Chào mừng quý vị đến với Thư viện Giáo án điện tử.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

Ph­uong phap Ban tay nan bot

(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Vũ
Ngày gửi: 22h:08' 24-10-2012
Dung lượng: 267.5 KB
Số lượt tải: 392
Số lượt thích: 0 người
VỀ DỰ LỚP TẬP HUẤN

KINH CHAO QUY THAY CO GIAO
2

PHƯƠNG PHÁP
“Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn TNXH và khoa học ở tiểu học

TẬP HUẤN
Ba Tơ, tháng 9 năm 2012
I. Thế nào là phương pháp “Bàn tay nặn bột”?

3
Phương pháp “Bàn tay nặn bột”là phương pháp dạy học khoa học dựa trên cơ sở của sự tìm tòi – nghiên cứu, áp dụng cho việc dạy học các môn khoa học tự nhiên.Thực hiện phương pháp BTNB, dưới sự giúp đỡ của giáo viên, chính học sinh tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiến thức cho mình.
Phương pháp “Bàn tay nặn bột”là phương pháp dạy học khoa học dựa trên cơ sở của sự tìm tòi – nghiên cứu, áp dụng cho việc dạy học các môn khoa học tự nhiên.Thực hiện phương pháp BTNB, dưới sự giúp đỡ của giáo viên, chính học sinh tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiến thức cho mình.

Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là phương pháp
dạy học khoa học dựa trên cơ sở của sự tìm tòi –
nghiên cứu, áp dụng cho việc dạy học các môn
khoa học tự nhiên. Thực hiện phương pháp BTNB,
dưới sự giúp đỡ của giáo viên, chính HS tìm ra câu
trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống
thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên
cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành
kiến thức cho mình.
4
II. Mục tiêu của PP “BTNB”
Phương pháp BTNB là tạo nên tính tò mò,
ham muốn khám phá và say mê khoa học của
học sinh. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức
khoa học, phương pháp bàn tay nặn bột còn
chú ý đến rèn luyện kĩ năng diễn đạt thông
qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh.
III. Một số PP tiến hành thực nghiệm tìm tòi -
nghiên cứu
PP quan sát: * quan sát là
- Tìm câu trả lời cho câu hỏi đặt ra;
- Nhận thức bằng tất cả các giác quan
- Tổ chức sự nghiên cứu một cách chặt chẽ và có PP
- Xác lập các mối quan hệ bằng cách so sánh với các mô hình, những hiểu biết và các đối tượng khác.
* Quan sát giúp HS phát triển các khả năng:
- Chặt chẽ trong nhìn nhận;
- Tò mò trước một sự vật hiện tượng trong thế giới
xung quanh; - Khách quan; - Tinh thần phê bình; - nhận
biết; - So sánh; - Chọn lọc những điểm chủ yếu, quan trọng và đặc trưng của sự vật hiện tượng.







Một số PP tiến hành thực nghiệm tìm tòi -
nghiên cứu


2. PP thí nghiệm trực tiếp: (PP TNTT)
- Đây là PP được khuyến khích thực hiện trong bước tiến hành thí nghiệm tìm tòi, nghiên cứu theo PP “BTNB”.
- PP TNTT được thực hiện đối với các kiến thức cần làm thí nghiệm để chứng minh. Các thí nghiệm do chính HS thực hiện. GV tuyệt đối không được thực hiện thí nghiệm biểu diễn như đối với các PP dạy học khác.
- Thí nghiệm trong PP “BTNB” được thực hiện để kiểm chứng một giả thuyết đặt ra chứ không phải là để khẳng định lại một kiến thức. VD: để kiểm tra giả thuyết: “Có phải không khí cần cho sự cháy không?” HS làm thí nghiệm úp cốc thuỷ tinh lên ngọn nến đang cháy để kiểm chứng.


Một số PP tiến hành thực nghiệm tìm tòi -
nghiên cứu


3. PP làm mô hình:
PP làm mô hình thường được tiến hành theo nhóm vì HS cần thảo luận với nhau để làm mô hình hợp lí.
Mô hình đối với HS tiểu học chỉ nên thực hiện đơn giản nhằm làm rõ một kiến thức nhất định.
Để tiết kiệm thời gian GV có thể chuẩn bị trước một mô hình đúng để trình bày cho HS so sánh trong trường hợp không có nhóm nào làm đúng. Trong trường hợp này GV cần giấu mô hình không cho HS nhìn thấy trước khi đưa ra trưng bày.




