Thư mục

Dành cho Quảng cáo

  • ViOLET trên Facebook
  • Học thế nào
  • Sách điện tử Classbook
  • Xa lộ tin tức

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Giáo án điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    MỞ BÀI, KẾT BÀI, CHUYỂN ĐOẠN

    (Bài giảng chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Văn Hưng
    Ngày gửi: 15h:01' 07-03-2010
    Dung lượng: 71.0 KB
    Số lượt tải: 131
    Số lượt thích: 0 người



    MỞ BÀI, KẾT BÀI VÀ CHUYỂN ĐOẠN TRONG VĂN NGHỊ LUẬN


    I. MỞ BÀI: Phải đạt được hai yêu cầu.
    - Tối thiểu: Giới thiệu được vấn đề sẽ bàn luận trong bài văn.
    - Nâng cao: Khơi gợi, lôi cuốn sự chú ý.
    Nguyên tắc mở bài:
    - Nêu đúng vấn đề đặt ra trong đề bài. Phải dẫn lại ý kiến.
    - Nêu ý khái quát, không được dẫn giải, minh họa, hay lấn sang những ý cụ thể của thân bài.
    Cách mở bài: nhiều cách.
    Đề bài: Phân tích hình tượng nhân vật Huấn cao trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân
    a) Mở bài trực tiếp: Giới thiệu ngay vấn đề cần nghị luận. Người xưa thường nói “Mở cửa sổ thấy núi”.
    Vd: Ai đã đọc tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân thì không thể không xúc động sâu sắc trước vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao.
    Mở bài gián tiếp: Nêu ra những ý liên quan đến vấn đề cần nghị luận để khơi gợi rồi mới bắt vào vấn đề.
    DIỄN DỊCH: Nêu ý khái quát hơn vấn đề, bắt vào đề.
    Vd: Nguyễn Tuân là một nhà văn tài hoa, đã xây dựng được những hình tượng đẹp về con người tài hoa, có nhân cách cao thượng. Một trong các nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc cho bạn đọc là Huấn Cao trong tác phẩm “Chữ người tử tù”.
    QUY NẠP: Nêu lên những ý nhỏ hơn vấn đề, rồi tổng hợp lại thành vấn đề cần nghị luận.
    Vd: Trong cuộc sống cũng như trong văn học, có không ít những nhân vật tài cao khiến ta phải nghiêng mình thán phục. Lại có những người được ngưỡng mộ vì vẻ đẹp ngời sáng của tâm hồn. Nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm “Chữ người tử từ” của Nguyễn Tuân là một hình tượng đẹp theo cả hai nghĩa: đẹp ở sự tài hoa và đẹp ở nhân cách cứng cỏi, cao thượng.
    TƯƠNG LIÊN: Nêu lên một ý kiến giống như trong đề, rồi bắt sang vấn đề cần nghị luận.
    Vd: Trong văn học sau cách mạng tháng tám, đã có không ít tác phẩm viết về những con người không may rơi vào tay giặc, trong nhà lao, trước cái chết vẫn hiên ngang, bất khuất. Thật thú vị là trước cách mạng tháng tám, nhà văn Nguyễn Tuân cũng đã xây dựng thành công một hình tượng tuyệt vời về con người khí phách, tài hoa, trong nhà tù chờ ngày lãnh án chém- ông Huấn Cao, nhân vật chính của tác phẩm “Chữ người tử tù”.
    ĐỐI LẬP: Nêu ý kiến trái ngược với ý trong đề bài.
    Vd: Đối với giai cấp thống trị, Cao Bá Quát là quân phản nghịch, quân giặc cỏ, nhưng đối với nhân dân, ông là con người khí phách, tài hoa. Từ nguyên mẫu ấy, nhà văn Nguyễn Tuân đã xây dựng nhân vật Huấn Cao, một hình tượng đẹp trong tác phẩm “Chữ người tử tù”.
    HỖN HỢP: Phối hợp đối lập, diễn dịch.
    Vd: Kháng chiến chống xâm lược bao giờ cũng là sự nghiệp của toàn dân. Nhưng tìm trong chính sử hoặc văn chương thành văn của quá khứ chỉ thấy gương mặt của vua quan tướng tá, ít thấy bóng dáng người dân thường. Phải đến thời đại chúng ta, hình ảnh người dân thường mới được thể hiện phong phú trong văn chương nghệ thuật. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ nhiều nhà thơ đã dựng được những đài kỉ niệm ghi lại chiến công và lòng yêu nước của những con người gọi là vô danh ấy. Bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của Nguyễn Khoa Điềm là một trong những đài kỉ niệm đó.
    II. KẾT BÀI:
    Kết thúc quá trình bàn bạc đặt ra trong bài văn.
    1. Nguyên tắc kết bài:
    - Thể hiện đúng quan điểm đã trình bài ở phần thân bài.
    - Chỉ nêu ý khái quát, thiên về tổng kết, đánh giá vấn đề.
    2. Cách kết bài: nhiều cách.


    Đề bài: Bình giảng bài thơ “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh trong tập thơ “Nhật kí trong tù”
    a) TÓM LƯỢC: Khẳng định lại quan điểm đã trình bài bằng cách tóm lược những luận điểm lớn.
    Vd: Mặc dù được sáng tác cách đây nửa thế kỉ bằng thể thơ tứ tuyệt cổ điển, “Ngắm trăng” vẫn làm rung động chúng ta. Bài thơ là sự kết hợp hài hòa giữa chất thép và chất tình, giữa người chiến sĩ với người nghệ sĩ trong một con người. Đó không chỉ là một sự sáng tạo nghệ thuật đáng trân trọng mà còn là một bài học
     
     
     
    Gửi ý kiến
    print