Thư mục

Dành cho Quảng cáo

  • ViOLET trên Facebook
  • Học thế nào
  • Sách điện tử Classbook
  • Xa lộ tin tức

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Giáo án điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Sang kien kinh nghiem Lop 5

    (Bài giảng chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Đỗ Thị Lệ Dung
    Ngày gửi: 21h:27' 15-05-2008
    Dung lượng: 226.0 KB
    Số lượt tải: 6617
    Số lượt thích: 0 người

    PHẦN I. MỞ ĐẦU
    I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
    Hình học là nội dung cơ bản, chủ yếu của chương trình môn Toán ở Tiểu học, nó được rải đều tất cả các khối lớp và được nâng cao dần về mức độ. Từ nhận diện hình ở lớp 1, 2 sang đến tính chu vi, diện tích ở các lớp 3, 4, 5. Nói chung, hình học là môn học tương đối khó trong chương trình môn Toán vì nó đòi hỏi người học khả năng tư duy trừu tượng, những em có học lực khá và giỏi sẽ rất thích học môn này, ngược lại những em có khả năng tư duy chậm hơn thì rất ngại học dẫn đến tình trạng học sinh yếu kém môn toán chiếm tỉ lệ khá cao so với các môn học khác.
    Trước thực trạng đó, nhiệm vụ đặt ra cho ngành giáo dục, cho mỗi giáo viên đứng lớp là làm thế nào nâng cao chất lượng học sinh, tránh để học sinh ngồi nhầm lớp nhất là trong giai đoạn hiện nay cả ngành giáo dục đang ra sức thực hiện “Hai không với bốn nội dung” của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Việc tìm hiểu về mức đội kiến thức hình học ở Tiểu học và biết được người ta đưa vào những nội dung nhằm mục đích gì từ đó mà để ra phương pháp dạy học cho phù hợp với từng đối tượng học sinh thì hiệu quả giảng dạy sẽ cao hơn.
    Trong chương trình Toán 5 việc dạy nội dung hình học cho học sinh không khó, bên cạnh những thành công là giúp học sinh nắm được cách nhận diện hình, tìm diện tích, chu vi, thể tích thì cũng còn những hạn chế là các em chưa nắm rõ bản chất của đơn vị kiến thức, kết quả là chưa đáp ứng được yêu cầu của thực hành. Làm thế nào để các em có thể sử dụng kiến thức cơ bản một cách linh hoạt ở từng trường hợp cụ thể. Đó cũng là trăn trở của bản thân khi dạy cho học sinh kiến thức về nội dung hình học.
    Đặt cho mình nhiệm vụ tháo gỡ những khó khăn trên, bản thân đã nhiều năm được phân công dạy lớp 5, năm học này lại được giao nhiệm vụ chủ nhiệm lớp 5A, là lớp có tới 64.5% học sinh yếu môn toán (theo kết quả khảo sát đầu năm), trong quá trình giảng dạy tôi rút ra một vài kinh nghiệm trong việc giúp học sinh yếu kém học các bài có nội dung hình học. Vì vậy tôi chọn đề tài: “Dạy kiến thức hình tam giác, hình thang cho học sinh yếu Lớp 5”.
    II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
    Nhằm nâng cao chất lượng học sinh yếu kém.
    Giúp học sinh hình thành ky năng, sử dụng thành thạo và vận dụng một cách linh hoạt các công thức trong giải toán.
    III. ĐỐI TƯỢNG - PHẠM VI NGHIÊN CỨU
    Tìm hiểu nội dung, phương pháp dạy bài hình tam giác,hinh thang.
    Nghiên cứu cách hình thành kiến thức mới và vận dụng vào từng bài cụ thể.
    Tiến hành thực nghiệm.
    IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
    Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
    Xây dựng cơ sở thực tiễn cho đề tài
    Tìm hiểu nội dung, phương pháp để hình thành, khắc sâu và vận dụng công thức
    Thực nghiệm sư phạm
    PHẦN 2: NỘI DUNG
    CƠ SỞ LÍ LUẬN
    1.Cơ sở toán học
    a. Hình tam giác
    - Tam giác có 3 cạnh, 3 góc, 3 đỉnh; có 1 đáy, 2 cạnh bên và 1 đường cao tương ứng.
    3 góc: góc A, góc B, góc C
    3 đỉnh: đỉnh A, đỉnh B, đỉnh C
    3 cạnh: cạnh AB, cạnh AC, cạnh BC
    Đáy BC, đường cao AH vuông góc với BC
    - Có 3 dạng hinh tam giác:
    
