Thư mục

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Giáo án điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Ngữ pháp tiéng việt


    (Bài giảng chưa được thẩm định)
    Nguồn: sưu tầm
    Người gửi: Nguyễn Văn Chung (trang riêng)
    Ngày gửi: 11h:26' 28-06-2008
    Dung lượng: 344.0 KB
    Số lượt tải: 227
    Số lượt thích: 0 người

    
    
    NGỮ PHÁP VĂN BẢN
      HỌC TRÌNH I . 
    MẤY VẤN ÐỀ CHUNG  
     
    KHÁI QUÁT VỀ NGÔN NGỮ HỌC VĂN BẢN VÀ NGỮ PHÁP HỌC VĂN BẢN  
    Sự hình thành ngôn ngữ học văn bản và ngữ pháp học văn bản  
    Ðối tượng và nhiệm vụ của ngôn ngữ học văn bản và ngữ pháp học văn bản  
    VĂN BẢN VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN BẢN  
    Khái niệm văn bản
    Đặc trưng của văn bản
    Các loại văn bản
    HỆ THỐNG ÐƠN VỊ NGỮ PHÁP VĂN BẢN  
    Các quan niệm khác nhau về đơn vị ngữ pháp văn bản  
    Hệ thống đơn vị và kết cấu văn bản
       
    
     
                Học trình I gồm 3 vấn đề:
                I.   Khái quát về ngôn ngữ học văn bản và ngữ pháp học văn bản
                II.  Văn bản và đặc trưng của văn bản
                III. Hệ thống đơn vị ngữ pháp văn bản
     
    I.  KHÁI QUÁT VỀ NGÔN NGỮ HỌC VĂN BẢN VÀ NGỮ PHÁP HỌC VĂN BẢN  
                Ðại mục I gồm  2  mục:
                1.  Sự hình thành ngôn ngữ học văn bản và ngữ pháp học văn bản
    2.  Ðối tượng và nhiệm vụ của ngôn ngữ học văn bản và ngữ pháp học văn bản
     
        1.      Sự hình thành ngôn ngữ học văn bản và ngữ pháp học văn bản
     
    1.1 Lí do ra đời của ngôn ngữ học văn bản và ngữ pháp học văn bản
               
    Loài người đã nghiên cứu ngôn ngữ từ rất sớm nhưng đến nay, nhiều vấn đề căn bản của ngôn ngữ học vẫn chưa đạt được sự nhất trí triệt để. Việc giải đáp khác nhau về hai câu hỏi: ngôn ngữ là gì, ngôn ngữ học nghiên cứu cái gì và phạm vi nghiên cứu tới đâu đã khiến ngôn ngữ học truyền thống có những khiếm khuyết nhất định. Những khiếm khuyết đó là cơ sở cho sự ra đời của ngôn ngữ học văn bản và ngữ pháp học văn bản.
     
    a. Khiếm khuyết trong quan niệm về ngôn ngữ và ngôn ngữ học
     
                Ai cũng hiểu ngôn ngữ học là khoa học nghiên cứu ngôn ngữ. Nhưng ngôn ngữ là gì? Có thể thấy, ở ta ngôn ngữ là một từ nhiều nghĩa. Nó có thể được hiểu là tiếng nói của một tộc người, hoặc là đặc trưng phong cách lời nói của một cá nhân, hoặc là công cụ chủ yếu mà con người dùng để giao tiếp xã hội bất kể là tiếng nói của tộc người nào và cũng có thể được hiểu là một hệ thống bất kì (âm thanh, mùi vị, màu sắc, động tác cơ thể...) được con người hoặc động vật dùng để giao tiếp với nhau. Liệu ngôn ngữ học có nghiên cứu ngôn ngữ với tất cả các nghĩa ấy không?
               
                Ðầu thế kỉ XX, Ferdinand de Saussure (1857-1913) là người đầu tiên phát biểu một quan niệm rõ ràng về ngôn ngữ trong ngôn ngữ học. Theo ông, các tộc người đều có hoạt động ngôn ngữ (langage). Trong hoạt động ấy có một bộ phận cốt yếu gọi là ngôn ngữ (langue). Ðó  là một hợp thể gồm những quy ước tất yếu được tập thể xã hội chấp nhận, để các cá nhân vận dụng chung trong nói năng. Những quy ước tất yếu ấy là những thực thể tồn tại trong bộ óc của một cộng đồng ngôn ngữ. Ðó là một kho tàng được thực tiễn nói năng của những người thuộc cùng một cộng đồng ngôn ngữ lưu lại, là một hệ thống tín hiệu, một hệ thống ngữ pháp tồn tại dưới dạng thức tiềm năng trong mỗi bộ óc, hay, nói cho đúng hơn, trong các bộ óc của một tập thể  (1)
     
                Ông phân biệt rõ hai khái niệm ngôn ngữ và lời nói. Lời nói là biểu hiện trong thực tế của ngôn ngữ, là ngôn ngữ đang ở dạng hoạt động. Lời nói là sản phẩm của từng cá nhân, tất nhiên có những giá trị riêng nhưng đồng thời lại chứa đựng những giá trị chung vì đã sử dụng những tín hiệu và những quy ước có tính xã hội, được cả xã hội chấp nhận.
     
