Chào mừng quý vị đến với Thư viện Giáo án điện tử.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

SGV HÓA HỌC 11 - Chương 2

(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đoàn Hoàng Gia
Ngày gửi: 21h:14' 15-10-2008
Dung lượng: 763.5 KB
Số lượt tải: 1387
Số lượt thích: 0 người
Chương 2
Nitơ – photpho
A. Mở đầu
Mục tiêu của chương
1. Kiến thức
Học sinh hiểu : Vị trí trong bảng tuần hoàn, cấu tạo nguyên tử, phân tử, tính chất vật lí (trạng thái, màu, mùi, tỉ khối, tính tan), tính chất hoá học, ứng dụng chính, trạng thái tự nhiên, điều chế các nguyên tố nitơ, photpho và các hợp chất quan trọng của chúng.
2. Kĩ năng
– Tiếp tục rèn kĩ năng viết các phương trình hoá học dưới dạng phân tử và ion rút gọn minh hoạ cho tính chất hoá học của nitơ–photpho và các hợp chất của chúng.
– Rèn khả năng dự đoán tính chất hoá học cơ bản của nitơ–photpho và hợp chất của chúng dựa vào cấu tạo nguyên tử, phân tử của chúng.
– Tiếp tục rèn kĩ năng làm thí nghiệm với lượng nhỏ hoá chất thông qua thực hiện các thí nghiệm đơn giản, dễ làm để nghiên cứu tính chất của nitơ–photpho và hợp chất của chúng.
– Giải các bài toán hoá học liên quan tới kiến thức về nitơ, photpho và các hợp chất của nó.
Một số điểm cần lưu ý
1. Kiến thức
– Khác với việc nghiên cứu nhóm halogen và nhóm oxi–lưu huỳnh ở lớp 10, trước khi nghiên cứu chương nitơ–photpho, học sinh đã được cung cấp thêm lí thuyết về phản ứng hoá học và sự điện li, do đó cho phép học sinh nghiên cứu nội dung kiến thức của chương một cách đầy đủ và toàn diện hơn.
– Đối với các đơn chất : Ngoài tính phi kim, cần xem xét dưới lí thuyết phản ứng oxi hoá–khử xem chúng có tính oxi hoá, tính khử không.
– Đối với các hợp chất : Chú ý tới sự điện li trong dung dịch nước để xét tính chất hoá học của chúng (tính axit–bazơ), và tính oxi hoá–khử dựa vào số oxi hoá, độ âm điện...
– Nitơ và photpho là 2 nguyên tố phổ biến và rất quan trọng, ngoài việc cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản cần gắn liền những kiến thức đó với thực tế sản xuất.

2. Phương pháp
– Đối với bài nghiên cứu đơn chất, hợp chất : Học sinh đã có kiến thức tương đối đầy đủ về cơ sở lí thuyết cấu tạo nguyên tử, độ âm điện... nên việc nghiên cứu cần được tiến hành theo trình tự sau :


+ Khi nghiên cứu tính chất vật lí : Cho học sinh nghiên cứu SGK kết hợp với việc quan sát mẫu vật, hình ảnh... để rút ra kết luận.
+ Khi nghiên cứu tính chất hoá học : Các thí nghiệm được sử dụng để chứng minh cho những dự đoán hoặc được dùng để nghiên cứu rút ra những những tính chất mới sau đó dựa vào cấu tạo phân tử để giải thích (thường dùng phương pháp nêu vấn đề).
+ Về sản xuất, điều chế và ứng dụng : Học sinh rút ra kết luận thông qua việc nghiên cứu SGK và các kênh thông tin khác.
– Đối với bài luyện tập cuối chương, có nhiệm vụ cơ bản là : ôn tập hệ thống hoá kiến thức đã học và vận dụng để giải bài tập. Với lượng kiến thức lớn như vậy, để đảm bảo được mục tiêu bài dạy
 
Gửi ý kiến
print