Một số PP tiến hành thực nghiệm tìm tòi -
nghiên cứu

4. PP nghiên cứu tài liệu: Khi cho HS tiến hành PP này, GV giúp HS xác định được:
Động cơ đọc tài liệu: tìm hiểu tổng quát, tìm hiểu chuyên sâu, tìm một định nghĩa, …
Vấn đề nào cần quan tâm.
Những thắc mắc đang cần tìm câu trả lời.
Kiểu thông tin nào đang cần có.
Vị trí cần đọc, nghiên cứu trong tài liệu.

CÁC NGUYÊN TẮC CỦA BÀN TAY NẶN BỘT
TIẾN TRÌNH BÀI GIẢNG
1. Quan sát
Vật thật
Hiện tượng
Thực tại
Gần gũi
Cảm nhận được
2. Học
Lập luận
Đưa ra lí lẽ
Thảo luận
Xây dựng kiến thức cho mình
Các ý kiến
Kết quả đề xuất
Một hoạt động thí nghiệm chỉ dựa trên sách vở …và kết luận : ĐỦ hay KHÔNG ĐỦ ?
CÁC NGUYÊN TẮC CỦA BÀN TAY NẶN BỘT
3. Các hoạt động đề ra
Tổ chức theo các giờ học
Tạo ra tiến bộ dần dần cho hs
Gắn với chương trình
Dành phần lớn quyền tự chủ cho hs
4. Thời gian cho
một đề tài
Tối thiểu 2 giờ/tuần
Có thể kéo dài trong nhiều tuần
Tính liên tục của hoạt động
Phương pháp sư phạm đảm bảo
trong suốt quá trình học tập
CÁC NGUYÊN TẮC CỦA BÀN TAY NẶN BỘT
V. Các bước tiến trình dạy học
Theo PP “Bàn tay nặn bột”

Các bước của tiến trình dạy học đưa ra dưới đây dành
cho các GV với mục đích trang bị cho họ các tiêu chuẩn
để áp dụng phương pháp BTNB vào dạy học các môn
khoa học. Đó là một định hướng hành động chứ không
phải là định nghĩa một phương pháp khoa học hay một
tiến trình cứng nhắc đi từ vấn đề đến khám phá và cuối
cùng là cấu trúc kiến thức. Việc vận dụng tiến trình đó
theo một phương pháp tích cực, sáng tạo và linh hoạt
giữa các bước, tùy theo chủ đề nghiên cứu là điều cực
kì cần thiết. Nói cách khác, mỗi bước được xác định
như là yếu tố cần thiết để đảm bảo rằng quá trình khám
phá của học sinh được thông suốt về mặt tư duy.
Bước 1: Tình huống xuất phát
và câu hỏi nêu vấn đề
Tình huống xuất phát hay tình huống nêu vấn đề là một tình huống do giáo viên chủ động đưa ra như là một cách hấp dẫn nhập vào bài học.
Tình huống xuất phát phải ngắn gọn, gần gũi dễ hiểu đối với HS; nhằm lồng ghép câu hỏi nêu vấn đề.
Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học; cần đảm bảo yêu cầu phù hợp với trình độ, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của HS nhằm chuẩn bị tâm thế cho HS trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức.
GV dùng câu hỏi mở, tuyệt đối không được dùng câu hỏi đóng (trả lời có hoặc không) đối với câu hỏi nêu vấn đề.

Bước 2: Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh

Làm bộc lộ quan niệm ban đầu hay biểu tượng ban đầu
để từ đó hình thành các câu hỏi hay giả thuyết của HS là
bước quan trọng đặc trưng của PPBTNB. Trong bước này,
GV khuyến khích HS nêu những suy nghĩ, nhận thức ban
đầu của mình về sự vật hiện tượng mới (kiến thức mới)
trước khi học được kiến thức đó. Khi yêu cầu HS trình bày
quan niệm ban đầu, GV có thể yêu cầu bằng nhiều hình
thức biểu hiện của HS như có thể là bằng lời nói (thông
qua phát biểu cá nhân), bằng cách viết hay vẽ để biểu hiện
suy nghĩ.


Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm
Đề xuất câu hỏi: Từ những khác biệt và phong phú về
biểu tượng ban đầu của HS, GV giúp HS đề xuất câu hỏi từ
những khác biệt đó. Chú ý xoáy sâu vào những sự khác
biệt liên quan đến kiến thức trọng tâm của bài học.
Đây là một bước khá khó khăn vì GV cần phải chọn lựa
các biểu tượng ban đầu tiêu biểu trong hàng chục biểu
tượng của HS một cách nhanh chóng theo mục đích dạy
học, đồng thời linh hoạt điều khiển thảo luận của HS nhằm
giúp HS đề xuất câu hỏi từ những khác biệt đó theo ý đồ dạy học
Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm
Sau khi chọn lọc các biểu tượng ban đầu của HS để
ghi chép (đối với mô tả bằng lời) hoặc gắn hình vẽ lên
bảng hoặc vẽ nhanh lên bảng (đối với hình vẽ), GV cần
khéo léo gợi ý cho HS so sánh các điểm giống (đồng
thuận giữa các ý kiến) hoặc khác nhau (không nhất trí
giữa các ý kiến) các biểu tượng ban đầu. Từ những sự
khác nhau cơ bản đó GV giúp HS đề xuất các câu hỏi.
Sau khi giúp HS so sánh và gợi ý để HS phân nhóm
các ý kiến ban đầu, GV hướng dẫn HS đặt các câu hỏi
nghi vấn.

Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm
* Đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu:
Từ các câu hỏi được đề xuất, GV nêu câu hỏi cho HS đề
nghị các em đề xuất thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu để tìm
câu trả lời cho các câu hỏi đó. Các câu hỏi có thể là: “Theo
các em làm thế nào để chúng ta tìm câu trả lời cho các
câu hỏi nói trên?”; “Bây giờ các em hãy suy nghĩ để tìm
phương án giải quyết các câu hỏi mà lớp mình đặt ra?”…
Sau khi HS đề xuất phương án thực nghiệm tìm tòi-nghiên
cứu, GV nêu nhận xét chung và quyết định tiến hành PP
thí nghiệm đã chuẩn bị sẵn.
Lưu ý rằng phương án thực nghiệm tìm tòi-nghiên cứu
ở đây được hiểu là các phương án để tìm ra câu trả lời.
Có nhiều PP như quan sát, TH thí nghiệm, nghiên cứu tài liệu, …


Bước 4: Tiến hành thực nghiệm
tìm tòi – nghiên cứu

Từ các phương án thực nghiệm tìm tòi-nghiên cứu mà HS nêu ra, GV khéo léo nhận xét và lựa chọn dụng cụ thí nghiệm thích hợp để HS tiến hành nghiên cứu.
Khi tiến hành thí nghiệm, GV nêu rõ yêu cầu và mục đích thí nghiệm hoặc yêu cầu HS cho biết mục đích của TN chuẩn bị tiến hành. Sau đó GV phát cho HS các dụng cụ và vật liệu T.nghiệm tương ứng với các hoạt động.
Mỗi thí nghiệm được thực hiện xong, GV nên dừng lại để HS rút ra kết luận. GV lưu ý HS nghi chép vật liệu thí nghiệm, cách bố trí và thực hiện thí nghiệm (mô tả bằng lời hay vẽ sơ đồ), ghi chú lại kết quả thực hiện t. nghiệm, kết luận sau thí nghiệm vào vở thực hành.
Bước 4: Tiến hành thực nghiệm
tìm tòi – nghiên cứu
GV chú ý yêu cầu HS thực hiện độc lập các thí nghiệm (theo cá nhân hoặc nhóm) để tránh việc HS nhìn và làm theo cách của nhau, thụ động trong suy nghĩ và cũng tiện lợi cho GV phát hiện các nhóm hay các cá nhân xuất sắc trong thực hiện thí nghiệm
* Lưu ý: Trong quá trình HS vẽ hình và thực hiện thí nghiệm, nếu sách giáo khoa có hình vẽ tương ứng thì không cho HS mở sách để tránh việc các em không quan sát mà chỉ sao chép lại hình vẽ trong sách ra vở thí nghiệm.

Bước 5: Kết luận và
hợp thức hoá kiến thức

Sau khi khi thực hiện thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu, các câu trả lời dần dần dược giải quyết, các giả thuyết được kiểm chứng, kiến thức được hình thành, tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưa chuẩn xác một cách khoa học.

GV có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để HS ghi vào vở coi như là kiến thức của bài học. Trước khi kết luận chung, GV nên yêu cầu một vài ý kiến của HS cho kết luận sau khi thực nghiệm.

