Thư mục

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Giáo án điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Giáo Án Quốc Phòng 10 ( Đủ )


    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Sưu tầm
    Người gửi: Trần Việt Hùng
    Ngày gửi: 11h:57' 15-07-2008
    Dung lượng: 363.0 KB
    Số lượt tải: 70
    Số lượt thích: 0 người
    Bài soàn số 1,2,3
    Việt Nam đánh giặc giữ nước
    A. Mục đích, yêu cầu.
    - Học sinh nắm và hiểu được truyền thống đánh giặc giữ nước của Cha ông ta, tài thao lược đánh giặc giữ nước của Dân tộc Việt nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc VNXHCN.
    - Giáo dục ý thức trách nhiệm của mỗi công dân đối với nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, luôn đề cao cảnh giác trước các âm mưu phá hoại của địch, sãn sàng tham gia lực lượng vũ trang.
    B. Nội dung:
    I. Lịch sử đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam.
    1. Những cuộc chiến tranh giữ nước đầu tiên.
    - Cuộc chiến tranh giữ nước đầu tiên của dân tộc Việt nam là cuộc chiến tranh chống quân Tần vào hoòi thế kỷ thứ III trước công nguyên ( đọc thêm tài liệu để giảng).
    - Cuộc chiến tranh thứ 2 vào hồi thế kye thứ II trước công nguyên, An Dương Vương xây thành Cổ Loa, chống Triệu Đà. Do mất cảch giác An Dương Vương đã để đất nước rơi vào tay giặc và nước ta phải qua hơn 10 thế kỷ nằm dưới ách đo hộ của phong kiến Trung Hoa.
    2. Cuộc chiến tranh giành độc lập ( thế kỷ I – X).
    Dưới ách đô hộ của bọn phong kiến phương bắc chúng luôn tìm mọi cách vơ vét của cải áp bức đồng hoá dân ta. Nhân ta đã không chịu khuất phục đã nêu cao tinh thần bất khuất kiên cường quyết tâm đứng lên đấu tranh giành độc lập, tự do. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa: Bà Trưng, Bà Triệu, Lí Bí, Triệu quang Phục, Mai Thúc loan, Phùng Hưng … đến năm 906 nhân dân ta đã giành được tự do, tiếp sau đó là các cuộc chiến tranh chống quân Nam Hán dưới sự lãnh đạo của Dương Đình nghệ năm 931 và Ngô Quyền với chiến thắng Bạch Đằng năm 938.
    3. Các cuộc chiến tranh giữ nước ( từ thế kỷ X – XIX ).
    - Sau khi chiến thắng Ngô Quyền bắt tay vào xây dựng đất nước từ thế kỷ thứ X – XV Quốc gia thống nhất ngày càng được củng cố Kinh đô Thăng Long là một quốc gia thình vượngở châu á, đó là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của đất nước.
    - Trong giai đoạn này nhân dân ta vẫn phải đứng lên chống quân xâm lược: Vào thế kỷ XI triều Lý thắng lợi vẻ vang trong cuộc chiến tranh chống quân Tống năm 1075 – 1077, sang thế kỷ XIII dân tộc ta chiến thắng Quân Mông – Nguyên.
    - Đầu thế kỷ thứ XV nước ta bị Quân Minh xâm lược, sau 10 năm kiên trì đấu tranh nhân dân ta đã giành thắng lợi oanh liệt kết thúc bằng trận Chi Lăng – Xương Giang nổi tiếng năm 1427.
    - Cuối Thế kỷ thứ XVIII Quân Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Huệ đã lập nên chiến thắng Rạch Gầm – Xoài mút đánh tan 5 vận quân Xiêm. Năm 1789 Quang Trung – Nguyễn Huệ dánh tan 29 vạn Quân xâm lược Mãn Thanh Lịch sử Việt nam ghi thêm một chiến công bất diệt bằng chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa.
    -Trong các cuộc chiến tranh từ thế kỷ thứ X – XIX nhân dân ta dưới sự chỉ đạo của các vị tướng tài giỏi, biết sử dụng toàn dân đánh giặc, biết dựa vào địa hình địa thế, phát huy nét đặc sắc về nghệ thuật quân sự của cha ông ta là không đợi giặc đến mà chủ động đánh trước làm phá vỡ kê hoạch của định.
    VD: Lý thường Kiệt “ Lấy đoản binh thắng trường trận”.
    Trần quốc Tuấn lấy yếu chống mạnh, ít đánh nhiều đánh bất ngờ dùng quân mai phục để đánh giặc vv…
    4. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc lật đổ chế độ thuộc địa nửa phong kiến Thế kỷ XIX đến năm 1945).
    - Tháng 9 năm 1858 pháp nổ súng tiến công vào Đà nẵng mở đầu cuọc chiến tranh xâm lược nước ta, Triều nguyên từng bước đầu hàng năm 1884 hoàn toàn công nhận quyền đo hộ của Pháp vào nước ta. Không chịu khuất phục trước kẻ thù nhân ta đã liên tiếp mở ra các cuộc khởi nghĩa VD: Trương Công Dịnh, Nguyễn trung Trực vv…Nhưng không có đường lối phù hợp nên đệu bị thất bại.
    - Năm 1930 Đảng Cộng sản Đông Dương đội tiên phong của giai cấp công nhân do Lãnh tụ Nguyễn ái Quốc sang lập đánh dấu bước ngoạt vĩ đại của lịch sử Việt Nam. Dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, CM VN trải qua các cao trào như Xô Viết – Nghệ Tĩnh, Dân chủ đòi tự do vv… Với đỉnh cao là CM tháng 8 năm 1945 lập ra nước VNDCCH.


