Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

SKKN- BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY CHƯƠNG 1 HÓA HỌC 9

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: võ văn minh
Ngày gửi: 09h:34' 25-01-2023
Dung lượng: 485.0 KB
Số lượt tải: 84
Số lượt thích: 0 người
PHÒNG GDĐT QUẬN BÌNH THẠNH
TRƯỜNG THCS PHÚ MỸ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG
HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY
CHƯƠNG 1 HÓA HỌC LỚP
9

Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm, mở ra cho học sinh
(HS) những cánh cửa khám phá những điều thú vị trong tự nhiên; là một
môn khoa học rèn cho học sinh tính cẩn thận , chính xác khi mà chỉ cần
thiếu một chỉ số trong công thức hóa học học sinh không có điểm
phương trình, thiếu 1 hệ số sẽ bị mất phân nửa số điểm…Nhưng cũng
chính vì như vậy , một số học sinh lại ngán ngại khi học bộ môn này.
Đặc biệt chương 1 – Các loại hợp chất vô cơ -ở hóa học lớp 9 là chương
HS tiếp thu khó khăn nhất, giáo viên (GV) cũng rất vất vả khi hướng
dẫn cho các em. Vì sao lại như vậy ? Làm thế nào để khắc phục điều
này? Đây chính là vấn đề khiến tôi phải trăn trở nhiều năm qua. Dựa vào
một số kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy tôi đưa ra “Biện pháp tăng
cường hiệu quả giảng dạy chương 1 hóa học 9”.
Theo ý tôi muốn dạy chương 1 ở lớp 9 đạt kết quả tốt thì GV phải
rèn cho HS một nền tảng vững chắc ngay từ lớp 8. Những kiến thức mà
HS cần nắm chắc ở lớp 8 là:
* Hóa trị của kim loại và nhóm nguyên tử. Để giúp HS dễ nhớ
,khi dạy những kim loại có 1 hóa trị GV cho HS lắp thành câu
vui tai. Ví dụ:
Hóa trị I: khi (K) nào (Na) ly (Li) biệt (Bạc-Ag)
Hóa trị II: bé (Be) cần (Ca) ba (Ba) mua (Mg) giáp (Zn)
Hóa trị III: nhôm (Al)
Đối với nhóm nguyên tử , ngay từ học kì 1 lớp 8 tôi đã
yêu cầu HS thuộc lòng hóa trị của 7 nhóm quen thuộc kèm luôn
cả hóa trị:
(I)
NO3;OH
(II)
SO3 ; SO4; SiO3 ; CO3
(III)
PO4
Việc học thuộc hóa trị này rất cần để lập công thức hóa học
( CTHH) các hợp chất cho đúng. Lập CTHH sai là lỗi phổ biến