    
    + Tam giác có 3 góc nhọn: Từ một đỉnh bất kì, ta có thể kẻ một đường cao tương ứng xuống đáy (cạnh đối diện). Cả 3 đường cao này đều nằm trong tam giác.
      
    + Tam giác có một tù và hai góc nhọn: từ một đỉnh bất kì ta kẻ được đường cao tương ứng với đáy: có hai đường cao ngoài tam giác.
    
    + Tam giác có 1 góc vuông và hai góc nhọn (Tam giác vuông)
    Do 2 cạnh góc vuông vuông góc với nhau nên chúng đều có thể làm đường cao
    
    Hai tam giác nếu có chung đường cao (đường cao bằng nhau) và đáy bằng nhau (chung đáy) thì chúng có diện tích bằng nhau.
    Công thức tính diện tích:
    
    Trong đó: S: Diện tích
    a: Độ dài đáy
    h: Chiều cao
    b. Hình thang
    - Có 2 cạnh đáy đối diện AB, CD song song với nhau
    - Có 2 cạnh bên AD, BC.
    - AH đường cao
    - Nếu từ 1 điểm bất kỳ ở đáy bé ta hạ vuông góc xuống đáy lớn thì ta có đường cao của hình thang
    - Nếu cạnh bên AD vuông góc với 2 đáy AB và CD thì hình thang này là hình thang vuông, AD là đường cao.
    
    
    
    Công thức tính diện tích:
    
    Trong đó:
    S: Diện tích
    a, b: Độ dài 2 đáy
    h: chiều cao
    2. Giáo dục môn Toán
    Trong dạy học Toán ở tiểu học đặc biệt là dạy các bài toán có nội dung hình học thì phương pháp trực quan luôn được sử dụng. Ở 2 bài dạy hình tam giác và hình thang thì giáo viên và học sinh đều thao tác trên đồ dùng ngoài ra cần dùng hỗ trợ thêm phương pháp thực hành luyện tập, phương pháp vấn đáp gợi mở, phương pháp giảng giải minh hoạ.
    KẾT QUẢ ĐIỀU TRA VÀ KHẢO SÁT THỰC TIỄN
    Về sách giáo khoa
    Hình tam giác: dạy 4 tiết từ tiết 85 đến tiết 88.
    Tiết 85: Hình tam giác
    Tiết 86: Diện tích hình tam giác
    Tiết 87+88: Luyện tập thực hành
    Hình thang: Dạy 4 tiết từ tiết 90 đến tiết 93
    Tiết 90: Hình thang
    Tiết 91: Diện tích hình thang
    Tiết 92+93: Thực hành luyện tập
    Ngoài 2 tiết 85 và 90 là giới thiệu về hình, các tiết còn lại chủ yếu học sinh vận dụng công thức để tính diện tích của một hình sau khi đã cho các số liệu cụ thể.
    Về học sinh
    Đặc điểm của học sinh Tiểu học là hiểu và ghi nhớ máy móc nên trước 1 bài bất kỳ các em thường đặt bút tính luôn nhiều khi dẫn đến những sai sót không đáng có do các em chưa chú ý đến các số đo của đáy, đường cao, … hoặc mối liên hệ giữa các yếu tố trong công thức tính.
    Trí nhớ của học sinh chưa bền vững chỉ dừng lại ở phát triển tư duy cụ thể còn tư duy trừu tượng, khái quát kém phát triển (nhất là ở học sinh yếu kém) nên khi gặp những bài cần có sự tư duy logic như tính chiều cao hay độ dài đáy thì các em không làm được do không có công thức tính.
    So với mặt bằng toàn huyện thì chất lượng học sinh trường Tiểu học Quảng Văn chưa cao so với một số trường khác, số học sinh cả khối ít nên dù có chia lớp theo trình độ học sinh vẫn chưa triệt để gây ra những khó khăn nhất định khi bồi dưỡng học sinh yếu.
    Đặc điểm của trẻ ở Tiểu học là chóng nhớ nhưng nhanh quên. Sau khi học bài mới, cho các em luyện tập ngay thì các em làm được bài nhưng chỉ sau một thời gian ngắn kiểm tra lại thì hầu như các em đã quên hoàn toàn, đặc biệt là những tiết ôn tập, luyện tập cuối năm.
    Cụ thể: Sau khi các em học xong bài Diện tích hình tam giác, cho các em làm bài trong sách giáo khoa (làm đề kiểm tra luôn)
    Đề kiểm tra
    Bài 1: Tính diện tích hình tam giác có:
    a, Độ dài đáy là 8 cm, chiều cao là 6 cm
    b, Độ dài đáy là 2,3 dm, chiều cao là 1,2 dm
    c, Độ dài đáy là 5 m, chiều cao là 24 dm
    Bài 2 : Hãy vẽ các đường cao tương ứng với các đáy được vẽ trong mỗi hình tam giác dưới đây :
    