                Ông cũng chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa hai khái niệm này: Hoạt   động ngôn ngữ có một mặt cá nhân và một mặt xã hội và không thể quan niệm mặt này mà thiếu mặt kia được (...), hai đối tượng này gắn bó khăng khít với nhau và giả định lẫn nhau (2). Ngôn ngữ là mặt trừu tượng và lời nói là mặt cụ thể của hoạt động ngôn ngữ, của chỉnh thể ngôn ngữ dân tộc.
     
                Về đối tượng của ngôn ngữ học và ngữ pháp học, theo Saussure, Có thể    tạm thời giữ danh từ ngôn ngữ học cho cả hai ngành học và nói đến một ngành ngôn    ngữ học của lời nói. Nhưng không nên lẫn lộn nó với cái thật sự là ngôn ngữ học mà đối tượng duy nhất là ngôn ngữ (3).
     
    Cách hiểu của Saussure là rạch ròi, chính xác. Học thuyết của ông đã tạo tiền đề lí luận cho nhiều trường phái ngôn ngữ học của thế giới nửa đầu thế kỉ XX và được coi là đã tạo ra một cuộc cách mạng trong ngôn ngữ học. Tuy nhiên, những mâu thuẫn mà Sausure chưa vượt qua cũng đã để lại những khiếm khuyết rõ ràng. Trước hết, người đời sau dễ phạm lỗi đánh tráo khái niệm: từ ngôn ngữ trong ngôn ngữ học khi thì được hiểu chỉ là mặt trừu tượng tức là hệ thống các đơn vị ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp được dùng làm công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người, là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là một hệ thống kí hiệu đặc biệt, có quan hệ biện chứng với tư duy, tồn tại ở thế tiềm năng trong trí óc của một tập thể; khi thì được hiểu là thực thể bao gồm mặt ngôn ngữ (theo nghĩa trên) và cả mặt biểu hiện trong thực tế của nó - lời nói. Hệ quả là, trong các sách ngôn ngữ học, đơn vị từ, khi thì được coi là đơn vị ngôn ngữ lớn nhất, là đơn vị nhỏ nhất để đặt câu, khi thì được coi là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất; còn câu, khi thì được coi là đơn vị ngôn ngữ,  khi thì được coi là đơn vị của lời nói (1)
     
    Khiếm khuyết thứ hai là việc nghiên cứu lời nói thực chất đã bị gạt ra ngoài lĩnh vực ngôn ngữ học. Ngữ pháp học, một bộ phận quan trọng của ngôn ngữ học, được hiểu là có nhiệm vụ nghiên cứu các quy tắc biến hình từ, cấu tạo từ và quy tắc kết hợp các từ để tạo nên câu nói. Theo quan niệm này, từ là đơn vị lớn nhất của hệ thống ngôn ngữ. Trong hệ thống ngôn ngữ, không còn đơn vị nào cũng có hình thức ngữ âm và ý nghĩa cụ thể mà lại lớn hơn từ (...) (2). Câu do các từ ngữ cấu tạo nên, là kết cấu các đơn vị ngôn ngữ đồng thời cũng là đơn vị của lời nói, của ngôn từ, của văn bản (...) câu thuộc một bình diện khác hẳn với bình diện của các đơn vị ngôn ngữ  (...) câu... cũng như các đơn vị của lời nói lớn hơn câu, không thuộc vào hệ thống các đơn vị ngôn ngữ . Nó là một đại lượng toàn vẹn mà các nhà ngôn ngữ học có thể dựa vào để nghiên cứu mọi điều về ngôn ngữ; giữa các câu trong lời nói có thể có nhiều mối quan hệ nhưng không thể có quan hệ ngữ pháp nào hết (3). Cách lập luận có tính "cưa đứt đục suốt" như trên chưa giải đáp được triệt để thắc mắc đại loại: tại sao lời nói - ngôn ngữ ở dạng hoạt động - lại không phải là ngôn ngữ, tại sao ngôn ngữ ở dạng hoạt động lại không thể là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học? Tại sao các quy tắc kết hợp các câu, các kết cấu trên câu để tạo nên văn bản cũng được cả xã hội chấp nhận lại không phải là các quy tắc ngữ pháp? Phải chăng cần xem xét lại quan niệm coi lời nói như một bộ phận bên lề, bên ngoài của ngôn ngữ học trong khi đã khẳng định mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói là khắng khít với nhau và giả định lẫn nhau, là không thể quan niệm mặt này mà thiếu mặt kia được? Phải chăng cần có một quan niệm "động" về thuật ngữ ngôn ngữ, để từ đó, có thể coi các đơn vị ngôn ngữ không chỉ gồm hình vị, từ mà còn bao gồm câu, các đơn vị trên câu và ngữ pháp không chỉ là hệ thống các quy tắc biến hình từ, cấu tạo từ, kết hợp từ để tạo nên câu mà còn là các quy tắc kết hợp các câu để tạo nên các đơn vị trên câu, các quy tắc kết hợp các đơn vị trên câu để tạo nên văn bản? Có thể nói các quy tắc kết hợp các câu, các đơn vị trên câu chính là sự phản ánh các quy luật tư duy vào lĩnh vực ngôn ngữ, chính là một trong những biểu hiện của mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ và tư duy.
     