mà HS hay phạm vì không thuộc hóa trị. Để tăng yêu cầu đối
với việc này GV nên thường xuyên kiểm tra, có thể đưa thẳng
vào bài kiểm tra 1 tiết kể cả ở học kì 2 lớp 8 với dạng bài lập
nhanh CTHH của hợp chất (thuộc hóa trị mới làm được).
* Thành phần bốn loại hợp chất vô cơ
Ở chương 1 hóa 9, HS chủ yếu tìm hiểu về tính chất hóa học
chung của 4 loại hợp chất vô cơ: oxit, axit, bazơ, muối. Do đó,
nếu nắm không chắc thành phần 4 loại hợp chất này HS sẽ rất
khó khăn khi tiếp thu kiến thức mới. Ở lớp 8, bài Oxit học ở gần
đầu học kì 2, nhưng bài Axit , bazơ, muối lại học ở chương gần
cuối – trong giai đoạn ôn thi. Cho nên, nếu GV dạy đúng theo
phân phối chương trình, rập khuôn sách giáo khoa, HS gần như
không nhớ được gì về axit, bazơ, muối khi tiếp tục học ở lớp 9.
Vì thế trong năm học 2017-2018 và 2018- 2019, tôi đã mạnh
dạn thay bài Oxit bằng bài Thành phần 4 loại hợp chất vô cơ.
Thực tế trong bài này, tôi dạy phần Oxit trọn vẹn , chỉ trình bày
1 cách gọn gàng hơn. Phần Axit, Bazơ, Muối chỉ giới thiệu sơ
lược thành phần phân tử chứ chưa đi vào phân loại và gọi tên.
Có đồng nghiệp nói tôi làm sai quy định chuyên môn vì cấp trên
cho dạy khoán chương nhưng tôi lại lấy 1 phần của bài Axit,
bazơ, muối ở chương 5 để đưa vào bài Oxit ở chương 4. Tuy
nhiên, xét về tính hợp lý thì tôi không sai. Vì sao? Ngay trong
bài Oxit khi giới thiệu về Oxit bazơ, Oxit axit đã đề cập đến axit
hoặc bazơ tương ứng; Trong phần điều chế oxi cũng đã đưa ra
2 hợp chất muối là KClO3 và KMnO4; Trong phần điều chế
hiđro trong phòng thí nghiệm đã rèn HS viết phương trình kim
loại tác dụng với axit tạo ra muối và hiđro. Bằng biện pháp
“mưa dầm thấm đất” nhắc đi, nhắc lại thường xuyên thực tế đã
đạt được những kết quả nhất định ở năm học sau. Năm học
2018- 2019 tôi đã kiểm chứng suy nghĩ của mình ở 3 lớp 9/4,

9/6, 9/7 trong bài kiểm tra 15 phút đầu tiên ( Lớp 9/6 năm rồi tôi
dạy ở lớp 8, 9/4, 9/7 GV khác dạy. Ba lớp này có trình độ học
sinh ngang nhau.). Ở 3 lớp này trong tiết ôn tập hóa 8 đầu năm
tôi đều phát tờ Kiến thức cần nắm trong đó có ôn lại ngắn gọn
thành phần 4 loại hợp chất vô cơ và có luyện tập về phần này.
Cấu trúc bài kiểm tra 15 phút như sau: Câu 1 – nhìn công thức
hóa học xác định nó là loại hợp chất gì ( 2 đ); câu 2- bổ túc 5
phương trình ( trong đó có 2 phương trình đã học ở lớp 8 đồng
thời nằm trong bài 1 của lớp 9) ( 4,5 đ). Như vậy, chỉ cần làm
được câu 1 và viết được 3 PT ở câu 2 là HS đã đạt được 5 điểm.
Kết quả như sau:
Lớp
Dưới trung
bình

9/6
8/ 46

9/4
15/46

9/7
22/46

Ngoài việc nắm chắc thành phần 4 loại hợp chất vô cơ , tôi
còn yêu cầu HS phải phân rõ Oxit bazơ tan, Oxit bazơ không
tan, Oxit axit tan, Oxit axit không tan ( “ tan” ở đây là tác dụng
với nước) , bazơ tan, bazơ không tan, muối tan, muối không
tan. Đòi hỏi này được nâng lên từ từ chứ không yêu cầu 1 lúc.
Ví dụ: Bài 15 phút lần 1 yêu cầu phân biệt được Oxit bazơ tan,
Oxit bazơ không tan, Oxit axit tan, Oxit axit không tan , bazơ
tan, bazơ không tan vì có liên quan đến bài Tính chất hóa học
của oxit và bài Tính chất hóa học của axit. Bài 15 phút lần 2 yêu
cầu thêm tính tan của muối vì có liên quan đến bài Tính chất
hóa học của bazơ và Tính chất hóa học của muối. Việc phân loại
này rất quan trọng nếu kết hợp khi dạy các bài trên. Khi dạy các
bài này tôi không dạy chung như sách giáo khoa mà chia ra
Tính chất hóa học từng loại cụ thể.