    Biểu điểm chấm :
    Bài 1: 6 điểm (mỗi câu 2 điểm)
    Bài 2: 4 điểm. Ở tam giác 1: 1 điểm
    Ở tam giác 2: 2 điểm
    Ở tam giác 3: 1 điểm
    Thống kê kết quả chấm bài của học sinh tại lớp như sau :
    Điểm
    Bài 1
    Bài 2
    
    
    Câu a
    Câu b
    Câu c
    Câu a
    Câu b
    Câu c
    
    Điểm 0
    Điểm 1
    Điểm 2
    
    
    
    
    
    
    
    Nhìn vào bảng thống kê ta thấy đa số các em vận dụng công thức và lý thuyết đã học mà giáo viên hướng dẫn như sách giáo khoa nên đã làm được câu a, câu b của bài 1 và câu a bài 2, còn câu c bài 1, câu b, câu c bài 2 các em còn ít đúng và còn nhiều em chưa tìm được các làm.

    Về giáo viên
    Quyết định chất lượng dạy học phụ thuộc nhiều vào giáo viên. Do cấu trúc các bài này trong sách giáo khoa ở những tiết học đầu mới chỉ là giới thiệu và hình thành công thức để học sinh nắm được và giải toán nên trong qúa trình lên lớp giáo viên cũng chỉ có thể giúp học sinh giải quyết những bài tập trong sách chứ chưa có sự đào sâu, mở rộng. Đối với đối tượng học sinh yếu kém thì lại càng khó khăn hơn trong việc vận dụng công thức để xác định những yếu tố trong công thức đó.
    Ví dụ : Hình tam giác: Hình thành và vận dụng công thức để tính diện tích chứ chưa yêu cầu tính độ dài đáy hay đường cao.
    GIẢI PHÁP
    Phân tích nội dung, phương pháp dạy 2 loại hình
    Hình tam giác
    + Bài giới thiệu về hình tam giác (Tiết 85)
    Cho học sinh quan sát hình và chỉ ra 3 cạnh, 3 góc, 3 đỉnh sau đó giới thiệu cho học sinh 3 loại hình tam giác, từ đây học sinh nhận diện hình để xác định đâu là tam giác có 3 góc nhọn, đâu là tam giác có 1 góc tù và 2 góc nhọn, đâu là tam giác vuông có 1 góc vuông, 2 góc nhọn ( ở bài tập 1 trang 86.)
    Cho học sinh nhận biết đáy và đường cao tương ứng bằng cách quan sát và dưới sự hướng dẫn của giáo viên học sinh đọc tên được các đường cao ứng với đáy (ở bài tập 2 trang 86.)
    + Bài diện tích hình tam giác (tiết 86)
    Dạy bài này bằng cách cắt ghép 2 tam giác bằng nhau, giáo viên thao tác trên đồ dùng cho học sinh quan sát và cho học sinh làm theo, sau đó mới hình thành công thức và nhận xét :
    Hình chữ nhật ABCD có chiều dài bằng
    
