khi giữ được xương sống
thẳng và thở hít đều đặn, thì luồng chân khí sẽ lưu thông khắp cơ thể và từ
đó sẽ điều chỉnh các chỗ bế tắc, ứ đọng trong châu thân. Cách thứ hai là nẳm
ngửa trên mặt đất, chân duỗi thẳng, đưa hai ngón chân cái ra ngoài. Hai tay
buông xuôi bên thân mình, mắt nhắm lại để sức nặng toàn thân phân phối
đều trên sàn gạch. Nên nhớ phải nằm trên sàn chứ không phải trên giường,
nhất là giường nệm, vì giường mềm mại khiến thân thể lệch lạc không đều.
Hãy nằm cho thoải mái, không nên cố gắng thái quá, đầu óc phải thảnh thơi,
chớ suy nghĩ hay mong mỏi điều gì. Tư thế này sẽ xoa dịu bộ thàn kinh

khiến nó lấy lại trạng thái quân bình. Nên nhớ nền tảng chính của Hatha
Yoga dựa trên sự nghỉ ngơi, dưỡng sức chứ không phải hành xác với các tư
thế vặn vẹo kỳ cục.
- Nhưng Yoga có các tư thế đó cơ mà ?
- Vấn đề đứng ngồi với một tư thế đặc biệt trong một khoảng thời gian
không quan trọng, nhưng sự tập trung ý chí để thi hành tư thế đó một cách
đứng đắn sẽ thúc đẩy các mãnh lực tiềm tàng trong cơ thể con người. Những
mãnh lực này là bí mật của thiên nhiên, nó chỉ phát triển khi người luyện tập
phải kèm theo một phương pháp thở (Khí công). Tư thế giúp con người chủ
trị giác quan, hơi thở giúp con người mở cửa vào thế giới tinh thần. Nên nhớ
tinh thần và thể xác luôn đi song đôi. Không thể có một tinh thần bạc nhược
trong một thể xác tráng kiện, hay tinh thần minh mẫn trong một thể xác bệnh
hoạn. Trong giai đoạn cao của Hatha Yoga, thì hành giả sẽ phải tham thiền
nhập định rất lâu, thế ngồi của thể xác là điều quan trọng vì nó giúp sự tập
trung tư tưởng được dễ dàng, giúp hành giả tinh tấn, tăng cường ý chí….
- Nhưng tôi vẫn thắc mắc về các tư thế kỳ lạ, vặn vẹo thân hình của Yoga
như chổng ngược đầu, vắt chân lên cổ.
- Bạn nên nhớ, trung tâm bí mật của hệ thần kinh rải rác nhiều chỗ trong cơ
thể. Mọi tư thế có công dụng riêng, ảnh hưởng đến một bí huyệt nhất định.
Nhờ kích động các bí huyệt đó mà ta có thể ảnh hưởng các bộ phận trong cơ
thể, cũng như hoạt động trí não. Các tư thế lạ lùng chỉ dùng để kích động các
bí huyệt mà thôi. Ngoài ra không còn gì khác nữa. Bạn phải nhớ kỹ rằng
ngoài các tư thế còn có phương pháp khí công nữa, chứ không phải chỉ vận
động các bắp thịt thôi. Người Tây phương tập thể thao, vận động thể xác
mạnh mẽ, tiêu phí sức lực để làm nẩy nở bắp thịt. Người Á châu tin rằng
chính cái sức mạnh ở trong mới điều khiển và chỉ huy các bắp thịt. Bạn cho

rằng phương pháp chổng ngược chân lên trời (trồng cây chuối) là lố bịch ư ?
Tư thế này dồn máu xuống bộ óc do trọng lượng của nó. Bình thường máu
được đưa lên óc do sức vận động của tim. Sự khác biệt ở chỗ để máu tự
nhiên dồn xuống óc xoa dịu cân não rất có lợi cho ai làm việc nhiều bắng trí
óc và giúp quả tim ngơi nghỉ không phải cố gắng để đưa máu lên óc. Nhờ
tim được nghỉ mà tránh được các chứng đau tim. Khi thực hành các tư thế
này phải cẩn thận, làm chậm rãi, từ từ, có ý thức, giữ vững tư thế trong một
thời gian, không nên cố gắng thái quá. Nên nhớ chìa khoá là ở sự nghỉ ngơi
thong thả, chứ không phải hùng hục. Môn Yoga giúp thân thể tự động điều
hoà trong sự yên tĩnh, thăng bằng, khác hẳn các lối tập thể thao co tay, múa
chân ào ạt của người Âu. Làm thế tuy bắp thịt cơ thể nẩy nở, nhưng thân thể
náo động, có hại cho thần kinh.
Giáo sư Spalding im lặng không thốt nên lời nào, tất cả những gì người đạo
sĩ này nói ra đều hợp lý, rất khoa học, không hề có tính chất mê tín dị đoan
như ông đã nghe các tu sĩ khác thần thánh hoá. Một người Âu trung bình vốn
coi rẻ dân tộc Á châu như loại người chậm tiến, di sản một miền nóng bức,
thiếu ăn, chắc phải ngạc nhiên khi thấy từ thời xưa người Ấn đã được giáo
dục một cách tập thể dục tối tân, tinh vi, và khoa học như thế.
Đạo sĩ Ấn nhìn ông mỉm cười như đoán được ý nghĩ :
- Yoga là khoa học của vũ trụ, nó không những chỉ áp dụng riêng đối với dân
Á châu, mà là khắp nơi. Tôi không thể đi sâu vào chi tiết nhưng dù sao
duyên hội ngộ lần này cũng tốt đẹp. Tôi giúp ông bạn một chìa khoá bí
truyền này. Luật thiên nhiên định rằng trung bình con người thở với số nhịp
là 21.600 lần mỗi ngày. Sự hô hấp quá nhanh làm gia tăng nhịp điệu nói trên
và thu ngắn sự sống. Sự hô hấp chậm rãi, kéo dài, đều đặn là tiết kiệm sinh
lực và kéo dài sự sống, đó là bí quyết khoa Khí công. Mỗi hơi thở tiết kiệm
sẽ tích tụ lại thành một số dự trữ giúp ta kéo dài sự sống. Các đồ ăn có chất

kích thích hay hút thuốc làm cho hơi thở dồn dập, giảm số lượng dưỡng khí
vào phổi , tất nhiên làm ta giảm thọ nhanh. Có lẽ ông bạn còn nghi ngờ ?
Khoa Yoga ý thức rất rõ sự liên quan chặt chẽ giữa cơ quan hô hấp và tuần
hoàn. Cả hai cơ quan này liên hệ mật thiết với hệ thần kinh. Bộ thần kinh là
chìa khoá vào cánh cửa tâm linh, do đó, hơi thở chính là lối vào tinh thần.
Nhưng hơi thở chỉ là sự biểu lộ trên địa hạt vật chất của một sức mạnh tế nhị
hơn. Sức mạnh này mới là cột trụ sinh hoạt xác thể, và chính cái sức mạnh
vô hình, vô ảnh ẩn tàng trong cơ thể chúng ta mới thực sự điều khiển đời
sống. Khi nó rời xác thân thì hơi thở ngừng lại và sự chết đến. Sự kiểm soát
hơi thở gi...
 
Gửi ý kiến