Ví dụ 1: Tính chất hóa học của oxit bazơ tan ( K2O, Na2O,
BaO, CaO, Li2O) : có 3 tính chất hóa học.
1. Tác dụng với nước -> bazơ tan
2. Tác dụng với axit -> muối và nước
3. Tác dụng với oxit axit -> muối.
Ví dụ 2: Tính chất hóa học của oxit bazơ không tan ( CuO,
Fe2O3…)
Có 1 tính chất hóa học.
1. Tác dụng với axit -> muối và nước
Ví dụ 3: Tính chất hóa học của bazơ tan
Có 4 tính chất hóa học.
1. Dung dịch làm quỳ tím hóa xanh, làm dung dịch
phenolphthalein hóa hồng.
2. Tác dụng với oxit axit -> muối và nước
3. Tác dụng với axit -> muối và nước
4. Tác dụng với muối tan -,> muối mới và bazơ mới
( điều kiện có kết tủa hoặc khí sinh ra)
Ví dụ 4: Tính chất hóa học của bazơ không tan
Có 2 tính chất hóa học.
1. Tác dụng với axit -> muối và nước
2. Bị nhiệt phân hủy -> oxit bazơ và nước.
Bằng cách này tôi nhận thấy HS dễ dàng làm được rất nhiều dạng
bài lý thuyết như bổ túc PTHH, viết PTHH thực hiện chuỗi, chọn chất
tác dụng…. Đối với các dạng bài này tôi hướng dẫn HS các bước như
sau:

1. Xác định loại chất.
2. Dựa vào tính chất hóa học của loại chất đó chọn chất phản ứng
thích hợp.
3. Viết PTHH.
Với các biện pháp như trên kết hợp phụ đạo học sinh yếu kém sau
từng bài kiểm tra, tôi nhận thấy điểm số của HS ngày càng được nâng
lên. Nếu ở các bài đầu có điểm 00, điểm 01 thì các bài sau không có
đồng thời số bài dưới trung bình ngày càng giảm. Kết quả rõ rệt nhất là
ở học kì 1 vừa qua ở 4 lớp 9 tôi dạy.
ĐIỂM THI HKI năm học 2018- 2019:
TSHS 8.0- 10
176
81 46
%

6.5- 7.9
47 26,
7%

5.0- 6.4
3.5- 4.9
0- 3.4
34 19,3 10 5,68 4 2,27
%
%
%

TB trở lên
162 92,1
%

TBM HKI năm học 2018- 2019 như sau:
TSHS 8.0- 10
176

6.5- 7.9

5.0- 6.4

3.5- 4.9

03.4

TB trở lên

4 27,27 74 42,05 42 23,86 12 6,82
164 93,18
8 %
%
%
%
%
So sánh với kết quả HK1 ở 4 lớp tôi dạy năm học 2017-2018
ĐIỂM THI HKI:

TSH
S
187

8.0- 10
7
7

6.5- 7.9

5.0- 6.4

3.5- 4.9

0- 3.4

TB trở lên

41,18 3 19,79 3 20,85 19 10,1 1 8,02 15 81,82
%
7 %
9 %
6% 5 %
3 %

TSH 8.0- 10

6.5- 7.9

5.0- 6.4

3.5- 4.9

0- 3.4

TB trở lên

S
187

6 36,37 3 20,32 4 26,2
8 %
8 %
9 %
TBM HKI

2 13,37 7 3,74
5 %
%

15 82,89
5 %

Sau khi áp dụng một số biện pháp nêu trên , bản thân tôi thấy HS
nắm kiến thức nhanh và tốt hơn. Nếu HS làm đúng theo hướng dẫn của
GV và học bài đều đặn thì sẽ nắm rất chắc kiến thức chương 1.Một khi
các em hiểu bài , làm được bài tất yếu sẽ thích học bộ môn hơn , kết quả
học tập sẽ cao hơn. Đây chính là điều mà tôi luôn mong muốn đạt được.
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng sẽ không thể tránh khỏi
thiếu sót . Do đó rất mong ban giám hiệu và các đồng nghiệp trong tổ bộ
môn góp ý thêm giúp tôi hoàn thiện chuyên đề này để nâng cao hơn nữa
chất lượng giảng dạy. Xin chân thành cảm ơn.
Người viết

Bùi Thị Thu Lan
 
Gửi ý kiến