    Tiết 2

    5. Cuộc kháng chiến chống Pháp ( 1945 – 1954).
    Ngày 23-09 – 1945 được quân Anh giúp sức, Pháp không chịu từ bỏ dã tâm cai trị nước ta lần thứ 2. Dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân Nam Bộ anh dững đứng lên chiến đấu.
    - Ngày 19-12-1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Cả dân tộc hưởng ứng lời kêu gọi chủa vị cha già Dân tộc đã nhất tề đứng lên đoàn kết chặt chẽ, quyết chiến đấu đến cùng vì độc lập tự do thống nhất đất nước.
    - Từ năm 1945 – 1954 Quan và dân ta đã lập nhiều chiến công làm thất bại cuộc hành binh lớn của pháp. Tiêu biêu là chiến thắng việt Bắc thu đông năm 1947, Biên giới năm 1950, Tây bắc năm 1952, và cuối cùng là chiến cuộc Đông Xuân năm 1953 – 1954 với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ. đánh bại chiến tranh xâm lược của pháp.
    6. Cuộc kháng chiến chống Mĩ ( 1954 – 1975).
    Đế quốc Mĩ phá hoại hiệp định Giơnevơ, hất cẳng pháp chiếm miền Nam Việt Nam, Biến Miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của đế quố Mĩ.
    - Nhân dân Miền Nam lại một lần nữa đứng lên chống giặc Mĩ cứu nước. Từ năm 1960 Phong trào đổng khởi bủng nổ lan rộng , Mặt trận giải phóng Miền Nam được thành lập . Năm 1961-1965 đã đánh bại “ chiến tranh đặc biệt của Mĩ”.
    - Từ 1965 – 1968 Mĩ tiến hành “chiến tranh cục bộ” Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ “ không có gì quý hơn độc lập tự do” Quân và dân ta liên tiếp thắng trận, đòn tân công tết mầu thân năm 1968 làm phá sản “chiến tranh cục bộ “
    - đê cứu vãn Mĩ thực hiện “ Việt Nam hoá chiến tranh” mở rộng sang Lào và Cămpuchia Quân và dân 3 nước đông dương đãđánh bại cuộc hành quân của Mĩ ở đường 9 Nam Lào. Năm 1972 đã đập tan cuộc tập máy bay B52 của Mĩ vào Hà nội và Hải phòng buộc mĩ phải kí hiệp định Pari đại thắng mùa xuân 1975 là định cao của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử chấm dứt ách đô hộ của chủ nghĩa đế quốc ở Việt Nam.
    7. Chiến tranh bảo vệ biên giới sau năm 1975.
    - Vừa toát khỏi chiến tranh đất nước ta bắt tay vào xây dựng đất nước. Những các thế lực thù địch chống Việt Namđã lại gây chiến tranh xâm lược ở biên giới tây Nam và biên giới phía Bắc và đã đánh bại cuộc chiến tranh biên giới bảo vệ chọn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc VNXHCN.
    II. Truyền thống vẻ vang của dân tộc ta trong sự nghiệp đánh giực giữ nước.
    1. Dựng nước đi đôi với giữ nước.
    - Nước ta ở vào một vị tríchiến lược trọng yếu trong vùng Đông Nam á có nhiều tài nguyên phong phú nên các nước lớn nhăm nhe đánh chiếm để vơ vét của cải vì vậy dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại và phát triển của Dân tộc ta.
    2. Lấy nhỏ chống lớn, Lấy ít địch nhiều.
    - Trong lịch sử những cuộc chiến tranh giữ nước của dân tộc ta diễn ra trong hoàn cảnh lực lượng héet sức chênh lệch, kẻ thù thường lớn mạnh hơn ta nhiều lần , có tiền lực kinh tế, quân sự hùng mạnh. Ngược lại tiềm lực quân sự, kinh tế của ta thấp kém và thường xuyên bị chiến tranh tàn phá nặng nề.
    VD: Chiến tranh chống quân tống nhà Lý coa 10 vạn quân địch có 30 vạn. Thế kỉ XIII Nhà Trần có 20 – 30 Vạn, quân Nguyên – Mông có 50-60 vạn, Quang Trung – Nguyễn Huệ có 10 vạn, giặc Thanh có 29 vạn, Giặc pháp, Mĩ kinh tế, quận sự vô cùng lớn mạnh. Song băng tinh thần chiến đấu, sự đoàn kết chặt chẽ, biết lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, biết phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc chúng ta đã giành thắng lợi.