Bước 5: Kết luận và
hợp thức hoá kiến thức

GV khắc sâu kiến thức cho HS bằng cách cho HS nhìn lại, đối chiếu lại các ý kiến ban đầu (bước 2). Như vậy từ những quan niệm ban đầu sai lệch, sau quá trình thực nghiệm
tìm tòi-nghiên cứu, chính HS tự phát hiện ra mình sai hay đúng mà không phải do GV nhận xét một cách áp đặt. Chính HS tự phát hiện những sai lệch trong nhận thức và tự sửa chữa, thay đổi một cách chủ động. Những thay đổi này sẽ giúp HS ghi nhớ một cách lâu hơn, khắc sâu kiến thức.

VI. Các kĩ thuật dạy học và rèn luyện kĩ năng cho HS trong PP “Bàn tay nặn bột”
1. Tổ chức lớp học:
2. Giúp HS bộc lộ quan niệm ban đầu:
3. Kĩ thuật tổ chức hoạt động thảo luận cho HS:
4. Kĩ thuật tổ chức hoạt động nhóm:
5. Kĩ thuật đặt câu hỏi của GV:
6. Rèn luyện ngôn ngữ cho HS
7. Kĩ thuật chọn ý tưởng, nhóm ý tưởng của HS:
8. Hướng dẫn HS đề xuất thí nghiệm tìm tòi- nghiên cứu hay phương án tìm câu trả lời:





VI. Các kĩ thuật dạy học và rèn luyện kĩ năng cho HS trong PP “Bàn tay nặn bột”
9. Hướng dẫn HS sử dụng vở thực hành:
10. Hướng dẫn HS phân tích thông tin, hiện tượng quan sát được khi nghiên cứu để đưa ra kết luận:
11. So sánh, đối chiếu kết quả thu nhận được với kiến thức khoa học:
12. Đánh giá HS trong dạy học:






VII. Những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng PP “BTNB” ở nước ta.
1. Thuận lợi
2. Khó khăn:
a/ Về điều kiện, cơ sở vật chất:
b/ Về đội ngũ giáo viên:
c/ Về công tác quản lí

PHIẾU HỌC TẬP DÀNH CHO CÁ NHÂN (nhóm)
theo phương pháp Bàn tay nặn bột
Vở thí nghiệm ghi nhận tiến trình thực nghiệm bằng ngôn ngữ riêng
TÓM LẠI
PP “BTNB” chú trọng việc giúp cho HS bộc lộ quan niệm ban đầu để tạo ra các mâu thuẫn nhận thức làm cơ sở đề xuất các câu hỏi và giả thuyết. Hoạt động tìm tòi-nghiên cứu trong PP BTNB rất đa dạng, trong đó các phương án thí nghiệm nếu được tiến hành thì chủ yếu là các phương án được đề xuất bởi chính HS. Đặc biệt trong PP BTNB, HS bắt buộc phải có mỗi em một quyển vở thực hành do chính các em ghi chép theo cách thức và ngôn ngữ của chính các em.
Thông qua các hoạt động như vậy, PP BTNB nhằm đạt được mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần của HS các khái niệm khoa học và kĩ thuật được thực hành, kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ viết và nói.
Bài 44 – Khoa học lớp 5 “Sử dụng năng lượng gió và năng lượng nước chảy”
Thí nghiệm theo nhóm
Bài 44 – Khoa học lớp 5 “Sử dụng năng lượng gió và năng lượng nước chảy”
Thí nghiệm theo nhóm
Bài 44 – Khoa học lớp 5 “Sử dụng năng lượng gió và năng lượng nước chảy”
Thí nghiệm theo nhóm
Khẳng định:
Chuyển động quay này là do dòng nước tạo ra, có thể làm chạy máy phát điện để sản sinh ra điện tiêu dùng hàng ngày. Đó là cấu trúc vận hành của nhà máy thủy điện.
Soạn bài: Thực vật cần gì để sống?
B1. Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề

B2. Bộc lộ quan điểm ban đầu của HS

B3. Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án
thực nghiệm

B4. Tiến hành thực nghiệm tìm tòi-nghiên cứu

B5. Kết luận và hợp thức hoá kiến thức
LÀM THẾ NÀO ĐỂ BIẾT CÓ KHÔNG KHÍ?
B1. Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề

B2. Bộc lộ quan điểm ban đầu của HS

B3. Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án
thực nghiệm

B4. Tiến hành thực nghiệm tìm tòi-nghiên cứu

B5. Kết luận và hợp thức hoá kiến thức
 
Gửi ý kiến

↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓

print