    
    độ dài đáy DC của tam giác EDC, có chiều rộng bằng chiều cao EH của tam giác EDC.
    Diện tích hình chữ nhật gấp 2 lần diện tích hình tam giác
    Diện tích hình chữ nhật ABCD là CD x AD = DC x EH
    Vậy diện tích tam giác EDC là 
    Từ đây mà phát biểu quy tắc và hình thành công thức : 
    Trong đó S Là diện tích, a là độ dài đáy, h là chiều cao.
    Từ đây, các em sẽ vận dụng công thức để làm bài tập tính diện tích tam giác biết độ dài đáy a và chiều cao h ở tiết 86,87,88.
    Hình thang
    + Bài giới thiệu về hình thang (tiết 90)
    Cho học sinh quan sát và chỉ ra hình thang ABCD có :
    Cạnh đáy AB, CD ; 2 cạnh bên AD, BC.
    Hai cạnh đáy song song
    Giới thiệu đường cao AH và độ dài AH là chiều cao.
    Học sinh vận dụng khái niệm: Hình thang có 1 cặp cạnh đối diện song song để nhận diện hình ở bài 1 (trang 91) vẽ hình thang ở bài 2 (trang 92) và nắm khái niệm hình thang vuông ở bài 3.
    + Bài diện tích hình thang (tiết 91)
    Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát và thao tác trên đồ dùng để thấy cắt ghép hình thang trở thành hình tam giác. Vì vậy diện tích hình thang ABCD bằng diện tích tam giác ADK.
    Từ đó mà xây dựng công thức và phát biểu quy tắc :
    
    Trong đó: S là diện tích
    a,b là độ dài các cạnh đáy
    h là chiều cao
    Cuối cùng học sinh vận dụng công thức để tính diện tích hình khi biết độ dài hai đáy và chiều cao ở tiết 91+92+93.
    Giải pháp
    Ở trường tiểu học hiện nay có thuận lợi là học sinh đã được học 2 buổi/ngày, chương trình dạy buổi sáng nếu chưa hết có thể chuyển
    No_avatar

      Xin chao co!

     Hien em dang di day va hoc Cu nhan Tieu hoc. Em muon thao khao tai lieu de lam bai luan van ve de tai " Phuong phap giang day ve cac dai luong sach giao khoa toan lop 5". Mong co huong dan em nen tham khao tai lieu nao va tim o dau.

     Rat mong hoi am cua co.

     

     

    No_avatar

    Sáng kiến của bạn khá sau sac

    Tuy nhien phan mo dau con don gian

     

    No_avatar

        Sáng kiến kinh nghiệm của bạn có nội dung và phương pháp rất hay nhưng phần kết luận bạn chưa nêu rõ được ích lợi và khả năng vận dụng của đề tài.

    No_avatarf
    thank bai sang kien kinh của  cô nhé!
    No_avatar
    Bai viet kha hay dat chat luong . Xin cam on tac gia!
    3766544
    Xin cảm ơn bài viết cô Dung rất hữu ít.
    No_avatar

    Xin chào cô!

    em tên là Võ Vân Anh

    em muốn tham khảo với cô mấy bài toán về mấy bài về hình học  

    Mong cô hướng dẫn em nhé!Rất mong cô giúp đỡ ạ!Xin cảm ơn cô ạ !

     
     
     
    Gửi ý kiến
    print