Thư mục

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Giáo án điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    thanhtuu4

    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lương Mạnh Chính
    Ngày gửi: 17h:03' 16-04-2009
    Dung lượng: 446.6 KB
    Số lượt tải: 67
    Số lượt thích: 0 người
    Thành tựu chọn giống cây trồng

    Gây đột biến nhân tạo

    Gây đột biến nhân tạo rồi chọn cá thể để tạo giống mới
    Ở lúa
    Bằng phương pháp chọn lọc cá thể đối với các thể đột biến ưu tú, người ta đã tạo ra các giống lúa có tiềm năng năng suất cao như giống lúa DT10, tài nguyên đột biến, nếp thơm TK106…, các giống lúa tẻ cho gạo có mùi thơm như tám thơm đột biến (năm 2000), gạo cho cơm dẻo và ngon như KML 39, DT 33, VLD 95-19…
    THÀNH TỰU CHỌN GIỐNG Ở VIỆT NAM
    lúa đột biến
    lúa tiệp
    Ở đậu tương
    Giống đậu tương DT 55 (năm 2000) được tạo ra bằng xử lí đột biến giống đậu tương DT 74 có thời gian sinh trưởng rất ngắn (trong vụ xuân: 96 ngày, vụ hè: 87 ngày), chống đổ và chịu rét khá tốt, hạt to, màu vàng.
    Ở lạc
    Giống lạc V 79 được tạo ra bằng chiếu xạ tia X vào hạt giống lạc bạch sa sinh trưởng khỏe, hạt to trung bình và đều, vỏ quả dễ bóc, tỉ lệ nhân/quả đạt 74%, hàm lượng protein cao(24%), tỉ lệ dầu đạt 24%.
    Ở cà chua
    Giống cà chua hồng lan được tạo ra từ thể đột biến tự nhiên của giống cà chua Ba Lan trắng.

    Phối hợp giữa lai hữu tính và xử lí đột biến
    Giống lúa A 20 (năm 1994) được tạo ra bằng: lai giữa hai dòng đột biến:H 20 x H 30
    Giống lúa DT 16 (năm 2000) được tạo ra bằng lai giữa giống DT10 với giống lúa đột biến A20

    Chọn giống bằng chọn dòng tế bào xôma có biến dị hoặc đột biến xôma
    -Giống tào đào vàng(năm 1998) dc tạo ra bằng xử lí đột biến đỉng sinh trưởng cây non của giống táo Gia Lộc.Cho quả to(30-35 quả/kg), mã quả đẹp, có mà vàng da cam, ăn giòn, ngọt và có vÞ thơm đặc trưng, năng suất đạt 40-45 tấn/ha

    Lai hữu tính để tạo biến dj tổ hợp hoặc tạo lập cá thể từ các giống hiện có

    Tạo biến dị tổ hợp
    Người ta lai giống lúa DT10 có tiềm năng năng suất cao với giống lúa OM80 có hạt gạo dài, trong, cho cơn dẻo để tạo ra giống lúa DT17 phối hợp dc nhưng ưu điểm của hai giống lúa nói trên.





    Chọn lọc cá thể
    Giống đậu tương AK02(năm 1987)dc tạo ra = phương pháp chọn lọc cá thể từ giống đậu tương vàng Mường Khương

    Tạo giống ưu thế lai(ở F1)
    -Giống ngô lai LVN4 đại diện cho nhóm trung ngày, khả năng thích ứng rộng có thể đạt 8-10 tấn/ha, thuộc nhóm này càn có các giống LVN12 và LVN31( giống lai kép)

    Tạo giống đa bội thể
    giống dâu số 12 là giông dâu tam bội(3n), dc tạo ra do lai giữa thể tứ bội với giống lưỡng bội. Giống dâu số 12 có bản lá dày, màu xanh đậm, thịt lá nhiều, sức ra rễ và tỉ lệ hom sống cao. năng suất bình quân đật 29.7 ha/năm. Trong điều kiệ thâm canh có thể đạt 40ha/năm.
    * Ngoài ra còn có các thành tựu như:
    + Tạo được 16 giống Quốc gia: Lúa (DT10, DT13, DT33, A20, CM1, D271); Ngô (DT6); Đậu tương (DT84, DT90, DT96, AK06); Cúc (CN93).
    + 20 giống khu vực hoá: Lúa (ĐV2, MT1, MT4, ĐC3, ĐC4, DT16, DT17, DT21, D1097, VN01/212 và lúa lai 3 dòng HR1); Ngô (DL1, DL2, DT8); Đậu tương (DT83, DT94, DT95; DT99, DT2001); Lạc (332).
    Giống đậu tương DT84
    giống lúa lai CNR36
    Thành tựu chọn giống vật nuôi