                b. Khiếm khuyết trong thực tế nghiên cứu ngôn ngữ 
     
    Aristote (384-322 trước công nguyên) đã sáng lập logic học và cùng với nó là ngữ pháp học logic, thứ ngữ pháp còn ảnh hưởng sâu đậm trong nhà trường cho đến ngày nay. Xét mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, ông đã chỉ ra: cái diễn đạt khái niệm là từ ngữ, cái diễn đạt phán đoán là câu và cái diễn đạt các suy luận, các chứng minh là nhiều câu. Suy luận diễn dịch trực tiếp có thể được diễn đạt trong một, hai câu, suy luận diễn dịch gián tiếp thông thường phải từ ba câu trở lên v.v... Nói cách khác, dường như cái gọi là nhiều câu này chỉ có quan hệ với nhau về mặt tư tưởng và logic. Nhiều câu ấy không phải là một chỉnh thể ngôn ngữ mà chỉ là sự lắp ghép các câu và câu đã mặc nhiên được coi là cấu tạo ngôn ngữ lớn nhất.
     
    Ở Ấn Ðộ, khoảng bốn, năm trăm năm trước công nguyên, Panini đã cho ra đời bộ Ngữ pháp tiếng Sanskrit gồm 8 tập, mỗi tập 8 chương, với tổng cộng 3996 quy tắc ngữ âm, ngữ pháp đảm bảo việc đọc hiểu một cách quy phạm bộ Kinh Vê Ða đồ sộ. Tuy nhiên, Panini không coi bộ Kinh là một đơn vị ngôn ngữ. Ðó là một tác phẩm, một tổng đại thành gồm nhiều tập, nhiều chương và rất nhiều câu.  
     
    Người Trung Hoa cổ có một lối nghiên cứu ngôn ngữ riêng. Họ đã sớm lập ra huấn hỗ học, tự thư học và âm vận học để nghiên cứu sâu sắc nghĩa chữ, hình chữ và cách phát âm các chữ trong kho tàng chữ của người Trung Quốc. Câu và các kết hợp câu là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học khác.
     
    Cho đến cuối những năm 50 của thế kỉ này, ngôn ngữ học truyền thống đã tự giới hạn sự nghiên cứu ngôn ngữ ở cấp độ câu. Vì những gì ở trên câu, ngoài câu đã thuộc về lời nói cá nhân.
     
                Theo Antoine Meillet (1866-1949), câu là một tập hợp cấu âm gắn bó với nhau bằng quan hệ ngữ pháp và tự bản thân nó được xem là đầy đủ vì không phụ thuộc vào một tập hợp nào khác về mặt ngữ pháp. Theo Leonard Bloomfield (1887-1949), mỗi câu là một hình thức ngôn ngữ độc lập, được phân biệt nhờ sự chuyển âm hoặc ngữ điệu. Câu là một kết cấu trong phát ngôn (ngôn từ, ngôn bản, văn bản) đang xét không phải là một bộ phận của kết cấu lớn hơn nào. Theo Emile Benveniste (1902-1976), câu là đơn vị cơ bản của lời nói, của ngôn từ, của văn bản. (Dẫn theo Cao Xuân Hạo, Sđd)
     
    Ở Việt Nam, theo Ngữ pháp tiếng Việt, của Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam, Câu là đơn vị dùng từ hay đúng hơn dùng ngữ mà cấu tạo nên trong quá trình tư duy thông báo; nó có nghĩa hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ pháp và có tính chất độc lập (1)
     
                Nhìn chung, ngữ pháp học truyền thống quan niệm câu là kết cấu các đơn vị ngôn ngữ, là đơn vị tư duy, thông báo có kết cấu nội bộ, có tính chất độc lập
     
     
     
    Gửi ý kiến
    print