    Tiết 3
    3. Lòng yêu nước nồng nan, tinh thần chiến đấu hi sinh và độc lập tự do.
    Chủ tịch Hồ chí Minh đã nêu “ Dân ta có lòng yêu nước nồng nàn. Đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ Quốc bị xâm lăng, thì tinh thân đó lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, nó nhấn chìm tất cả bọn bán nước và lũ cướp nước” .
    Trong lịch sử Việt Nam đánh giực giữ nước của dân tộc ta có biết bao anh hùng lệt sí, có biết bao chiến sĩ hy sinh vì độc lập dân tộc. Như Thánh Gióng biểu tượng của lòng yêu nước, Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Quốc Toản, Bế Văn Đàn, Tô Vĩnh Diện, Phan định Giót vv…đó là biểu tượng sáng ngời về lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam.
    4. Cả nước chung sức đánh giặc, tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện.
    Trong lịch sử Việt nam đánh giặc giữ nước để chiến thắng giặc ngoại xâm hùng mạnh, Nhân dân Việt Nam phải đoàn kết cả dân tộc thành một khối Đoàn kết tạo thành nguồn sức mạnh lớn lao của dân tộc.
    5. Thắng Giặc bằng trí thông minh sáng tạo, bằng nghệ thuật quân sự đọc đáo.
    - Dân tộc Việt Nam chiến đấu và chiến thắng giặc ngoại xâm không chỉ bằng tinh thần dũng cảm hi sinh vì tổ quốc, mà còn bằng trí thông minh sáng tao, bằng một nghệ thuật quân sự độc đáo.
    + Lấy nhỏ chống lớn ấy ít thắng nhiều, lấy chất lượng thắng số lượng, biết chế các loại vũ khí chống giặc, cướp súng đánh lại kẻ thù.
    + Nghệ thuật quân sự việt nam là nghệ thuật Quân Sự của chiến tranh nhân dân, nghệ thuật quận sự toàn dân đánh giặc.
    6. Đoàn kết quốc tế.
    - Trong lịch sử dựng nước và giữ nước nước ta luôn có sự đoàn kết giữa
     
     
     
    Gửi ý kiến
    print