Thư mục

Dành cho Quảng cáo

  • ViOLET trên Facebook
  • Học thế nào
  • Sách điện tử Classbook
  • Xa lộ tin tức

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Giáo án điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    chương VII.hình thành kích thước cho trẻ mầm non

    (Bài giảng chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Trần Thị Huyền Trân
    Ngày gửi: 14h:21' 23-03-2011
    Dung lượng: 102.0 KB
    Số lượt tải: 294
    Số lượt thích: 0 người

    CHƯƠNG VII: PHƯƠNG PHÁP HÌNH THÀNH CÁC BIỂU TƯỢNG VỀ KÍCH THƯỚC

    Đặc điểm phát triển những biểu tượng kích thước ở trẻ lứa tuổi mầm non
    Ngay từ nhỏ ở trẻ đã diễn ra sự tích lũy những kinh nghiệm tri giác và xác định kích thước các vật thể. Những kinh nghiệm này dần dần được tích lũy trong quá trình trẻ thao tác với đồ vật, đồ chơi có kích thước khác nhau.
    Khi lên một tuổi sụ tri giác của trẻ dần dần trở nên ổn định, trẻ càng lớn thì tính ổn định của sự tri giác kích thước cang trở nên bền vững.
    Lên hai tuổi, tuy chưa nắm được ngôn ngữ tích cực nhưng trẻ đã có những phản ứng trước kích thước khác nhau của các vật và cả mối liên hệ kích thước giữa chúng. Dấu hiệu kích thước thường được trẻ lĩnh hội gắn liền với vật cụ thể, quen thuộc với trẻ và đối với trẻ đó là dấu hiệu mang tính tuyệt đối. Ví dụ: trẻ luôn cho rằng chiếc ô tô của mình là to còn ô tô của bạn là nhỏ mà không cần tới sự so sánh độ lớn giữa chúng.
    Trẻ 3-4 tuổi rất khó khăn để nắm được tính tương đối của khái niệm kích thước. Ví dụ: đặt trước mặt trẻ 3-4 tuổi vật giống nhau nhưng có độ lớn tăng dần, trẻ thường thực hiện rất đúng nhiệm vụ chỉ vật to nhất và vật nhỏ nhất. Tuy nhiên khi cô cất vật to nhất đi rồi lại yêu cầu trẻ chỉ vật to nhất trong những số vật còn lại, thì trẻ trả lời “cô cất vật to nhất rồi”. Hơn nữa trẻ thường không biết lựa chọn các vật có kích thước tương ứng với nhau. Ví dụ: trẻ cố xỏ chân mình vào một chiếc tất chân của búp bê, hoặc đội mũ của mẹ, xỏ dép của chị.
    Sự tri giác kích thước ở trẻ ba tuổi còn thiếu tính phân định, trẻ thường chỉ định hướng tới độ lớn chung của vật mà không có sự phân tách từng chiều đo kích thước của vật. Vì vậy khi yêu cầu trẻ mang ghế cao nhất cho cô trẻ thường mang ghế to nhất. Tuy nhiên trẻ ba tuổi lại phân biệt đúng người lớn và trẻ em từ xa và thường thực hiện đúng nhiệm vụ được giao, như: mang quả bóng to hay mang cái gậy dài.
    Trong ngôn ngữ thụ động của trẻ đã có những từ phản ánh sự phân biệt các chiều đo kích thước khác nhau. Điều này chứng tỏ ở trẻ đã hình thành những biểu tượng kích thước và sự tri giác kích thước của trẻ nhỏ ngày càng ổn định
    Ở lứa tuổi này, trẻ có khả năng phân biệt kích thước của hai vật có độ chênh lệch lớn
    Lên bốn tuổi, trẻ em đã biết lựa chọn các vật theo chiều dài, chiều cao, chiều rộng của chúng một cách đúng hơn nếu sự khác biệt giữa các chiều đo đó là rõ rệt. Ví dụ: trẻ dễ dàng xác định chiều cao của các vật khi chiều đo đó dài hơn các chiều đo khác, nhưng trẻ khó nhận cao của các vật thấp. Trẻ em thường phân biệt đúng các chiều đo cụ thể của vật khi trực tiếp so sánh sự khác biệt về chiều dài, chiều rộng hay chiều cao của hai hay ba vật. Phần lớn trẻ mắc lỗi khi so sánh chiều rộng của các vật, nhầm lẫn giữa chiều rộng và chiều dài.
    Khi xác định từng chiều đo của vật, trẻ thường dùng đầu ngón tay sờ dọc theo chiều dài, chiều rộng của vật. Các thao tác khảo sát này đóng vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ tri giác kích thước và phân tích các chiều đo của vật một cách chính xác hơn.
    Trong sự tri giác kích thước và diễn đạt các dấu hiệu khác nhau của kích thước vật thể, lời nói đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên sự tri giác thiếu phân định các chiều đo kích thước của vật ở trẻ nhỏ lại ảnh hưởng lớn tới sự diễn đạt kích thước bằng lời.
    Trẻ 3-4 tuổi thường sử dụng các từ to – nhỏ, to hơn – nhỏ hơn. Phần lớn trẻ 4 tuổi không hiểu ý nghĩa của từ kích thước, nên khi hỏi trẻ về kích thước của vật nhiều trẻ trả lời màu sắc, số lượng của chúng. Vì vậy khi cho trẻ làm quen với các chiều đo kích thước khác nhau, giáo viên cần chú ý sử dụng lời nói cách chính xác, mạch lạc như: “Hãy tìm cái nơ có chiều dài như thế này”, “Giơ băng giấy rộng như băng giấy của cô”, tránh tình trạng giao nhiệm vụ cách chung chung. Việc sử dụng một cách tùy tiện lời nói của giáo viên là tiền đề cho trẻ nhỏ học cách diễn đạt thiếu chính xác.
    Trẻ 4-5 tuổi:
    Trẻ đã có khả năng phân biệt được kích thước hai chiều dài của vật. Ví dụ:trẻ biết phân biệt chiều dài và chiều rộng của mặt bàn hình chữ nhật.
    Trẻ đã có thể nắm được ý nghĩa của danh từ “kích thước
     
     
     
    Gửi ý kiến
    print