    Tạo giống mới
    Trong thập niên 80 của thế kỷ XX, Viện Chăn nuôi Quốc gia đã tạo ra hai giống lợn mới: ĐB Ỉ - 81 (Đại bạch x Ỉ - 81) và BS Ỉ-81 (Bớc sai x Ỉ - 81), phối hợp được các đặc điểm quí của lợn Ỉ như phát dục sớm, dễ nuôi, mắn đẻ, đẻ nhiều con, thịt thơm ngon, xương nhỏ… với một số đặc điểm tốt của các giống lợn ngoại như tầm vóc to, tăng trọng nhanh, thịt nhiều nạc.
    Hai giống lợn mới nói trên khắc phục được các nhược điểm của lợn Ỉ như thịt nhiều mỡ, chân ngắn, lưng võng, bụng sệ. Hai giống lợn ĐB Ỉ - 81 và BS Ỉ - 81 có lưng tương đối thẳng, bụng gọn, chân cao, thịt nhiều nạc hơn lợn Ỉ.
    Đã tạo được các giống gà lai Rốt - Ri, Plaimao – Ri, đều có sản lượng trứng và khối lượng trứng cao hơn gà Ri nhưng dễ nuôi, giống vịt Bạch tuyết (vịt Anh đào x vịt cỏ) lớn hơn vịt cỏ, biết mò kiếm mồi, lông dùng để chế biến len.
    lợn ỉ x lợn bớc sai
    gà rotki
    Cải tạo giống địa phương (giống được tạo ra và nuôi lâu đời ở một địa phương)
    Bằng cách dùng con cái tốt nhất của giống địa phương lai với con đực tốt nhất của giống ngoại, con đực cao sản được dùng liên tiếp qua 4 – 5 thế hệ, giống địa phương có tầm vóc gần như giống ngoại, tỉ lệ thịt nạc tăng, khả năng thích nghi khá tốt. Chẳng hạn, đã cải tạo một số nhược điểm của lợn Ỉ Móng Cái, nâng tầm vóc lúc mới xuất chuồng từ 40 – 50 kg/con lên 70 – 80 kg/con, tỉ lệ nạc 30 – 40% lên 47 – 52%. Giống lợn này thích hợp với các vùng kinh tế - sinh thái của các tỉnh phía Bắc và miền Trung. Đã tao ra đàn bò hướng thịt bằng cách lai giữa bò cái nội (bò vàng Việt Nam) với một số bò đực ngoại, đã tạo ra đàn bò sữa bằng cách lai nhiều lần với giống ngoại cho sản lượng sữa cao. Hiện nay, nước ta có khoảng 29 nghìn con bò sữa, trong số đó, trên 95% là bò lai theo công thức này.






    Bò honxtainơ
    (Hà Lan)
    Bò Sind
    Bò HF x Bò Jersey
    Bò HF
    Tạo giống ưu thế lai
    Trong những năm qua, các nhà chọn giống đã có những thành công nổi bật trong tạo giống lai (F1) ở lợn, bò, dê, gà, vịt, cá…
    Hầu hết lợn nuôi để giết thịt ở ta hiện nay là lợn lai kinh tế. Đã tạo dược con lai kinh tế giữa bò vàng Thanh Hóa và bò Hôn sten Hà Lan, chịu được khí hậu nóng, cho 1000 kg sữa/con/năm, tỉ lệ bơ 4 – 4,5%. Đã xác định được các tổ hợp lai cho ưu thế lai cao ở vịt (Bầu x Cỏ; Cỏ x Anh đào; Cỏ x Kaki cambell; vịt x ngan), ở gà (gà Ri x gà Mía; gà Ri x gà Tam Hoàng; gà Ri x gà Sasso…) , ở cá (cá chép Việt x cá chép Hungari, cá trê lai…).
    cá chép lai
    cá chim trắng
    Nuôi thích nghi các giống nhập nội
    Nhiều giống vật nuôi có các tính trạng tốt đã được nhập nội và nuôi thích nghi với điều kiện khí hậu và chăm sóc ở Việt Nam như vịt siêu thịt (Super meat), siêu trứng (Kaki cambell), gà Tam Hoàng, cá chim trắng.
    Các giống vật nuôi nhập nội đã nêu trên là kết quả của phương pháp nuôi thích nghi. Chúng được dùng để tăng nhanh sản lượng thịt, trứng, sữa, để tạo ưu thế lai và cải tạo giống nội có năng suất thấp.





    Vịt siêu thịt
    Vịt siêu trứng
    Ứng dụng công nghệ sinh học trong công tác giống
    Công nghệ cấy chuyển phôi cho phép cấy phôi từ bò mẹ cao sản sang những con bò cái khác (nhờ những con bò này mang thai giúp). Nhờ phương pháp này, từ một con bò mẹ có thể cho 10 – 500 con/năm, giúp cho việc tăng nhanh đàn bò sữa hoặc bò thịt, giảm được 40 – 50% thời gian tạo giống bò. Viện Chăn nuôi Quốc gia đã tạo được 60 con bò nhờ phương pháp cấy chuyển phôi.
    Công nghệ thụ tinh nhân tạo cho gia súc bằng tinh trùng bảo quản trong môi trường pha chế (giữ tinh được 2 – 3 ngày), giúp cho việc giảm số lượng và nâng cao chất lượng đực giống, tạo thuận lợi cho sản xuất con lai F1 ở vùng sâu và vùng xa.
    Người ta còn dùng công nghệ gen để phát hiện sớm giới tính của phôi (7 ngày sau thụ tinh), giúp cho người chăn nuôi bò sữa chỉ cấy các phôi cái, còn người chăn nuôi bò thịt thì chỉ cấy toàn phôi đực.
    ngoài ra, người ta còn xác định được kiểu gen BB cho sản lượng sữa/chu kì cao nhất, tiếp đó là kiểu gen AB, thấp nhất là kiểu gen AA. Nhờ đó,đã chọn nhanh và chính xác những con bò làm giống







    THE END
     
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓

    print

    Nhấn Esc để đóng