Thư mục

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Giáo án điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    học tốt ngữ văn 10 tập 2


    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hồ Tuấn Kiều Thy
    Ngày gửi: 20h:10' 17-12-2011
    Dung lượng: 668.0 KB
    Số lượt tải: 763
    Số lượt thích: 0 người
    Bài 19
    PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG
    NHÀ NHO VUI CẢNH NGHÈO
    CÁC HÌNH THỨC KẾT CẤU CỦA VĂN BẢN THUYẾT MINH
    
    
    PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG
    (Bạch Đằng giang phú)
    Trương Hán Siêu
    I. KIẾN THỨC CẦN NHỚ
    1. Trương Hán Siêu (? - 1354) tự là Thăng Phủ, người làng Phúc Thành, huyện Yên Ninh (nay là thị xã Ninh Bình), vốn là môn khách của Trần Hưng Đạo, từng làm tới chức Hàn lâm học sĩ, rồi Tham tri chính sự. Trương Hán Siêu tính tình cương trực, học vấn uyên thâm, được các vua Trần tin cậy và được nhân dân vô cùng kính trọng. Tác phẩm hiện còn 4 bài thơ, 3 bài văn trong đó có bài Phú sông Bạch Đằng nổi tiếng.
    2. Bạch Đằng là một nhánh sông đổ ra biển thuộc Quảng Ninh, nơi đã từng ghi dấu nhiều chiến công oanh liệt trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta. Trong đó đáng nhớ nhất là chiến thắng năm 938 - Ngô Quyền phá tan quân Nam Hán giết Lưu Hoằng Thao và trận thủy chiến năm 1288, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đánh tan quân Mông - Nguyên, bắt sống tướng giặt là Ô Mã Nhi. Nhiều tác giả đã lấy đề tài sông Bạch Đằng là nguồn cảm hứng cho sáng tác như Trần Minh Tông với Bạch Đằng giang, Nguyễn Trãi với Bạch Đằng hải khẩu, Nguyễn Sưởng với Bạch Đằng giang, Nguyễn Mộng Tuân với Hậu Bạch Đằng giang phú… Trong đó, tác phẩm nổi tiếng nhất phải kể đến đó là bài Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu.
    3. Phú là một thể văn cổ dùng để tả cảnh vật, phong tục hoặc tính tình. Chất trữ tình và yếu tố khoa trương đậm đặc trong phú. Có phú cổ thể và phú Đường luật. Phú cổ thể như một bài văn xuôi dài, có vần mà không nhất thiết có đối, còn gọi là phú lưu thủy. Phú Đường luật được đặt ra từ đời Đường, có vần, có đối, có luật bằng trắc chặt chẽ, có những kiểu câu được quy phạm rõ ràng. Nhìn chung một bài phú thường gồm bốn đoạn: đoạn mở, đoạn giải thích, đoạn bình luận và đoạn kết.
    Bài Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu làm theo lối phú cổ thể - loại phú có từ trước thời Đường, có vần, không nhất thiết phải có đối, cuối bài thường được kết bằng thơ.
    4. Phú sông Bạch Đằng là niềm tự hào về truyền thống yêu nước, về những chiến công lịch sử thông qua những hoài niệm sâu sắc về quá khứ oai hùng. Đồng thời, nó cũng là niềm tự hào về truyền thống đạo lí nhân nghĩa, về tư tưởng nhân văn của dân tộc thông qua việc đề cao vai trò, vị trí và đức độ của con người.
    5. Niềm tự hào, tự tôn dân tộc của bài văn được tạo ra bởi những hình ảnh nghệ thuật phóng khoáng, giàu sức gợi kết hợp trong những câu văn vừa hào sảng, vừa vang vọng vừa đậm chất suy tư.
    II. RÈN KĨ LUYỆN NĂNG
    Câu 1.
    Đọc kĩ lại phần Tiểu dẫn, cần tóm tắt để nắm được bố cục bài phú, vị trí của chiến thắng Bạch Đằng trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc. Nắm được vị trí của đề tài sông Bạch Đằng trong văn học. Đọc lại các chú thích để hiểu các từ khó, các điển tích, điển cố được dùng trong bài.
    Câu 2.
    a. Bài phú có hai nhân vật là chủ thể trữ tình (chính là tác giả) và nhân vật các bô lão. Nhân vật các bô lão xuất hiện với tư cách là đối tượng tâm tình.
    b. Nhân vật “khách” trong tác phẩm này chính là hình ảnh của nhà văn. “Khách” dạo chơi thiên nhiên, thăm chiến địa nhưng mục đích không phải chỉ để thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên mà còn để thỏa cái thú tiêu dao, rong chơi bốn biển để thưởng ngoạn cảnh trí non sông, mở mang vốn trí thức cho mình. “Khách” xuất hiện với tư thế của con người có tâm hồn khoáng đạt, có hoài bão lớn:
    Nơi có người qua, đâu mà chẳng biết.
    Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ đã nhiều.
    Mà lòng tráng, chí bốn phương vẫn còn tha thiết.
    b. Cái “tráng trí bốn phương” của “khách” được gợi lên thông qua những địa danh nổi tiếng. Những địa danh này có hai loại:
    - Địa danh lấy trong điển cố Trung Quốc là loại địa danh mà tác giả (“khách”) đã đi qua chủ yếu bằng sách vở, bằng tưởng tượng (đây là một cách thể hiện nghệ thuật khá quen thuộc của thơ ca trung đại). Nó vừa thể hiện sự am hiểu sâu sắc của nhà văn về văn học và sử học Trung Hoa, vừa nói lên vẻ đẹp tâm hồn của nghệ sĩ. Những địa danh này đều gắn với không gian to rộng: biển
     
    Gửi ý kiến
    print