Thư mục

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Giáo án điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    bồi dưỡng HS giỏi lớp 4(Tiếng Việt 1)

    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Kim Dung
    Ngày gửi: 21h:07' 13-06-2010
    Dung lượng: 66.5 KB
    Số lượt tải: 227
    Số lượt thích: 0 người
    PHÒNG GD&ĐT VĨNH LỢI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    TRƯỜNG TH PHAN BỘI CHÂU Độc lập- Tự do- Hạnh phúc


    BÁO CÁO THAM LUẬN VỀ VIỆC BỒI DƯỠNG
    HỌC SINH GIỎI MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4

    I. THỰC TRẠNG:
    - Để đáp ứng yêu cầu cao mục tiêu dạy học và giáo dục trong điều kiện đất nước đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việc bồi dưỡng học sinh giỏi có vị trí vô cùng quan trọng nhằm bồi dưỡng lẽ sống, tâm hồn, khả năng tư duy và năng lực ngôn ngữ, năng lực cảm thụ văn chương, đặc biệt là giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt. Trên cơ sở đó góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại vừa giữ được tinh hoa văn hóa dân tộc, vừa tiếp thu tốt những giá trị văn hóa tiêu biểu trên thế giới.
    - Hiện nay các nhà trường chúng ta đang cố gắng hướng đến sự phát triển tối đa những năng lực còn tiềm tàng trong mỗi học sinh, phát huy hết khả năng vốn có của các em. Ở các trường Tiểu học hiện nay, cùng với việc nâng cao chất lượng đại trà thì việc chăm lo bồi dưỡng học sinh giỏi cũng đang được nhiều cấp lãnh đạo và chính quyền địa phương quan tâm sâu sắc.
    - Thực tế hiện nay ở các trường Tiểu học về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đã được chú trọng và quan tâm, song vẫn còn những bất cập nhất định như: cách tuyển chọn, phương pháp giảng dạy chưa tìm ra hướng đi cụ thể, phần lớn làm theo thực tế bản thân. Từ những bất cập trên dẫn đến hiệu quả bồi dưỡng không đạt như ý muốn.
    II. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH:
    1.Thuận lợi:
    - Được sự quan tâm và chỉ đạo sâu sắc của các cấp lãnh đạo .
    - Nhà trường tạo mọi điều kiện cần thiết đảm bảo cho công tác bồi dưỡng .
    - Được sự ủng hộ và tao điều kiện cho học sinh tham gia việc bồi dưỡng của các bậc phụ huynh.
    - Giáo viên bồi dưỡng là những người có năng lực giảng dạy.
    2. Khó khăn:
    - Một số phụ huynh do trình độ văn hóa thấp nên không thể kèm thêm cho học sinh khi ở nhà.
    - Một số học sinh do còn hạn chế về vốn từ nên diễn đạt chưa thật sự lưu loát, khả năng hiểu nghĩa từ còn hạn hẹp
    - Về phía giáo viên, kinh nghiệm bồi dưỡng còn ít, thời gian dành cho bồi dưỡng học sinh giỏi chưa nhiều.
    III. GIẢI PHÁP:
    Ngay từ đầu năm học, trường đã có kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi, nên trong quá trình giảng dạy tôi luôn chú ý phát hiện những học sinh có năng khiếu về môn Tiếng Việt. Các em thường có biểu hiện như: rất ham thích học, thường giơ tay phát biểu, trả lời câu hỏi biết diễn đạt bằng lời nói của mỉnh một cách mạch lạc, trôi chảy. Khi làm bài Tập làm văn các em thường ghi rất dài, dùng từ phong phú , biết kết hợp các giác quan để làm bài. Sau khi phát hiện những học sinh có năng khiều, trường thành lập đội tuyển để bồi dưỡng.
    Sau đây là một số biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiến Việt lớp 4 của trường chúng tôi:
    1. Bồi dưỡng kiền thức, kĩ năng Tiếng Việt:
    a. Bồi dưỡng kiến thức , kĩ năng từ ngữ:
    -Bồi dưỡng lý thuyết về từ: Cho học sinh nắm các khái niệm về từ đơn, từ phức: (từ ghép, từ láy; từ ghép : ghép tổng hợp và ghép phân loại; từ láy: láy âm đầu, vần hoặc cả âm đầu và vần ).
    - Danh từ: ( danh từ chung và danh Phân từ riêng), động từ, tính từ.
    b. .Phân loại nhận diện từ theo cấu tạo:
    - Dựa vào số lượng tiếng của từ chia ra từ đơn và từ ghép:
    - Dựa vào mối quan hệ giữa các tiếng trong từ.
    + Nếu có quan hệ về măt ngữ nghĩa là từ ghép.
    Ví dụ: từ dẽo dai các em nói là từ láy nhưng thực chất chính là từ ghép, vì cả hai từ dẽo + dai = dẽo dai đều có nghĩa nên là từ ghép , mặc dù chúng giống nhau về âm.
    + Nếu có quan hệ về mặt ngữ âm là từ láy :
    Ví dụ: Từ cứng cáp các em cho là từ ghép nhưng thực chất là từ láy.
    Vì nếu là từ ghép thì nghĩa của các tiếng phải hợp với nghĩa của từ, tiếng cứng có nghĩa hợp với nghĩa của từ, còn tiếng cáp ( chỉ loại dây điện to, dây điện cao thế ) thì không hợp với nghĩa của từ cứng cáp ( chỉ trạng thái đã khỏe, không cón yếu ớt), cho nên từ cứng cáp là từ láy.
    Vậy có một số trường hợp từ có
     
    Gửi ý kiến
    print

    Nhấn Esc để đóng